Truyện ngắn: Đứa trẻ – Salvatore Scibona

Salvatore Scibona (1975-) là nhà văn người Mỹ. Ông được biết đến qua các tiểu luận, truyện ngắn cùng hai tiểu thuyết The end (2008) và The volunteer (2019). Hiện ông là giám đốc quỹ Sue Ann và John Weinberg của trung tâm Cullman tại thư viện New York Public cho các học giả và cây viết.   

Salvatore Scibona (Grafilu - newyorker.com)
Tranh: Grafilu – newyorker.com

‘Đứa trẻ’ (The kid) là truyện ngắn của Salvatore Scibona được đăng trong tuyển tập 20 under 40 (2010) của tạp chí The New Yorker. 


Đứa trẻ

 

Thằng bé mặc cái áo khoác parka đen, đội mũ trượt tuyết nhìn khá hợp, quần jean, giày sneaker; trông khoảng năm tuổi; và nó đang khóc.

Nó đứng ở Cổng C3, sân bay Hamburg-Fuhlsbüttel, hai ống tay áo lủng lẳng bên hông. Nó vừa nói vừa nức nở—không gào toáng lên hay van lơn, chỉ nói chuyện với hết người tiếp viên hàng không này tới người tiếp viên hàng không khác—nhưng không ai có thể nhận ra nó đang nói thứ ngôn ngữ nào. Có vẻ như là, giông giống, tiếng Ba Lan. Thứ phương ngữ hỗn tạp của một thành phố từng chịu cảnh mười đế quốc khác nhau đã đi qua chiếm đóng trên đường chinh phục một vùng đất xa xăm nào đó.

Salvatore Scibona - The kid (Lorenzo Mattotti - newyorker.com)
Minh hoạ: Lorenzo Mattotti – newyorker.com

 

Một chuyến bay của hãng AirBaltic vừa nhả khách ở một cổng gần đó mới gần một giờ đồng hồ trước. Chuyến bay khởi hành từ Riga, có thể là thằng bé nói tiếng Latvia chăng. Nhưng khi thằng bé xuất hiện trước quầy thủ tục ở khu C3 thì chiếc máy bay đến từ Riga đã lại cất cánh khỏi phi trường và chẳng còn nhân viên nào của hãng AirBaltic có mặt ở cổng hay ở bất kì đâu khác trong khu sảnh. Thằng bé nhìn lên phía những người nhân viên phía sau quầy, diễn đạt chuyện của nó theo cách không ai hiểu nổi, trong khi hai trăm hành khách quan sát, chăm chú, chờ đợi chuyến bay Lufthansa 531 tới Amsterdam.

Rất có thể đó là tiếng Lithuania.

Không lâu sau đó thằng bé chẳng ừ hử gì nữa; nó chỉ chỉ trỏ về hướng đi Cổng C1 và C2. Nhưng người phụ trách của nửa tá nhân viên Lufthansa và các hành khách bắt đầu tìm đi khoang hút thuốc và phòng vệ sinh, còn người mà hệ thống loa sân bay réo gọi bằng tiếng Đức, thì cũng không thể tìm thấy ở bất kì đâu trong tầng dưới cùng của khu sảnh.

Je m’appelle Laurence. Comment t’appelles-tu?”

Ich heiße Elisabeth. Wie heißt du?”

Nhưng không ai có thể làm nó nói ra bất kì từ nào nghe giống một cái tên. Và vài người lớn quanh đó bắt đầu cho rằng họ gặng hỏi như thế chỉ tổ khiến thằng bé thêm căng thẳng. Cứ sau mỗi câu hỏi thì thằng bé lại ít phản ứng hơn.

Một y tá người Kazakhstan quỳ xuống bên cạnh thằng bé, vuốt tóc nó, nhưng nó vẫn cứ khóc lóc. Cái áo khoác của thằng bé chẳng vừa với nó chút nào: tay áo chẳng dài đủ tới cổ tay nó. Một chút bông lót thòi ra từ mấy chỗ rách trên mặt áo, ai đó đã cố vá lại bằng băng dính dán điện. Một nhân viên quầycủa hãng Lufthansa—người mà độ tuổi (quãng chừng sáu mươi) và kiểu tóc phồng to nổi bật có vẻ cho thấy bà ta là người chịu trách nhiệm—cố dùng tiếng Anh, tiếng Nga, và tiếng Hà Lan để moi được cái tên. Và rồi, với cô y tá Kazakhstan, dường như thằng bé biết họ đang hỏi tên nó; và, trong cơn ác mộng đang hiện hữu này, cái tên vẫn chưa được tiết lộ ấy chính là thứ duy nhất níu thằng bé vào mép bờ vực mà nó đã lỡ xảy chân. Nó cong cong một ngón tay hướng về phía vùng mê cung rộng lớn còn lại của sân bay, cứ như thể đang rà soát một sai lầm nào. Nó để cô y tá nắm bàn tay ướt đẫm của nó. Nó dẫn cô ấy cùng bà nhân viên quầy đi xuống chỗ hành lang đông người.

Một người Mỹ trẻ tuổi giới thiệu mình là là một nhân viên cấp cứu y tế hỏi, “Liệu thằng bé có muốn thở vào cái túi này không? Quieres hablar conmigo, hermano?”

Bà nhân viên quầy nhấn mạnh, “Không phải, nó là người Estländer(1).” Nhưng đó chỉ là đoán vậy thôi.

Loa nhắc đi nhắc lại lại bằng tiếng Anh, “Nhà ga số 1, một cháu nhỏ bị lạc và đã được giữ lại,” trong khi thằng bé lật đật đi theo, trông phi lý: một cơ thể được chế tạo để vận hành tự động, như thể nếu bạn tới đủ gần bạn sẽ nghe thấy tiếng tích tóc từ trong cơ thể ấy. Còn nữa, bên dưới cái mũ đội lệch, khuôn mặt nó trông đầy bất tuân, cứ liên hồi nháy mắt và sụt sịt mũi. Ngực ưỡn ra trong cái áo khoác nhỏ. Cô y tá cố cởi khoá áo cho nó. Cô nghĩ hẳn thằng bé phải thấy nóng khủng khiếp. Nhưng nó vặn người né tránh khi cô đụng vào. Không thể tin nổi là cái đầu nó lại chứa được nhiều nước đến thế; nó đã khóc lâu lắm rồi mà không uống miếng nước nào. Cô y tá và bà nhân viên quầy đưa nó vào phòng vệ sinh nữ để lấy cho nó vài tờ khăn giấy.

Khi họ trở ra, nó chẳng cho ai nắm tay nó nữa. Nó rụt tay lại khi họ cố làm vậy, và chỉ về hướng này, rồi hướng kia, cho đến khi họ bắt đầu nhận ra nó không hề tìm về lại chỗ cũ.Nó đang mò mẫm trong một mê cung. Tìm cha mẹ. Và nó không muốn ai trong hai người phụ nữ xa lạ này giúp nó hết. Nhưng nó mong rằng họ sẽ vẫn ở gần quanh đó.

 

Không lâu sau khi Elroy Heflin nhập ngũ, anh được điều về Văn phòng Hợp tác Quốc phòng tại Đại sứ quán Mỹ ở Riga, Latvia, khi nước này chuẩn bị gia nhập NATO. Những ngày ấy thật tuyệt. Cả lũ con trai đóng quân ở một khách sạn ba sao—một cung điện từ thế kỉ mười tám, gần đây được cải tạo lại theo phong cách Thuỵ Điển—đã từng được Hồng Quân sử dụng làm doanh trại trong năm mươi năm.

Sĩ quan chỉ huy của anh nói, “Tôi muốn giúp cậu có cái nhìn tổng thể. Cậu đến từ đâu ấy nhỉ, Heflin?”

“Khắp nơi ạ,” Elroy nói. “Las Cruces, Albuquerque, Radium Springs, Vado.”

“Hãy tưởng tượng cậu là một tay người Nga sinh sống ở trung tâm thành phố Albuquerque. Mấy thằng nông dân trong đồng phục Xô viết đang ăn trưa ở cửa hàng Lotaburger. Cậu là một trong số chúng. Phe của cậu đã thắng trong Chiến tranh Lạnh mà không phải nổ phát súng nào. Cậu cảm thấy sao?”

“Vô địch thiên hạ, thưa ngài.”

“Ờ đúng rồi đấy.”

Bọn con gái bạn địa ăn mặc rất đĩ. Đám tân binh không nên hiểu nhầm. Đối với bọn này, mặc như thế là có ý, hãy thử tiếp cận em coi nào. Còn với bọn con gái, ý chúng nó, đây là cách mà những người châu Âu đích thực ăn mặc, hiểu chưa? Vậy nên bỏ đi. Các cậu chỉ ở đây có tám tháng thôi. Bọn con gái Latvia muốn lập gia đình y như tất cả mọi người vậy.

Elroy nghe thấy ổn phết. Anh nhận ra anh là loại người thích kết hôn. Và trong vài tháng anh đã có một cô bạn gái nghiêm túc. Dễ như bỡn. Không như ở nhà. Anh đi uống với vài thằng bạn ở khu phố cổ, tại một quán cafe trên con phố rải sỏi chỉ đủ rộng cho một con ngựa béo đi vừa. Cô bồi bàn đã khá tử tế với anh. Cô ta muốn luyện nói tiếng Anh.

Trên giường cô hỏi anh, “Sao anh mê tai em quá vậy?”

Vị của nó hay hay. Cô đã không vệ sinh kĩ tai mình. Anh cảm thấy một chút vị của Liên bang Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Xô viết ngay trong miệng mình. Nó có vị mồ hôi, chất nhờn, và hương hoa chanh.

“Hai mươi năm trước,” anh nói, “họ có thể đã đưa anh tới đây để hãm hiếp em và đốt nhà em.”

“Đần thế,” cô nói, lật vài trang cuốn tạp chí du lịch. “Bọn em làm gì có nhà.”

Anh tỉnh dậy trong căn hộ một phòng của cô và thấy cô đang đánh giày cho anh bằng nước bọt và một cái tất cũ. Có vài lần cô đề nghị giặt quần áo cho anh, nhưng anh không chịu theo ý cô. Anh đã luôn tự giặt quần áo và tự nấu ăn, trừ lúc trong quân ngũ, từ hồi anh mười một tuổi.

Gió nồm, rồi mưa tuyết. Anh mang theo hai cái ô cho hai đứa. Họ rảo bộ qua quận Nghệ thuật Mới, cô chỉ cho anh những bức tượng mặt người quằn quại trên đường diềm mái của trường luật. Đó là một ngày Chúa nhật. Họ dự Thánh Lễ trong nhà thờ Công giáo, và vì một trò đùa khó chịu mà cả hai đều chịu Lễ, mặc dù đêm hôm trước mới tập thể dục. Anh không biết cha xứ đang nói gì, chỉ trừ, hầu hết, là anh biết. Thánh Lễ phổ biến ở khắp nơi. Anh nhìn lên những con dơi đang treo mình trên xà nhà và chuyện trò với Chúa ở đây. Anh nói muốn gặp bố mẹ cô, nhưng họ đã qua đời cả rồi.

Tên cô ấy là Evija.

Anh muốn gợi ý để cô trang điểm theo lối truyền thống hơn một chút; tuy vậy, anh tôn trọng những khác biệt văn hoá. Trước khi đợt dàn quân kết thúc, anh làm cô mang bầu. Anh muốn kết hôn, nhưng cô thì chưa. Và bằng cách nào đó, sau một chuỗi các quyết định—không có cái nào có vẻ là quyết định đúng thời điểm nhưng đều là chuyện tất yếu phải xảy ra—anh thấy anh, khi đóng quân ở phía Bắc Afghanistan, gửi một phần ba lương của mình tới một ngân hàng ở Liên Xô cũ để chu cấp cho một thằng nhóc anh chỉ gặp mỗi năm một lần. Rồi, chưa hết, Evija đang hẹn hò vớimột thằng điếm háo danh người Nga, và viết e-mail cho Elroy hỏi, cô ta có thể có số thẻ tín dụng của anh không? Cô ta muốn đưa thằng nhóc đi du thuyền tới du lịch Na Uy. Anh xin sĩ quan chỉ huy mới cho lời khuyên, xem có hợp lý không, vì nhỡ đâu có ai tấn công được tin nhắn và lấy được số thẻ tín dụng của anh thì sao?

Vị sĩ quan chỉ huy nói, “Binh nhì Heflin, một cái du-con mẹ nó-thuyền á?”

Anh e-mail cho cô ta, nói rằng anh sẽ không chi tiền cho chuyện đi du thuyền, thế là anh không nhận được tin gì từ cô ta suốt vài tháng. Để gây sức ép cho cô ta, anh dừng luôn không chuyển tiền. Thế rồi, khi đang về nhà nghỉ phép, anh nhận được e-mail nói rằng, do hoàn cảnh cuộc sống cá nhân, Evija sẽ chuyển tới Tây Ban Nha; cô ta sẽ không đưa con theo; gia đình cô ta cũng không nhận thằng bé, nên chỉ còn Elroy; vậy bao giờ anh sẽ tới đón thằng bé, Janis; và xin lỗi vì báo gấp quá, nhưng trong tháng được không?

Elroy được thăng hàm lên hạ sĩ. Anh trở nên can trường hơn, tàn nhẫn hơn. Anh đã vươn tới tận cùng của chính mình.Anh ngồi trước máy tính trong căn hộ nghỉ hưu của bố mình ở Los Alamos, ăn mận. Elroy cắn mận ngập răng và làm phọt nước ra áo. Anh chẳng để ý. Anh rớm nước mắt—vì điều gì nhỉ? Cảm thấy biết ơn ư? Anh muốn đó là những giọt nước mắt biết ơn, phải. Rồi anh cười, sảng khoái và rổn rảng. Nhìn vào màn hình, anh thốt lên, “Vỡ mặt rồi.”

 

Hai ngày sau—chưa có kế hoạch rõ ràng rằng ai sẽ trông nom thằng Janis khi Elroy quay lại đơn vị, rồi thủ tục nhập cảnh cho thằng bé vẫn chưa đâu vào đâu, lại còn thiếu đủ thứ như đệm hơi cho nó ngủ chẳng hạn—Elroy ngồi trong quán quen của anh và Evija, một tiệm café ở Stabu iela(2), chờ đợi. Anh tóc vàng, mắt nhỏ trông y như người bản địa, nên cô bồi bàn thả thực đơn xuống và bắn một tràng tiếng Latvia với anh. Anh trả lời bằng câu mà Evija đã dạy anh phát âm cho chuẩn: “Tôi nghĩ một lúc đã, nếu cô không phiền.”

Evija sẽ đến cùng thằng bé. Rồi sao? Elroy không biết.

Chỗ ngồi của anh bên cánh tiệm café giúp anh quan sát được tiền phòng bằng kính, nơi khách bước vào, và khuất khỏi những ánh mắt tò mò từ phòng ăn chính. Nếu anh cần bộc lộ cảm xúc, cứ thoải mái. Nhưng chẳng cần phô bày giữa thanh thiên bạch nhật làm gì. Anh ngồi yên, khoanh tay dưới gầm bàn, chờ đợi. Anh đã thức suốt trên máy bay và cả ở sân bay, từ New Mexico bay sang phía Đông, nên da anh ửng lên với mấy vết phát ban. Mắt anh khô đi vì không khí trên máy bay. Cảm xúc không cần phải phô bày giữa thanh thiên bạch nhật. Nhưng mà, nếu những cảm xúc ấy bùng nổ từ trong đáy lòng anh và trào lên tới tận cổ họng, thì liệu anh có trẻ con quá không nếu anh muốn một người phụ nữ ở đó với anh, đừng rời mắt khỏi anh?

Anh xem đồng hồ. Anh đã định nịnh bợ Evija bằng cách tặng hoa, nhưng anh chẳng mua chuộc nổi bất kể điều gì anh muốn từ cô ta. Trừ phi cô ta tự đề nghị, không thì thà không có còn hơn. Nhìn vào thực đơn, anh gọi một ly soda, sau khi người ta mang đồ tới, anh cúi xuống phía sau chậu cây chi sung, dấp chút nước vào tay, vảy vào mắt và sau tai. Anh ngồi dậy, trấn tĩnh, hi vọng.

Cứ mỗi lần anh đến ở cùng Evija và thằng bé, Riga lại trở nên khang trang, trù phú hơn, có nhiều xe hơi mới. Gã người Nga lánh đi khi Elroy tới. Evija nhấn mạnh rằng gã người Nga là một tay đồng tính kiểu phổ thông cần một cô gái để giữ vỏ bọc bên ngoài, và rằng cô chưa bao giờ hôn miệng gã ta.

Cô ta làm bánh kếp khoai tây cho Elroy và con, nó không ăn nổi kem chua, sốt táo, tất tật những gì trông như gia vị ăn kèm. Có những thói quen quái đản tình cờ lại hình thành nên con người chúng ta. Elroy, khi còn nhỏ, khi ngủ luôn thích đắp những cái chăn nhỏ tới mức làm ngón chân bị chuột rút. Sở thích ấy sau này giúp anh thấy thoải mái với điều kiện khắc nghiệt của huấn luyện cơ bản—nóhạ gục bạn, rồi vực bạn dậy, nhanh hơn, chặt hơn—và rồi anh nhận ra mình có tài trong việc chịu đựng đau đớn, có tài trong việc lãng quên. Thêm cả tài năng giết chóc theo bản năng.

Ba người thường dùng bữa ở ban công nhà Evija. Evija gọi đó là “chỗ của chúng ta”, bao gồm cả Elroy và thằng Janis. Cô nói tiếng Anh với thằng bé khi bố nó ở đấy, để thằng bé luyện. Nó quá nhát nói tiếng Anh, cả bố và mẹ đều đồng tình về chuyện này. Tuân theo vài nguyên tắc riêng, thằng bé chỉ nói tiếng Anh với hai người bọn họ, và mặt thì cứ đỏ bừng lên.

Ở quán café, Elroy gọi một đĩa gan gà lúc một bà già đi từ tiền phòng vào, quát lên với một con chó bị kéo theo sau thì phải, nó bị khuất sau mấy cái bàn thấp.

Người bồi bàn đang vắng mặt. Bà già nhìn xuống một tấm ảnh và ngó quanh phòng. Elroy vội cúi rạp xuống.

Mông anh vẫn ở trên ghế, nhưng hai tay chống xuống sàn, đầu cúi xuống gầm bàn. Mặt sàn gỗ bóng loáng véc-ni. Anh nghẹt thở. Hình như anh đã nhìn thấy gì đó mà chẳng biết đó là gì. Kiểu như lúc bạn rụt tay lại khỏi cái chảo nóng trước khi cảm nhận được vét bỏng. Anh đã từng bắn khoảng bốn đến bảy tên phiến quân mà chẳng hề có chút sợ hãi sâu thẳm nào nảy lên trong lòng như ngay chính lúc này.

Sau cùng, anh ép mình phải đứng dậy. Bà già chỉnh lại cái khăn choàng cũ sờn, nhìn quanh. Con chó theo sau bà ta chính là thằng Janis, đang loay hoay kéo qua thềm cửa một cái túi lăn cho trẻ con to hơn cả nó.

Elroy dùng tiếng Latvia, “Thưa bà?” và vẫy tay ra hiệu.

Evija không đến. Cô ta cử sứ giả, là mụ phù thuỷ này.

Nếu mọi chuyện tuỳ theo ý của bà già và thằng Janis, cuộc giao dịch chắc chỉ tốn mười lăm giây là cùng. Bà ta nhìn vào bức ảnh—bố con Janis và Elroy gần như chẳng mặc gì trên bãi biển ở Jurmala năm ngoái—và bảo thằng bé tới ngồi vào bàn. Nhưng thằng bé đã tới bên bố nó và trèo lên ngồi cạnh.

Thằng bé bảo bà già bằng tiếng Latvia là bà đi đi được rồi.

Nhưng Elroy muốn bà già chỉ cho anh phải làm gì. “Bà không có gì để đưa cho cháu sao?” anh hỏi.

Bà già dặn dò thằng bé, và thằng bé trả lời, “Vâng, cháu biết rồi.” Và, khi Elroy hỏi, thằng bé thầm thì giải thích rằng bà già nói nó không được quên để ý đến giấy tờ để trong túi.

Elroy nhìn bà già bỏ đi, và cảm thấy thứ gì đó ấm áp trên đùi mình. Đó là tay trái của thằng bé. Tay kia, thằng bé đang lật thực đơn, xem xét ảnh thức ăn. Elroy kêu huỷ món gan và họ rời đi mà chẳng ăn gì.

Hai người lên xe buýt tới sân bay. Anh cài dây an toàn cho Janis trên chuyến bay tới Hamburg.

Từ New Mexico Elroy đã mua một cuốn sách tô màu và một cây bút sáp. Thằng bé mân mê ngón tay quanh cây bút sáp, trong khi Elroy dạy nó ấn nhẹ tay sao cho khỏi hỏng sáp. Và chưa gì, chỉ trong một tích tắc, cây bút sáp gãy đôi trong tay thằng bé. Nó ngước lên miệng run run sợ sệt, như thể nó sắp khóc tới nơi.

 

Tới Hamburg, vừa xuống máy bay, Elroy đưa thằng bé vào khoang xí phòng vệ sinh nam và nhét tiền vào túi áo nó.

“Con không cố ý làm gãy cây bút sáp,” Janis nói. “Con xin lỗi bố.”

“Con để cái đồng hồ của bố ở đâu rồi?” Elroy lục lọi, dán lại miếng băng dính cũ mèm vá trên áo thằng bé. Elroy cần thời gian để suy nghĩ cho thông suốt. Anh cần mươi, mười lăn phút. Anh sẽ phải mua một cuốn sách dạy làm cha mẹ. Anh sẽ phải lên một danh sách đồ tạp hoá, như kiểu ngũ cốc, bảo hiểm sức khoẻ, thuốc dị ứng. Thằng bé bị dị ứng, còn căn hộ thì chỗ nào cũng dính đầy lông con chó của bố Elroy. Elroy cần một lúc yên tĩnh, không có thằng bé kè kè, để rồi anh có thể hình dung được rằng anh biết mình đang làm cái đéo gì. Anh cần một xấp giấy và một cái bút chì.

“Con để đồng hồ trong túi quần,” thằng bé trả lời. “Con xin lỗi bố.”

Elroy bảo, “Còn nói xin lỗi thêm lần nữa thì bố sẽ cho con lý do để hối hận đấy.”

Thằng bé nhìn lên, nó bị đặt ngồi lên bệ toilet mà vẫn mặc nguyên quần.

“Cứ thế và cứ khóc đi,” Elroy nói. “Mấy giờ thì bố sẽ quay lại đón con ấy nhỉ?”

Thằng Janis giơ ngón cái và ngón trỏ. Nó trả lời, “Hai ạ.”

Elroy ra khỏi khoang xí. Anh bảo thằng bé khoá cửa lại, sau đó nghe tiếng lạch xạch, và tiếng khoá sập vào. Elroy ra khỏi phòng vệ sinh nam, chú tâm giữ tốc độ vừa phải giữa đám người châu Âu ồn ào đang đi cùng phía với anh, vượt qua anh từ hai bên. Hàng lang ám mùi đồ ăn chiên xào. Anh bước đi, kéo túi của anh và thằng bé tới Ga số 2. Mấy bánh xe bị móp của cái túi nhỏ làm anh phát bực vì cứ bị kẹt vào cạnh túi. Anh kéo phần nặng sai chiều. Rồi anh cầm cái tay nắm yếu ớt không bị rút lại mà kéo nó đi. Anh mất toi năm phút chỉ để tìm một cái đồng hồ, trong khi đi xa khỏi phòng vệ sinh chỗ thằng bé đang đợi. Để mà nghĩ được, Elroy cần mua một cái bút chì. Anh tốn thêm mười phút ở Ga số 2 để tìm cửa hàng tạp hoá. Khi tìm thấy thì anh nhận ra mình, vì lý do sâu thẳm nào đó, đã bỏ hết tiền lại chỗ thằng bé. Tại sao anh lại bỏ thằng bé lại với ngần ấy tiền? Anh không biết. Và bây giờ thì người thu ngân, đáng lẽ chấp nhận tiền đô nếu Elroy có mà trả, không đồng ý để anh thanh toán món quá nhỏ ấy bằng thẻ tín dụng. Loa sân bay nói gì đó bằng tiếng Đức, nghe như Có một cái nhà trẻ ở cái cổng C nào đó. Elroy đang thực hiện kế hoạch, hiển nhiên là anh tự nghĩ ra, và anh vẫn chưa biết mục tiêu của kế hoạch là gì. Chặng bay của anh tới London sẽ bắt đầu gọi lên máy bay trong ba phút nữa. Đã gần hai giờ tới nơi rồi. Anh vòng lại phòng vệ sinh ở Ga số 1, dự định lấy một vài đồng từ chỗ thằng bé, mua một cái bút chì, mua vài tờ giấy, ngồi một tí thôi, nghĩ ngợi, lại vòng lại, đón thằng bé, và đưa nó tới cổng ra máy bay ngay khi người ta gọi lần cuối. Anh phải phác hoạ một lịch trình, như là nơi trông trẻ, lớp học giáo lý, cắt tóc. Anh đã có thể định làm gì mà lại để hết tiền lại chỗ thằng bé không biết? Loa lại nói gì đó bằng tiếng Anh, rằng ở Ga số 1 có một vụ lạc và đã được giữ lại. Cái gì đó bị lạc và đã được giữ lại.Anh dừng lại, lắng nghe.

Phát ra tiếng rung trầm liên tục, một cái thang cuốn đưa những hành khách vừa hạ cánh xuống tầng dưới.

Anh quay đầu. Trở lại phía cổng đi London, túi vẫn kéo sau. Như một con thuyền vẫn lướt đi dù mỏ neo đã hạ. Gió cuốn nó đi. Khắp xung quanh là nước. Phải mất một lúc bạn mới nhận ra mình đã bị chỉ dẫn lạc lối.

 

Janis ngồi trong một căn phòng nhỏ, một văn phòng ở đâu đó trong sân bay. Ba người Đức tốt bụng đứng quanh nó, giọng họ nhỏ nhẹ. Trên bàn có socola nóng. Thằng bé biết nó đang ở Đức, cho nên những người này dứt khoát là người Đức. Và về người Đức thì nó biết chính xác một điều, nó nghe chú bạn diễn viên của mẹ nó ở Riga nói rằng: Một thằng Đức thì trông có vẻ giống bạn tốt đấy, nhưng tốt nhất là cứ treo nó lên.

Đừng để bị đánh lửa bởi socola của họ.

Cứ thế và cứ khóc đi, bố nó đã dặn rồi. Và Janis khóc lóc thả cửa.

Mấy người Đức nói với nó mấy câu nghe như câu hỏi, lên giọng theo kiểu vừa ngọt ngào vừa hăm doạ ở cuối câu. Nghe như, “Phích phích, búp búp, ẶC ẶC ẶC?” Nó thấy tốt nhất là không trả lời. Hầu hết những chuyện buồn khổ nó từng gặp phải trong đời đều là vạ miệng.

Nước Đức ở châu Âu. Latvia, quê mẹ nó, cũng ở châu Âu. Nó có hai quê nhà: ở Riga với mẹ và ở Mỹ với bố, mặc dù Janis chưa đến Mỹ bao giờ. Nước Đức chắc loanh quanh đâu đó ở giữa. Mẹ nó đang đi nghỉ và nó cũng thế, nhưng nói “đi nghỉ” nghe không đúng lắm trong trường hợp này vì nhà của bố, điểm đến của nó, vẫn được tính là nhà nó mà.

Papa sẽ về. Tầm bữa chiều. Bất cứ lúc nào. Janis nên để dành bụng. Nó sẽ không ăn bất kì đồ gì người ta cho nó. Theo lời Papa dặn, nó đã ở trong khoang xí phòng vệ sinh cho đến khi kim giờ trên cái đồng hồ của bố chỉ số hai. Nó chờ thêm một lúc nữa. Rồi nó nhét cái đồng hồ vào túi quần và quay lại chỗ đi xuống từ máy bay. Và lại đợi. Papa không có ở đấy. Thế là Janis đã quên mất chi tiết nào trong kế hoạch rồi. Thôi không sao, giờ ăn chiều sắp đến là điều chắc chắn cả nó và bố nó đều không thay đổi được kể cả nếu như cả hai muốn. Papa sẽ về vào bữa chiều. Chuyện này thật tệ, nhưng bữa chiều sẽ làm mọi việc ổn lại thôi.

Janis muốn có cuốn sách tô màu quá. Bố nó đã lấy lại và để trong túi của bố mất rồi. Cuốn đấy không có chú thích và, riêng về điều này, rất tuyệt. Nó chưa đọc thông thạo lắm, nên không thích cảm giác nó đã đọc sót mất chuyện gì. Cuốn sách kể về một cậu bé đã cho ăn và thuần hoá một con thú hoang dã và phần thưởng là tình bạn con thú dành cho cậu. Cuốn sách cũng không có tiêu đề, nên Janis có thể tự đặt tên theo ý nó.

Nó hớp một ngụm socola nóng trong lúc mấy người Đức chuyện trò. Nó muốn nín lắm rồi, nhưng nó được phép khóc mà. Một trong những lời mà bố nó dặn là nó được phép khóc.

 

Hai giờ sau, Elroy hạ cánh ở London. Anh xuống khỏi máy bay, đi bộ khỏi khuôn viên sân bay, rồi lên xe bus đi sai chiều. Anh đã được chứng kiến một điều thú vị nữa trên thế giới-lái xe bên trái đường. Bạn sẽ không tin cho đến khi bạn nhìn tận mắt. Như những người phụ nữ anh chứng kiến đã lướt đi trên đường phố ở Kunduz, trùm kín từ đầu tới chân bằng vải xanh, che mạng ở mắt. Anh đã được cảnh báo: cụp mắt xuống. Anh không được nhìn đâu. Nhưng Kunduz có khác nào hành tinh trong phim “Chiến tranh giữa các vì sao” đâu cơ chứ. Như kiểu, Làm sao tôi làm thế được, một đứa trẻ như tôi á?

Elroy xuống xe buýt sau vài bến, lẻn vào phía sau một cụm chung cư, và ném cái túi bé xấu hoắc vào thùng rác. Sau đó anh nhận ra mình có thể quay lại đi đúng chiều đường—thấy chưa, như là mọi thứ đều lùi lại, có thể ban đầu bạn làm sai nhưng về sau bạn có thể làm đúng—và, phải rồi, một chiếc xe buýt trờ tới và đưa anh quay lại sân bay.

Sân bay Heathrow, Ga số 5. Một cấu trúc sáng sủa, hình chữ nhật bằng thép và kính nằm giữa các đường băng. Lấy vé. Kiểm tra túi. Một cái bảng hiệu ở khu vực an ninh chỉ rõ những vật bị cấm, trong số những vật dụng khác, cung nỏ, dao rựa, kìm, súng, bật lửa hình súng, cây lao, ná cao su.

Tâm trí anh lúc này khác gì một đống thịt băm bầy nhầy.

Anh bỏ đồ đạc lên băng chuyền vào khoang quét, rồi bước qua máy dò kim loại, hạ thấp vai, thở sâu. Nhưng cái máy không tha cho anh, kêu toáng lên, một người nhân viên cằm nọng đưa anh đến điểm kiểm tra thứ hai—hỏi, Anh có đeo máy tạo nhịp tim, xương hông kim loại, hay mảnh đạn nào trong đầu không?—và chỉ anh ra chỗ khoang kính chứa máy soi an ninh hàng không.

Elroy thở sâu. Có những lúc bạn đi sai đường để rồi quay lại đường đúng. Giống như có lần, trên một con phố vắng ở Kunduz, anh thấy một đống đất với đất xung quanh lộn xộn một cách có chủ đích, anh quỳ xuống và thổi, rồi anh nhìn thấy cái tấm ép, anh vội đứng dậy. Và, trước khi anh kịp hiểu ra, anh văng, “Cái địt,” rồi sút tung nó đi. Song nó không nổ. Như thể Chúa đang nói, “Ta muốn con được sống, cục cứt ạ.” Cả ngày hôm đó Elroy chẳng còn sợ gì nữa.

Từ mọi hướng, không khí trong máy soi thổi ồ ạt vào người anhtrong khi cái máy đánh hơi tìm cocaine, PCP, smack, mathamphetamine (3); tất nhiên cả TNT, C-4 và Semtex(4).

Một tia sáng xanh lục loé lên, rồi cánh cửa mở về phía trước. Một nhân viên khác đưa anh tới chỗ máy tán xạ ngược tia X. Anh đứng trước một bức tường, giơ cao tay, lòng bàn tay hướng ra ngoài, trong khi những chùm sóng bức xạ quét dọc người anh. Tại bảng điều khiển, một người phụ nữ Caribe khó đăm đăm có răng cửa bọc vàng không tìm ra được vấn đề gì với anh và để anh đi.

Trong ráng chiều mùa thu, anh ngồi trên một chiếc ghế giả da trước hàng cửa sổ nghiêng. Tuần này ánh sáng đã phai hẳn mất một sắc màu: màu vàng, chắc vậy. Ánh hoàng hôn khắp châu Âu nơi đâu chả như nhau. Điều này đưa anh trở lại một thời với đầy những đụn lá, một thời mà lá cây bông vương đầy trên cạp quần lót của anh. Chất đống như núi và rồi tan biến.

Những chiếc máy bay phản lực nhìn thẳng vào cửa kính nhà ga trông như những con cá heo ịn mũi lên bức tường ở thuỷ cung. Sương mù tan đi. Ánh sáng rọi từng mảng vuông lên khuôn mặt nhẵn nhụi của Elroy. Anh chìa cổ đón lấy, giơ cằm lên quay quay. Trên đầu là một cái lưới thép mắt cáo sơn trắng.

Có một cái bảng đề tên sân bay. Chữ cái in hoa chạm nổi trên nền đồng. Từng có một xóm nhỏ ở đây, tên là Hitherowe, Hetherow, Hetherowfeyld. Một dãy nhà trên một bãi đất hoang. Heathrow(5). Cây sồi lùn và cây hoa kim tước trồng trên đất mịn, nơi bọn trẻ chơi giữa cây cối và rác rưởi cho tới khi Mẹ gọi chúng về uống trà.

Anh lên máy bay, ngồi vào ghế, và chiếc máy bay xé toạc bầu trời.

 

Lát sau, những người Đức cố khiến Janis làm gì đó mà nó không biết. Một người đàn ông tháo cà vạt, để lên bàn, đặt cho thằng Janis một câu hỏi và chỉ vào thằng bé. Rồi ông ta cởi áo khoác, và bỏ hết mọi thứ trong túi ra: thuốc lá, hoá đơn ATM. Mỉm cười, mở to mắt, giống kiểu, Thấy chưa? Một lối trình diễn.

Họ muốn nó cởi quần áo? Nó không biết chống lại họ bằng cách nào. Có một nguyên tắc mẹ nó dạy: Không ai được cởi quần áo của con, hay lấy đi bất kì thứ gì của con. Một cô người Đức đặt tay lên mũ của Janis, nó để cô cởi mũ, lộ ra mái tóc bù xù, nhưng nó không thể không khóc được. Nó bị cơn đói hành hạ. Họ nên cảm thấy khốn nạn với những gì họ đang cố làm với nó. Họ bắt nó đứng dậy, rồi cởi áo khoác nó ra. Bây giờ thì điều gì cũng có thể xảy ra. Cô kia đặt áo nó lên bàn, lục tìm các túi áo. Họ để nó nhìn. Họ tìm được một cái vỏ kẹo Kit Kat. Kẹo sao su. Cùng hai trăm sáu mươi đô la Mỹ gập làm đôi.

 

Đường bay ngắn nhất về phía Tây đi qua Bắc cực.

Trọng lực ép máy bay xuống. Thêm cả lực cản phía dưới hai cánh, kết hợp với độ xiên của mặt phẳng cánh, nâng máy bay lên,đưa các hành khách vút đi giữa không trung, trong một con tàu nặng tám trăm ba mươi ngàn pound.

Elroy quan sát một dòng sông băng băng tan dần vào lòng đại dương. Chúa tạo ra thế giới với đầy ắp những điều kì diệu để chúng ta không quên đi sứ mệnh người giao phó. Elroy không biết liệu anh đã quên hay vẫn còn nhớ.

Anh quá cảnh ở sân bay Boston Logan rồi hạ cánh ở sân bay Albuquerque—chuyến hạ cánh thứ tư trong ngày, mặc dù đã ba mươi giờ trôi qua rồi. Phấn hoa cúc ngập mũi anh và làm tim anh thổn thức. Xoang mũi bắt đầu chảy nước.

Anh đã thuê trên mạng một chiếc xe mini, nhưng Avis(6) đã quá tay với yêu cầu của anh, họ giao cho anh một chiếc Mustang mui xếp. Anh lái xe về phía Bắc, hạ mui, thẳng một lèo đường liên bang qua thung lũng sông Rio Grande, ngẩng mặt lên phía những vì sao vẫn nằm yên đó từ lúc ở phương Đông. Anh mạo hiểm lái xe chạy lệch khỏi làn đường cho phép.

Phía Tây Santa Fe, anh hướng về phía dãy núi Jemez, không khi loãng làm anh khó hô hấp, anh thở hổn hển, đường xá tối thui. Sau cùng anh thấy một bờ tường lửng dài khoảng ba dãy phố—anh đã đi theo trực giác, gần như bằng cách đánh hơi, như một con chó săn—và gặp một cánh cổng, lúc một giờ sáng giờ MST. Anh chưa ăn gì từ lúc lên máy bay ở London, sự thèm khát thức ăn của anh đúng là một cơn hoảng loạn vật lý. Hơi thở vừa ngắn vừa gấp. Cột sống anh hoá đá.

Một người bảo vệ ngồi trong chòi gác sáng đèn cạnh cổng đang chơi Sudoku. Ông ta hỏi Elroy, bằng thứ tiếng Anh với tốc độ tên lửa của người bản xứ New Mexico, anh tới gặp ai.

“Nhưng tôi không thấy Trung sĩ Slocum để lại lời nhắn gì ở đây là ông ấy đang chờ anh tới,” người bảo vệ nói khi nhìn vào bảng ghi chép. Người bảo vệ yêu cầu phải có lời nhắn từ chủ căn hộ thì mới gọi cửa sau mười giờ tối.

“Thôi nào, ông bạn,” Elroy nói. “Tôi đã ở đây ba hôm trước mà.” Cuối cùng anh hứa ngày mai sẽ bồi dưỡng người bảo vệ hai mươi đô nếu ông gọi cho bố anh.

Trung sĩ Slocum không phải bố đẻ của Elroy. Ông là bố dượng của anh. Bố-dượng-cũ, chính xác là thế. Ông cho Elroy sống với ông sau khi kết thúc cuộc hôn nhân thứ hai và cho anh đi học trung học ở trường St. Xavier. Sau đó ông già nghỉ hưu ở đây. Mẹ đã bỏ đi. Ai mà biết đi đâu.

Cánh cổng trượt vào trong bức tường lửng, Elroy đánh con xe mui xếp vào bãi. Đèn chụp, vườn đá, tường nhà trát thấp. Anh đi bộ dưới hàng hiên và gõ cửa.

Khi Trung sĩ Slocum mở cửa, ông đang cầm một cái dĩa, thứ vũ khí nửa mùa.

“Con chào bố,” Elroy nói. “Hi vọng con tới khi bố còn thức.”

“Elroy,” ông già béo chào đơn giản. Ông đang dở bữa. Vụn bánh dính đầy trên ria ông. “Bố cònthức không à?” Trung sĩ Slocum nói ở sảnh nhà tranh tối tranh sáng. “Bố nghĩ bố ngủ rồi cơ. Những ngày này, lúc nào bố cũng buồn ngủ. Bố không đọc nổi, không nghe nổi, không thể cả đi tè…”

“Bố không vui khi gặp con à?” Elroy hỏi.

Ngài Trung sĩ trỏ cái dĩa về phía bóng tối sau lưng Elroy. Ông hỏi, “Thế thằng nhóc Janis đâu rồi?”

 

Hôm sau, một chú mặc đồng phục phi công đánh thức Janis khi nó đang ngủ trên một cái giường xếp trong văn phòng sân bay. Chú ấy giới thiệu mình tên là Kristaps bằng tiếng Latvia, trong lúc những người Đức quan sát. Nói tiếng Latvia với người lạ. Chỉ nói tiếng Mỹ với người con quen. Một hệ thống đã giúp Janis kiên định suốt từ trước. Nhưng nó phải thừa nhận rằng, ở Đức, một người lạ đang nói tiếng Latvia với nó là một tình huống đặc biệt. Chú phi công đang định bẫy nó kiểu gì đây. Cuối cùng thì Papa vẫn sẽtới mà.

Janis đi tới sảnh với chú phi công để lấy sữa và bánh mỳ trứng, rồi chú phi công hỏi bằng tiếng Latvia, “Bố hay mẹ cháu đâu?” Tức giận, cứ như thể Janis đã gây ra tội lỗi gì.

Và Janis trả lời, mặt đỏ bừng, bằng tiếng Mỹ, “Cho cháu xin mù tạt được không?,” định đổ đầy cái thứ dữ dội ấy ra đĩa, phòng khi nó bỏ cuộc và ăn mất.

“Người đưa cháu đến đây đâu rồi?” chú phi công nghiêm giọng.

Tại sao lại cảm thấy khóc thật sướngnhỉ? Nhiều năm rồi, Janis đã tự hỏi nó bị làm sao khi mà khóc, lẽ ra phải thấy tệ, thì nó lại thấy sướng mới lạ.

Janis nhấc miếng trên của bánh mì ra, hi vọng lòng trắng trứng bị sống, nhưng nó chín rất chuẩn; hi vọng lòng đỏ bị quá lửa, nhưng nó dễ dàng chảy ra khi Janis chọc vào. Nó đói đến cồn cào ruột gan.

Nó cần phải ăn. Nhưng nó cũng cần Papa quay lại. Và tất cả những việc này là một bài kiểm tra. Papa sẽquay lại, nhưng với điều kiện Janis giữ vững niềm tin và không ăn.

Chú phi công chửi nó.

Janis gặm tay áo khoác. Chú phi công đứng dậy đi lấy cà phê. Janis cảm thấy cơn đói như một cú thụi từ dưới xương ức, một trận gió quẩn trong đầu nó. Nó đã chọn được tiêu đề cho cuốn sách tô màu. Tiêu đề sẽ là “Joe yêu Foxie, và Foxie yêu Joe rất nhiều.” Nó mở nắp bịch sữa Đức và đổ tràn lên thức ăn trên đĩa.

Đến trưa, người ta đưa nó lên một chiếc xe.

Họ đi trên một con đường thênh thang. Đó là một thành phố lớn, có tàu thuỷ, cần cẩu và xe lửa. Thật tráng lệ biết bao khiến Janis tự hỏi phải chăng nó đang ở Thiên đường.

 

“Bố cứ đinh ninh là mày sẽ về cùng thằng nhóc,” Trung sĩ nói.

“Vâng,” Elroy mệt mỏi bơ phờ.

“Bố hiểu sai à?”

“Vâng, việc không xong, bố biết mà?”

Con chó nhát chết của ông Trung sĩ, con Mavis, xuất hiện sau cánh cửa kính thông ra phía sân trong. Nó cào lên khung cửa và nhìn ông già với hai tai cụp lại và đôi mắt xoe tròn, như kiểu, con biết con không được vào nhà, nhưng con là một con ngố dở hơi, con vào được chứ?

Ông Trung sĩ đứng dậy khỏi sofa và tập tễnh tiến về phía cánh cửa, một quyển tạp chí trong tay. Ông hỏi, “Chính xác là bố biết cơ?”

“Thì đấy, việc không xong. Cơ mà nó trông giống con lắm. Màu nhiệm vãi đái, bố nhỉ? Bố kì vọng con cái sẽ giống bố y hệt ngay lập tức, nhưng rồi bố chẳng thấy thế chút nào, cho đến khi họ lớn đến một độ tuổi nhất định, chuyện lại đâu vào đó.”

Ông Trung sĩ trượt cánh mở, cuộn quyển tạp chí lại, uốn cong, rồi vụt vào đầu con Mavis. Con chó oẳng lên rồi chạy mất. Ông Trung sĩ trở lại chỗ ngồi.

Elroy đi về phía tủ lạnh, bên trong có đồ gia vị Tex-Mex hết hạn. “Xúc xích hun khói của con đâu mất rồi?” anh hỏi.

“Bố ăn rồi,” ông già trả lời.

“Trời ơi,” Elroy rên lên, tan nát. “Bố ăn thật rồi à?”

“Nhà bố mà. Đồ ăn là của bố. Bố vẫn trên cơ mày đấy, đừng có quên. Đi ra cửa hàng mà tự mua lấy cái gì đi.”

“Ôi, bố ơi, con sẽ phải đi ra tận White Rock.” Elroy quay ra nhìn tất chân ông già, bên trái được khuôn cứng như cái bay thợ xây: ông già mất ba ngón chân ở Việt Nam. Elroy nói, “Lẽ ra bố là bố của con mới phải.”

Lúc bình minh, khi ông Trung sĩ chuẩn bị ra ngoài ăn sáng ở một quán ăn trong thị trấn, Elroy thức dậy trên sofa và hỏi, “Bố mua cho con cái gì trên đường được không?”

“Ở nhà thuê mà đòi ăn miễn phí à,” ông Trung sĩ nói, bấm cài dây xích cổ cho con chó đang phấn khích. Ông Trung sĩ đi đâu, con Mavis theo đó.

Elroy lục trong túi quần—anh mặc nguyên quần áo mà ngủ—và moi ra một mớ tiền, anh uể oải đưa cho ông già.

Ông Trung sĩ lấy ra một tờ lẫn màu lam-lục trang trí với hình cây sồi. “Cái quái gì đây?” ông hỏi.

“Đấy là cái ờ ờ cái gì ấy nhỉ. Đồng lat(7). Năm lat—tiền thật của mình đâu rồi nhỉ?” Elroy lẩm bẩm, ngồi hẳn dậy. Anh nghĩ trong giây lát.

“Ông con giời, đây này. Trên răng dưới dái.Có khi mày nên mang cầm luôn cái Huân chương Sao Đồng của mày đi, nếu mày còn nhớ đã vứt nó ở đâu.”

“Bố bố thí cho con mười đồng được không?” Elroy hỏi. “Có đủ ko ạ? Mua một pound thịt ấy?”

 

Hai năm sau, Thượng sĩ Heflin đang trong đợt dàn quân thứ tư ở Afghanistan, lần này là ở vùng đường băng Bagram, khi anh nhận được e-mail của Evija:

Ellie thân yêu của em,

Em về Riga tháng này, em viết thư này cho anh tại quán café ở Stabu iela mà khi xưa chúng mình thường ghé chơi.

Tất nhiên là em nhớ Janis quay quắt và nhớ cả anh nữa. Em run lên khi nghĩ biết đâu anh bây giờ đã có bạn gái rồi. Em lấy tư cách gì mà gọi anh là “thân yêu” sau những gì em đã làm cơ chứ? Và cả xin anh tha thứ cho em nữa? Thế mà có vẻ như vừa ngu ngốc lại vừa có lý khi đòi hỏi như vậy, như khi anh muốn đi qua con kênh, và em bảo anh, “Đừng, băng chưa đủ dày đâu!” mà anh vẫn chạy bất kể thế nào, và anh đã qua được bờ bên kia, khô nguyên.

Em không có tư cách xin anh hãy quay lại đây và đưa Janis về. Nhưng chúng ta đã từng thuộc về nơi này. Cả ba chúng ta. Em không thể ngừng hi vọng rằng chúng mình có thể có thêm một cơ hội nữa.


(1) ND: người Estonia, nguyên văn tiếng Đức.

(2) ND: ‘iela’ có nghĩa là ‘phố’, nguyên văn tiếng Latvia.

(3) ND: một số loại ma tuý.

(4) ND: một số loại chất nổ.

(5) ND: nguyên văn ‘A heath with a row of houses on it.’

(6) ND: hãng cho thuê xe qua mạng.

(7) ND: đơn vị tiền tệ Latvia.

Copyright © 2010 by Salvatore Scibona.

ThKh chuyển ngữ không có sự đồng ý của tác giả.

———-

ThKh – 2019

ThKh là một bút danh khác của ChuKim, một người viết tự do, sống và yêu tại một ngôi làng mang tên thành phố. Nếu có thể, hãy ủng hộ và khích lệ bằng cách đọc và chia sẻ những gì anh viết trong khả năng của bạn. Xin cảm ơn.

– natchukim.cogaihu@gmail.com –

PS: Tất cả nội dung trong blog này đều được tuyên bố quyền sở hữu và quyền tác giả về nội dung, ngoại trừ những bài sưu tầm có đề rõ. Mọi trích dẫn, đăng lại, vui lòng ghi rõ nguồn. 

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s