Truyện ngắn: Mặc khải của người công nhân nạo vét – Karen Russell

Karen Russell (1981-) là nhà văn người Mỹ. Các tập truyện ngắn St. Lucy’s Home for Girls Raised by Wolves (2006), Vampires in the Lemon Grove (2013) cùng tiểu thuyết đầu tay của bà, Swamplandia! (2011), đã gây được tiếng vang. Tập truyện ngắn thứ ba của bà, Orange World and Other Stories, ra mắt tháng 5 năm 2019.

Karen Russell (Grafilu - newyorker.com)

Tranh: Grafilu – newyorker.com

‘Mặc khải của người công nhân nạo vét’ (The dredgeman’s revelation) là truyện ngắn của Karen Russell được đăng trong tuyển tập 20 under 40 (2010) của tạp chí The New Yorker. 


Mặc khải của người công nhân nạo vét

 

Người công nhân nạo vét có tên, Louis Thanksgiving Auschenbliss, nhưng gần đây cậu ta thích coi mình là một người chuyên nghiệp hơn. Trong sáu tháng vừa rồi, cậu dành từ sáng tới nửa đêm để tiến sâu hơn vào không gian quái lạ của đầm lầy Florida, vai kề vai với mười hai người nữa trong đội, những thành viên “chuột bùn” của công ty Model Land. Họ chính là động cơ sức người của tàu nạo vét nổi, một chiếc sà lan bốn mươi foot với bốn thuyền phụ trợ kèm theo—thuyềnchở gỗ, thuyền chở nước, nhà bếp, và, để ngủ, cái nhà thuyền. Chiếc tàu nạo vét có một cái cần trục đại bự bắt vít xuống boong và một chiếc gàu múc trông như cái sọ rắn tí hon, treo cân bằng phía trên cao quá đầu mấy cây cọ và cây ngập mặn. Công ty Model Land đang đào một con kênh đi qua vùng trung tâm hoang tàncủa đầm lầy, và cái tàu nạo vét ầm ầm tiến về phía Vịnh giữa những làn sương và tiếng kẽo kẹt của dây cáp, xé tung gốc cây, đá tảng và xới lên hàng trăm ngàn gallon đất bọt.Cả ngày lẫn đêm, mọi người trên sà lan đều phải đeo mạng che mặt chống muỗi để làm việc—và cách đan của lớp lưới bảo vệ tinh xảo ấy là ý nghĩa của cụm từ “công nhân nạo vét” đối với Louis. Như áo giáp mềm, một lớp màn linh hoạt. Dưới tư cách là công nhân nạo vét, Louis chẳng khác gì so với mọi người trên boong. Và trên tàu nạo vét, trong khu đầm lầy kì lạ và ẩm ướt này, mỗi buổi sáng vàng ươm đều giống như một lớp da mới mà cậu có thể chui vào.

Karen Russell - The dredgeman's reveletion (ảnh - Historymiami - newyorker.com)

Ảnh: Historymiami – newyorker.com

 

Ở tuổi mười bảy, Louis là thành viên trẻ nhất trong đội. Đương lúc cao trào của cuộc Suy thoái(1), và thỉnh thoảng mấy ông anh quay sang chuyện cũ để giải trí—kể về những cô người yêu thẫn thờ bị họ bỏ rơi trên những ghế băng đỏ trong quán ăn ở Decatur, các thầy cô giáo trung học của họ, cửa tiệm của gia đình ai đó trên đường Rascal Mountain, bang Georgia, khẩu phần trong quân ngũ của họ, lũ chó và bọn trẻ con vẫn ở trên đất liền, khoản nợ mà họ khoái trá phớt lờ. Mắc kẹt trong những hoài niệm của mấy ông anh, Louis trở nên hồi hộp gần như không chịu đựng nổi.

“Mày thì sao, Lou?” sau cùng có ai đó hỏi. “Làm thế nào mà bị xô đẩy tuốt tới đây vậy?”

“À, không có gì lắm . . . ” cậu lẩm bẩm. Chỉ chút xíu kí ức tuổi thơ trong cậu là còn rõ rệt. Trên thực tế, vùng lũ mênh mông và trống trải lan rộng ra nhiều dặm theo mọi hướng quanh mép tàu nạo vét dường như đang chế nhạo cái ý tưởng rằng cậu từng có tuổi thơ. Hai bầu trời trôi qua họ—một bên trên và một phía dưới, trên mặt nước, bóng mây phản chiếu thật hoàn hảo. “Một chuyện về em, chà,” Louis nói, húng hắng, cố ra vẻ như mấy ông anh để khiến quá khứ của mình trở nên hay ho. “Một chuyện thú vị, em đồ rằng, là việc em đã chết khi ra đời.”

“Chà, bố khỉ, Louis, mày không cần khoe khoang chuyện ấy đâu,” Gideon Thomas, thợ máy, nói. Anh ta cười. “Đã chết khi ra đời—cứt, con trai, ai mà chả thế!”

Trong số tất cả anh em trên tàu nạo vét, Gid có lẽ là bạn thân nhất của Louis, mặc dù đó không phải mối quan hệ bình đẳng cho lắm, lúc nào Gid cũng trêu chọc Louis chẳng chút nương tay và thường “mượn” đồ của thằng nhóc mà anh chẳng trả nổi, như thức ăn chẳng hạn.

“Em không khoe,” Louis làu bàu, và cậu cũng không hề kể chuyện nhảm nhí. Cậu chỉ lặp lại điều cậu nghe từ cha nuôi—”đã chết khi ra đời” là cái kiểu ông ta dùng để dè bỉu Louis mỗi lần cậu chạy quá nhanh so với nắm đấm của ông già. Và mặc dù ông già đã cô đặc câu chuyện về sự ra đời của cậu xuống chỉ còn mấy từ kinh khủng, đó đều là sự thật—Louis Thanksgiving suýt chút nữa đã không tồn tại.

Khi mới sinh ra, sọ của cậu trông như cái đàn violin be bé, bị thắt lại và im re. Vị vác sĩ đã kéo đứa bé ra khỏi người mẹ đã qua đời ở giữa khu trung tâm lạnh lẽocủa Viện Mồ côi New York bắt đầu lắc nó cho đến tuyệt vọng, nghĩ bụng, Ôi, cách đánh thức này mới thô bạo làm sao!Bởi đứa nhóc bé xíu này—không chịu thở, chẳng buồn ngọ nguậy—đang cư xử sai phép lịch sự của cả thế giới. Nó không chớp mắt. Nó kiên định và tái xanh trên đôi tay đầy máu của bác sĩ.

“Một ca chết non,” bác sĩ nói với y tá. “Và người phụ nữ đã chết, vỡ tử cung, tệ quá. . . .” Vậy là đứa bé đã hoàn toàn hết hi vọng, thế rồi, khoảnh khắc mong manh chấp chới giữa sự ra đời và cái chết của nó. Sự sống của nó. Và người mẹ không hôn thú, nằm trần truồng trên một cái bàn trong Viện Mồ côi, giờ đây không còn là mẹ hay con gái của bất kì ai.

Vị bác sĩ châm một điếu thuốc lá Thổ Nhĩ Kỳ và khẽ bật khóc, một nỗi buồn đong đếm bằng đề-xi-ben đâu đó giữa tiếng thở dài của một con bạc và người đàn bà nghèo khó đau khổ vật vã than van khi mất việc—và rồi có tiếng khóc khác hoà cùng bác sĩ. Khuôn mặt xanh mét của đứa bé chết non bừng nở như một đoá hoa và nó càng khóc mãnh liệt hơn, không còn nghi ngờ gì nữa, sống rồi, hít thở không ngại ngần, làm các bước quá tốt để trở thành Louis. Khuôn mặt nó ửng đỏlên sau từng giây, và bác sĩ nhổ điếu thuốc khỏi môi ông như một bông cẩm chướng hắc ín(2).

Lẽ ra ông thích hút thuốc tiếp, và uống chút gì nữa, nhưng bọn trẻ mà—bạn không thể chỉ đứng đó và nâng ly mừng hành trình trở lại của chúng với hư vô! Dầu sao. Nếu trong phòng chẳng có nhân chứng nào—không y tá, không người mẹ, chỉ có đứa bé đang gào khóc chứng kiến, và chính bạn—liệu bạn có thể . . . ? Không, phần tốt đẹp bên trong bác sĩ nhấn mạnh. Chúng ta không thể làm thế. Vậy là bác sĩ đeo chiếc kính màu lục của ông lên và xoa bóp đưa không khí vào ngực đứa bé bằng mu bàn tay; rồi khi máu và không khí bắt đầu đồng loạt hoạt động vàsắc thái tăm tối trên khuôn mặt nhàu nhĩ của Louisrạng lên thành sắc vàng tươi hồng hào, ông nhìn đứa bé và nói, “Chà, anh bạn, ta nghĩ con đã lựa chọn đúng đấy.”Gót chân nứt nẻ của người mẹ ở trên bàn lúc này lạnh như bột bả.

Kiệt sức, bác sĩ để trống giấy khai sinh. l-o-u-i-slà những chữ cái mà hai bà xơ buộc trên một chiếc vòng tay nhỏ cho đứa bé, vì bác sĩ nhớ, hay tưởng tượng ra ông nhớ, rằng người mẹ xấu số trong một giây phút đã thầm thì cái tên hoàn toàn phổ thông này với ông. Mẹ của Louis là một người nhập cư tới từ một đất nước ông không biết phát âm tên hay tìm nổi trên bản đồ—và nếu Louis có nghe được cái tên ấy khi nó lớn lên, chà, đại loại với nó cứ như xứ Oz hay cung trăng, một địa danh hư cấu.

Một trong những bà xơ ở quỹ Cứu trợ Trẻ em tới để đón đứa cô nhi sơ sinh, và Louis tuột mất quá khứ thực sự của nó chỉ sau vài tiếng kin kít phát ra khi đôi giày của bà xơ cất bước trên nền gạch men. Đưa nó đi, bỏ lại sự trống trải cứ mỗi lúc một lớn dần về một người phụ nữ lại phía sau nó, con người choàng khăn xa lạ này đã lên dây cót đồng hồ cuộc đời cho Louis. Bà xơ (người thi thoảng mơ rằng mình là một người đàn ông trong ngành quảng cáo, viết giới thiệu cho những bộ phim Hollywood) đặt một tờ giấy với lời mô tả ngắn gọn về thông tin của thằng bé vào trong chăn của nó, nghĩ rằng việc này biết đâu sẽ giúp nó được một gia đình Công giáo nhận nuôi: đứa bé chết non khốn khổ sống sót như một phép màu, cầu chúa phù hộ cho louis, tạ ơn(thanksgiving – ND)!

Đâu đó bên dưới dòng kẻ, dấu phẩy bà xơ viết bị nhoè và thế là Louis có một cái họ.

Khi ba ngày tuổi, Louis Thanksgiving được xếp vào một nhóm gồm mười một cô nhi, phụ trách bởi một xơ, một linh mục, và một gã môi giới phương Tâyđể ria mép hoàn toàn không quan tâm gì đến bọn trẻ. Nótrở thành một trong những đứa không may mắn phải lớn lên ở miền Trung Tây, một phần của những đứa kém phẩm hạnh nhất bị gửi lại từ chuyến tàu đưa trẻ mồ côi chạy từ New York qua Clarinda, bang Iowa. Trong khi nhiều đứa con trai và con gái trên chuyến tàu tìm được những gia đình nhận nuôi đáng mến, thì Louis hoàn toàn không được như vậy. Viện Mồ côi New York đã đưa một mẩu tin thống thiết lên mặt báo ở mỗi thành phố mà chuyến tàu đi qua, và hàng tá gia đình nông dân đã tập trung dưới cái mái hiên kẻ sọc ở nhà ga Clarinda để đánh giá những cái đầu gối nứt nẻ tới từ thành phố New York. Louise được ông Frederick K. Auschenbliss chọn, một người nông dân gốc Đức sản xuất sữa đã đối xử với cậu còn tệ hơn với vật nuôi của ông. Chí ít thì lũ bò còn được đứng yên và phẩy ruồi; khi lên mười, Louis phải dậy vắt sữa bò từ 2 giờ 30 sángvà phải bón phân chuồng trên khắp cánh đồng lúc bình minh. Ông Auschenbliss không phải một người cha trìu mến. Hãy hình dung thay vào đó là một gã cai nô lệ dần dà sống đúng như tiếng rít từ cái tên của hắn—một gã cổ rụt trong chiếc cổ áo đi lễ ngày Chúa nhật dựng đứng, đôi mắt vằn những vệt li ti không màu, giống như mỡ nằm trên chảo, nửa mặt khuất trong bóng tối của chuồng gia súc.Louis còn sơ sinh khi tới trang trại nhà Auschenbliss, mười sáu tuổi khi cậu trốn đi, và ngay cả những ông anh lắm mồm nhất trong đội công nhân nạo vét cũng chẳng thể cạy mồm cậu nói nửa lời về quãng thời gian ấy.

Louis, bây giờ lớn lên là một chàng trai trẻ đầy thương tổn và vô học, chẳng anh em với ai trong ngôi nhà có mười hai người, bỏ trốn khỏi trang trại và cha mẹ nuôi cùng các anh em trai ngay khi thời cơ chín muồi. Cậu lên tàu hoả xuôi về phương Nam trên hành trình mà cơn ngủ cứ bị thứ quy luật lặp đi lặp lại làm cho gián đoạn: mặt trời lặn rồi mặt trời lại mọc. Những cánh rừng bị đứt đoạn thành các bãi biển và rồi tái hợp trở lại khi những dãy núi băng qua. Tia sét thò những cái chân nhện xuống bên ngoài toa chở hàng và bò lên thân cây thông, kéo lê ngọn lửa theo nó. Cậu nhảy tàu lên tuyến đi qua miền Trung Tây, chạm tới những cánh đồng kê vàng óng và những vùng khuất của Đại Tây Dương, trước khi thực sự tiến về phương Nam, vươn xa khỏi Florida Panhandle.

 

Florida, những ngày này, là một nơi kì quặc: một bán đảo nơi bầu trời tự nó di chuyển trên đường như một chiếc đầu máy xe lửa màu lam, những đám mây phì phò đi xuyên qua các đầm lầy; nơi những cây cam và những khóm rau đều đặn mở lối cho rừng sâuvà rồi, xa hơn về phía Nam, mở toang thành trảng cỏ cao mười foot trải rộng ngút ngàn. Đây, cuối cùng, là cảnh tượng đập vào mắt Louis qua cửa toa chở hàng: một thảo nguyên rộng lớn như trảng cỏ Phi châu. Gió chiều cuốn đi mải miết một loài cỏ kì lạ hay một giống ngô dại—cỏ nước mặn, một người bạn đường nói vọng lên từ dưới vành mũ. Đó là cái tên cho loài cỏ thân dài tới mức nuốt chửng đc thân người. Những đội khảo sát của chính quyền đang làm việc trên khắp các tuyến đường, một đối trọng quái đản với hàng tá diệc và nai mà Louis trông thấy đứng trong đầm lầy. Rồi cậu nhận ra chiều cao chóng mặt của cây cối trong rừng thông, hàng triệu cây thân nhỏ vươn cao hết tầm mắt. Chúng được gọi là những cây thông cắt, vì những vết sẹo gạch chéo mà những người khai thác nhựa để lại—hàng ngàn mẫu Anh đã được khai thác lấy nhựa thông. Những cây thông khô khốc và trang nghiêm gợi cho Louis nhớ tới một bức ảnh nguyên mẫu Daguerre(3) của lực lượng Liên minh gầy còm dưới trướng tướng Lee(4) mà cậu từng nhìn thấy một lần hồi nhỏ.

Khu rừng nào cũng sâu, nhưng chúng chẳng hề yên bình hay tĩnh lặng—đầy người ở trong đó. Những cây rìu vung lên rồi hạ xuống, một tia sáng xanh loé lên ở rìa thân cây, và Louise dõi theo từ cán rìu tới cánh tay mập mạp và khuôn mặt vuông chữ điền bèn bẹt của những người thợ gỗ thuộc Đoàn bảo tồn dân sự(5). Gần mười ba triệu người tìm việc đang tập hợp lại như những đám mây châu chấu trong các thành phố, nhưng chỉ một vài trong số những kẻ săn tiền ấy có được chỗ mà đứng trong rừng. Từ trên tàu, Louis chỉ nhìn thấy một dúm người. Khi tàu gặp sự cố máy móc bên ngoài Rừng Quốc Gia Hồ Crooked, động cơ đột nhiên ngừng hoạt động và khối kim loại vật vã tới khi dừng hẳn ở giữa một khu rừng già. Ở ngoài này, Louise có thể nghe thấy tiếng những cơn gió bắt đầu thổi, tiếng xì xì của những cây không khí và những cây dứa Nam Mỹ đỏ thẫm. Lũ cóc sồi đồng thanh hợp xướng không thôi. Nếu cậu mà có thể nghe thấy cái chết của chính mình giữa tất cả những âm thanh huyên náo này, cậu sẽ thây kệ nó. Nhà, nhà, nhà,đường ray ca vang,và đoàn tàu lục tục hồi sinh trở lại.

Louis xuống tàu ở Titusville, và kí một hợp đồng sáu tháng với Đoàn bảo tồn dân sự. Cậu viết tên mình là louis thanksgiving, bỏ họ Auschenbliss, rồi nhìn quanh nhìn quất con phố bụi bặm như thể cậu vừa bỏ chạy khi gây ra tội ác. Sao mọi người lại ngu đần đến nỗi đi dùng súng nhỉ, cậu tự hỏi, trong khi cậu chỉ cần xử lão Auschenbliss bằng một cú đánh không chảy máu.

“Có người da đỏ đấy, nhưng họ ở trong trại riêng,” người tuyển dụng nói với cậu bằng giọng kiên nhẫn, như thể điều này gây quan ngại mà ông ta thường xuyên phải nói giảm. “Màu đỏ ở đây, tức là—chúng tôi chưa phân trại cho cậu.” Ông ta nhìn giấy tờ của Louise và ngước lên coi có vấn đề gì chăng. Louise nhìn lại ông ta vẻ hoài nghi. Cậu muốn kể với ông ta rằng cậu đã dành mười sáu năm vừa qua sống cùng súc vật và một đám anh em trai có thú giải trí tuyệt đỉnh cuối tuần là nghĩ ra “mấy trò đùa thực tế” với lũ bò và máy móc nông trang, một trò trong số đó thiếu chút nữa đã chém bay đầu Louis. Louis chẳng thấy vấn đề gì với bất kì ai cả—da đen, da trắng, hay da đỏ—chừng nào họ của người đó không phải Auschenbliss.

Giai đoạn đầu, cậu được phân về sà lan nạo vét của Đoàn bảo tồn dân sự với mười lăn người khác, được giới thiệu với cậu toàn bằng nghề nghiệp chuyên môn (“Đây là đầu bếp, thuyền trưởng, kĩ sư, người đốt lò . . .”). Giờ cậu là thành viên một đội của chính quyền đi khảo sát rừng quanh Ocala. Ba mươi đô la một tháng, và, cứ cố đi, bạn chẳng tài nào tiêu quá năm đô trừ phi bạn là con bạc khát nước trầm trọng—ở trong đầm lầy thì có gì mà mua ngoài thuốc lá, tem thư, và trang thiết bị cho khu trại? Louis mua một bộ dụng cụ linh tinh hết mười lăm xu.

Vài người công nhân nạo vét là cựu chiến binh cằn nhằn rằng trang bị của đội thiếu một cái nhà thuyền có đủ chức năng cho anh em ngủ giường tầng khô ráo trên sông; thay vào đó, cả bọn phải dỡ đồ từ sà lan và dựng trại mỗi tối, sau khi mất công tìm hòn đảo nào không bị ngập nước. Louis ngủ trong một cái lều với năm người nữa, mùi mồ hôi và thuốc lá thấm vào lớp không khí trong lều. Bên ngoài, bốc lên từ mặt đất như hơi thở của địa cầu, là mùi than bùn, một bức tường mùi than bùn kì vĩ, không gì tinh tế và dễ bay hơi như mùi hương—không, thể loại này thực sự thối. Dưới ánh mặt trời, than bùn làm cho khứu giác người ta khò khè gợi cho Louis Thanksgiving nhớ về mùi thum thủm làm cả vùng Clarinda điêu đứng. Phân bò, Louis nghĩ, khụt khịt mũi; hương thơm nông trại. Nhưng ở đây không khí mặn chát, thối gấp bốn lần. Cậu nhỏ nhẹ kêu ca về chuyện ấy, thấy vui vì buổi tối có chuyện để nói với mấy người khác. Chân anh em xoắn hết cả vào nhau, cậu nhận ra ngay đêm đầu, chẳng nói gì và chẳng di chuyển lấy một inch khi cậu tìm thấy cái nệm cuộn của mình, cái lều trở nên ẩm vì mấy người kia cẩn thận nằm sát nhau. Ai cũng phải giữ nguyên một tư thế; bạn phải luyện sao cho trong lúc ngủ cơ thể tĩnh như một con thuyền được neo lại mà không đung đưa. Louis từng nghe kể rằng một người kiểm soát viên phụ trách đào tạo trong công ty đã bị đánh chết ở phía Nam của Tallahasseesau khi leo lên nệm ngủ của người khác mà lại khoả thân ngay đơ—một thằng lại cái nực cười, mọi người xì ra.

Đêm đến, ánh trăng sáng tới mức chiếu xuyên qua cả lớp vải lều. Louis thường thức cho tới tận khi nhập nhoạng trước bình minh, lắng nghe tiếng muỗi bay vo ve như kiểu điều gì thần thánh lắm. Cậu yêu mến tất cả mọi người, cả sự nóng nực lẫn mùi thối và cái tàu nạo vét hôi rình hình ấm nước đã rạch một con kênh tách cậu khỏi tuổi thơ của mình. Cậu yêu mến cả những con hàu bị nghiền nát hay những cái cây bật gốc. Cậu cũng đủ thông minh để giữ những cảm xúc ấy cho riêng mình. Louise thích giữ một quả kiwi suốt cả ngày rồi đợi cho tới khi những người khác ngáy mới bỏ nó ra. Cậu bấm ngón tay qua lớp vỏ lông để mùi kiwi lan toả khắp lều. Lần đầu làm như vậy, cậu để ý thấy như là mọi người cười trong giấc ngủ; sau khi làm việc này hàng đêm, cậu tự mìm cười khi hình dung ra những giấc mộng đẹp lan từ người này sang người khác. Tâm trạng cậu tốt cho tới tận sáng, và vài người vốn ít nói trong đội phải làu bàu rằng thằng nhóc nông dân này chắc bị chập cheng. Ai mà lại ngủ dậy rồi huýt sáo trong cái nóng một trăm lẻ hai độ (ND: ba mươi chín độ C)? Thằng khùng cỡ nào mà lại cứ cười rạng rỡ với bạn khi cằm nó dính đầy muỗi chết với máu tươi của chính nó?

“Xem ai đang nhăn nhở như thằng ngu dưới cái nắng giữa trưa kìa,” ông trung uý nói, lắc lắc đầu. “Mày là thằng nhóc tốt bụng nhất tao từng biết, Louis ạ—thành thực mà nói, như thế đâm ra lại đáng lo. Tốt nhất là mày đừng bẻ cổ và giết bọn tao trong lúc ngủ! Tao có thể kể cho mày nghe nhiều chuyện lắm. Nhiều điều kì quặc xảy ra với những đứa tính tình đặc biệt lắm, mày biết đấy.”

Thỉnh thoảng, đội trưởng chuyển tới một bình rượu táo tím, đùa rằng nó không làm mờ mắt mấy anh em. Louise đồ rằng khẩu vị rượu mạnh của đội trường như kiểu kết hợp giữa rượu táo Nhà thờvà xăng—nó không làm cậu hành xử kì quặc chút nào, nhưng nụ cười của cậu thu lại, và cậu thường phải nhẹ nhàng xin thứ lỗi vì đã chạy và nôn qua đuôi tàu. Louise vẫn còn khuôn mặt bè kiểu trẻ con, một khuôn mặt nông dân, nhưng có nét đẹp trai thanh tú đầy non nớt ẩn dấu chỗ xương gò má của cậu—cậu có cái mà mọi người mô tả là “mặt vuông chữ điền”(6), với uy lực đẳng cấp Tổng thống, một dấu hiệu của kẻ đam mê the phòng. Đàn bà sẽ không thể cưỡng lại được, một sinh vật tuyệt luân như vậy ở giữa chốn này. Người phụ nữ cuối cùng mà Louis nhìn thấy là vợ của ông đầu bếp, hình dáng cao to như đàn ông, mặt như cái đĩa, mắt ác mà bé xíu, tóc vàng bồng bềnh nhìn bẩn bẩn. Đấy chắc hẳn là anh trai ông đầu bếp, Louis nghĩ vậy khi nhìn họ ôm hôn ở Pháo đài Watson(7). Sao anh trai ông đầu bếp lại mặc váy nhỉ?

“Cô ấy oai vệ, thằng ôn này,” ông đầu bếp nói vậy.

 

Sà lan nạo vét rổn rảng xuôi về hạ lưu với cái tay gàu đưa qua đưa lại. Lần đầu tiên trong cuộc sống ngắn ngủi của mình, Louis thực sự có bạn bè, tất cả những người lướt qua cậu để rồi trôi vào khoảng không—những người điềm tĩnh, thành viên gia đình, những gã trai tân, những kẻ dạy đời, những gã tai ác, da trắng, da đen, trẻ con da đỏ và những nô lệ được giải phóng. Có những chàng Adam, đá văng con rắn độc khỏi ngón chân cái trần trụi của Louis và cứu mạng cậu với những lời lèm bèm thong thả; những anh chàng cựu quân nhân bám theo con hươu đuôi trắng tiến vào khu rừng già ngả nghiêng giữa ngày dài vẫn bị bao phủ bởi bóng tối; những kẻ say bắn bừa bãi vào những con mèo vàng kì lạ vẫn do thám quanh khu trại của họ; những con bạc đã vặt sạch tiền của Louis chỉ với vài lá bài và rồi trả lại (một ít) khi ngày tàn. Mọi người đều là bạn của Louis. Khi trời còn sáng, họ lội lên phía trước. Họ khảo sát những khu vực cũ của Rừng Quốc gia trong nguyên tuần, và vào cuối tuần họ “dông dài,” như ông LaVerl, sĩ quan không lưu, nói: bắn súng, câu cá, thỉnh thoảng săn cá sấu dọc theo những cái ổ dưới làm dưới chân những đường sắt bỏ hoang. Ông đầu bếp bảo Louis đi kiếm hai tá trứng từ mấy cái ổ cá sấu ấy, và đãi cả đội một bữa tối trứng tráng vị cá.

Khi ánh sáng tắt lịm, họ ngủ. Con hươu đuôi trắng chạy vụt đi như ảo ảnh thấp thoáng giữa những cụm cây. Đôi khi Louis thấy buồn ngủ khi quan sát chúng từ trên boong, và điều ấy khiến cậu lo rằng sẽ không xác định được khi nào thì chìm vào giấc ngủ: hươu ẩn mình trong màn sương với những cặp vó bé xíu, những giấc mơ lốm đốm cứ lây lan phi nước đại trong đầu Louis. Có những đám cháy rất tệ làm cảnh vật mờ mịt; vào những tháng hè, ngày nào bạn cũng có thể nhìn thấy khói bốc lên, ở bất kì đâu nắng chiếu được tới mặt than bùn.

Louis nghe mấy nhân viên khảo sát khác nói tất cả mọi người trong nước đang “săn bắn một tuần cho công việc của một ngày.” Thi thoảng khi nghĩ về điều này, cậu thấy thật may vì cậu đã phát ốm lên vì cái bụng của mình. Hạnh phúc đôi khi cũng làm một dạng áp lực, Louis nhận ra như vậy, thậm chí còn hữu hình và góc cạnh hơn cả nỗi khát khao. Ở Clarinda, cậu đã mong mỏi điều tốt đẹp hơn chẳng theo dạng nào, khát khao như một cái máy đánh sữa màu ghi; thực tế, cậu đã quá nghèo tới nỗi chẳng bám víu nổi vào một khái niệm vững chắc: Một người cha thực sự? Một cô gái trong thị trấn? Một ngàn mẫu Anh? Một người bạn? Trái lại, niềm hạnh phúc này có góc cạnh; có đường nét cắt tỉa như một viên kim cương, và cậu hoàn toàn có thể đánh mất. Chà, Louis xác định rằng cậu sẽ không để mất nó, và rằng cậu sẽ không bao giờ trở lại như trước. Cuộc Suy thoái là điều tuyệt vời nhất từng xảy đến với cậu. Cậu có một tập tiền mới cứng, một bộ đồng phục với tên cậu được thêu chỉ màu dâu rừng lên túi áo, và thịt lợn cùng lòng can đảm trong bụng cậu.

 

Phấn chấn, chẳng muốn rời đi chút nào, Louis Thanksgiving kí tiếp một hợp đồng nữa, lần này là nạo vét một con kênh băng qua đầm lầy tới Bờ Vịnh(8), cho công ty Model Land, một công ty tư nhân đã mua hàng trăm ngàn mẫu Anh “đất nông nghiệp nguyên sơ Florida” vẫn đang chìm thăm thẳm dưới nước. Họ sẽ tháo nước khỏi đầm lầy, rồi sau đó khai phá và bán nó, nên họ cần một đội “chuột bùn” thiện chiến để thực hiện.

Nhưng chẳng ai giải thích cho Louis rằng cậu phải đi sâu đến đâu vào đầm lầy, hay những ông chủ của cậu ở trụ sở công ty Model Land, tại St, Augustine, bang Flodira, muốn cả đội tháo nước vùng lũ nhanhthế nào chỉ với một cánh tay gàu—một nhiệm vụ Héc-quyn cho bất kì máy móc nào, đặc biệt lại còn với cái tàu nạo vét cổ lỗ lụ khụ của công ty Model Land, so với nó thì tàu của chính quyền nhìn chẳng khác nào tàu du hành vũ trụ.

Cái tàu nạo vét ở đó để đào xuống bùn, và múc lên một gáo đầy đất sét rỉ nước. Và điều này xảy ra ở một khu đầm lầy mà bạn có thể đào xuyên lớp bề mặt than bùn sâu mười tám foot trước khi chạm vào lớp đá ổn định.

Đội hình cũng đã thay đổi—không ai thuộc Đoàn bảo tồn dân sự cùng kí hợp đồng cùng cậu. Ông LaVerl quay lại trang trại ngựa của gia đình ở Savannah, còn người da đỏ duy nhất trong đội, Euphon Tigertail, kẻ đã sống sót vượt qua những điều kiện khắc nghiệt khi làm việc ở Kênh đào Panama, quyết định rằng mình không thể làm việc trong đầm lầy thêm được nữa. Anh không chịu nổi những kẻ thù tí hon—bọn ruồi trắng và ruồi hút mát. “Em có chắc là em muốn trở thành công nhân nạo vét vì bộ đồ này à, Lou?” Euphon thầm thì, cả hai nhìn chằm chằm vào sườn tàu tàu nạo vét. Cánh tay đào của nó cao như một ngôi nhà và vục sâu xuống một bãi lầy. Cặp chân thép đúc làm cho cái máy trông như một con lừa say rượu. Đụn cỏ lún xuống về phía thảo nguyên cỏ nước mặn, trông như một cánh đồng lúa mạch sáng lấp lánh bị nhấn chìm. Trong một thoáng, Louis nghĩ tới đồng cỏ xa xôi nhà Auschenbliss và rùng mình.

“Em nên đi khai thác nhựa trong rừng thông.Mấy thảo nguyên này chỉ toàn thứ bỏ đi thôi; nó không như vùng rừng thông đâu. Chẳng có gì thông thiếc ở đây cả. Không thăng tiến, Lou. Không hồ hay cây cối hay nghỉ ngơi gì cả. Chỉ toàn cỏ nước mặn cho đến khi em phát thét. Em sẽ không có ngày nào được khô ráo trong hàng tháng trời. Em đi đến đó và sẽ chẳng bao giờ thoát ra nổi.”

Làm sao mà bạn có thể phạm sai lầm được khi mà bạn chỉ có một phương án duy nhất? Louis cảm thấy quá khứ địa ngục đã triệt tiêu mọi sự hối tiếc trong cậu. Nhưng cậu xấu hổ vì sự thoái lui của bạn bè mình—và hơi shock một chút, nghe họ phàn nàn về những tháng cuối cùng. Sau rốt, Louis cảm thấy một cơn bối rối đầy lãng mạn, lắng nghe mấy ông tóc hoa râm nói chuyện. Hoá ra những đêm và những cung đường mà cậu hằng cho là thiên đường, với những ông khác trong Đoàn bảo tồn dân sự, lại là “những tháng khủng khiếp, một cơn ác mộng” và “thung lũng bóng tối—chỉ toàn muỗi là muỗi!” Khi mỏ neo sà lan nạo vét chạm tới Chokoloskee, toàn bộ các anh em Đoàn bảo tồn dân sự bỏ đi như tháo nút thắt, Louis, Euphon và LaVerl chia tay nhau ở bến tàu như những kẻ xa lạ.

 

Nhiệm vụ đầu tiên của Louis trên tàu nạo vét mới là nghe ông đội trưởng răng sứt hướng dẫn những việc “liên quan”: cậu phải lặn phía trước tàu, răng ngậm một con dao và cắt những thân cây đuôi mèo đầy sình khỏi trục và bánh xe tàu nạo vét. Dee-tree-tus. Cái tên trong một cuốn sách, Louis nhận ra, khi cậu lấy dao ra khỏi miệng và khạc lên lớp mạ đồng. Cậu làm tét môi dưới; nước có vị như máu mặn và chua. Trong ngày đầu tiền cậu phải nhảy qua mũi tàu năm lần xuống vùng nước sình hôi thối của cá sấu và cắt những thân cây bám đầy cỏ.

“Em nên làm gì nếu gặp cá sấu?” Louis hỏi trong bữa tối đầu tiên.

“Mày dí con dao ở giữa cặp mắt thối tha tróc vảy, là nó sẽ lượn khỏi mày. Hoặc nhắm chỗ cổ nó, cắt đứt dây tuỷ sống của nó,” Ferguson, một trong những người phụ trách máy trục, nói. Anh ta từng một lần đi săn cá sâu với vài gã chuyên nghiệp ở gần Vịnh Flamingo, và bây giờ được coi là một chuyên gia về loài có vảy lưng.

“Tuy thế mày đừng nhăm nhăm vào mỗi cặp mắt,—bọn cá sấu có thể rụt lại đấy.” Anh ta giơ hai ngón tay u xương lên và giật ngược lại về phía cổ tay.

“Cảm ơn anh đã chỉ cho em,” Louis nói. Cậu tưởng tượng ra mình đang hét lên dưới nước, và những mũi kim nhỏ xíu bằng muối đâm thẳng vào lợi và tròng mắt cậu. Có chút hồi hộp, cậu từ chối cởi đồ trước khi lặn. Cậu nhảy xuống nước mà vẫn mặc quần dài và quần lót cotton, và đạp lên đám thực vật biển đầy bùn sình dơ bẩn. Chân cậu nổi như hai tấm ván phía sau, mọi cơ bắp đều căng lên, chuẩn bị rụt lại khỏi hàm răng cá sấu.

Louis không phải một người tiếp thu nhanh xuất sắc, nhưng cậu khoẻ và dễ bảo, rồi chỉ trong một tháng cậu đã làm tất cả mọi việc trên tàu nạo vét: lọc phần mỡ hơi xanh khỏi thịt lợn trong nhà bếp, giúp những người đốt lò ướt đẫm mồ hôi giữ động cơ hơi nước hoạt động. Mọi người trông như thợ nuôi ong khi đeo găng cotton và mạng che mặt chống muỗi, phổi họ đầy khói ẩm từ cây ngập mặn mà họ đốt liên tục để đuổi côn trùng.

“Xếp hàng vào, các chàng trai! Uống thuốc đi,” đội trưởng nói, ấn mấy viên than hoạt tính màu chàm và lưu huỳnh vào bàn tay Louis đang khung khum. Mỗi lần cậu hỏi mấy viên này dùng cho bệnh gì, cậu lại có câu trả lời khác nhau: nhiễm trùng tai, dị ứng phấn hoa, viêm mí mắt, tổn thương da. Gideon Thomas nói chỗ ấy toàn thuốc giả, dù vậy Louis thấy anh ta vẫn xếp hàng để nhận, như một chàng trai Công giáo ngoan đạo xếp hàng chịu Lễ.

“Aaaa,” Gideo kêu, thè cái lưỡi bẩn của anh ra.

“Đưa tay mày đây, thằng điên. Tao đéo phải mẹ mày!” đội trưởng rít lên. Nếu những viên thuốc có hiệu quả, khó mà hình dung ra bạn sẽ thảm hại thế nào nếu thiếu nó. Mọi người giơ những vết vảy cam của họ lên cao và phân loại chúng như những nhà côn trùng học.

Tuần 1: Họ không thể ngủ nổi với những vết bọ cắn; gãi, và rồi lại thêm vết mới, đó là một nỗ lực suốt tám tiếng đồng hồ. Lũ côn trùng từng là một mối phiền kinh niên trên sà lan của Đoàn bảo tồn dân sự, nhưng ở đây trên thảo nguyên thoáng đãng của đầm lầy, chúng là dịch bệnh, tiếng vo ve của chúng trong không khí nghe như tiếng kêu khốn khổ từ bụng của những người khát nước. Chúng bò lổn nhổn thành một lớp lông trên thân tàu nạo vét của công ty Model Land. Theodore Glyde, người kĩ sư tàu nạo vét khó tính, kêu ca rằng anh ta đã làm theo ca chỗ tàu nạo vét, rời boong tàu lúc hoàng hôn và làm thêm việc thứ hai là diệt côn trùng.

Tuần 2: chân của mọi người nứt nẻ nâu bóng lên như cánh gián. Louis, người từng mang nhiều vết bầm tím hơn thế hồi ở trang trại Auschenbliss, đổ một chút rượu lên ống chân và quay lại làm việc. Trên sà lan Đoàn bảo tồn dân sự, cả đội không bao giờ đi quá mười hai dặm tính từ bến tàu nơi có bác sĩ, nhưng tàu nạo vét này đã tiến vào khu vực không có trên bản đồ của đầm lầy khiến các vết thương đủ thời gian mưng mủ. Những cơn đau đầu làm mờ mắt một nửa đội hình.

Tuần 3: những vết đau bắt đầu rỉ nước. Mọi người kể về thời còn trong quân ngũ về, chuyện cắt cụt chân tay, những vết nhiễm trùng hoại tử. Trong cả đoàn, chỉ còn mình Louis vẫn hạnh phúc không suy suyển. Cậu xung phong vận chuyển nước ngoài giờ và chia cho mọi người phần trứng đúc thịt của cậu.

“Louis, mày đang ăn kiêng hay thế nào?” Gideon gằn giọng. Anh ta dựa vào lan can bên mạn phải cạnh Louis, cắm mặt ngấu nghiến đĩa trứng của Louis với biểu cảm đau khổ tội lỗi. “Mày nên ăn đi chứ, nhóc. Không hay ho gì khi mày cứ chia sẻ như vậy ở đây đâu. Mày đang nhìn cái con mẹ gì vậy?”

“Phong cảnh.”

“Phong cảnh!” Gid khịt mũi. Anh nhăn cái mũi to bự, anh thường làm thế mỗi khi nghe ai nói điều gì anh không thích, cứ như là anh sắp xì mũi ra sự sai trái của điều đó. “Có cái gì đấy . . . cái gì đấy rất đàn bàkhi ngắm cảnh, Lou.”

Louis toét miệng cười với Gideon và nhún vai; ngay cả việc bị người khác chọc ghẹo cũng làm cậu thấy vui. Hết ngày làm việc, lúc hoàng hôn: cậu thích ngắm cánh mặt trời đỏ rực hạ xuống qua tấm lưới thép của mạng chống muỗi cho tới khi cặp mắt xanh của cậu thoả mãn. Sau tấm mạng, cậu của vẻ mặt của một người đi lễ nhà thờ.

“Anh Gid ơi?” cậu hỏi anh bạn, khi họ đang đóng nước thải vào thùng, mặt trời chỉ còn là một chấm nhỏ tươi tắn phía sau rặng cây. “Anh Gid . . . anh có muốnquay về không?”

Thận trọng, anh bạn cậu quay lại. “Về đâu?”

Ý Louis là “bất kì nơi đâu.” Trở về đất liền. Trở về với chính bản thân họ, trở về với cái tên của họ mà không có nghề nghiệp đính kèm, trở về với bất kì chỗ nào bất động, bẩn thỉu—hoặctới một trong hai cái cột đôi mà con đường đầm lầy họ đang xây dựng để liên kết. Cậu đã nghe kể về bệnh sợ nước, và cậu tự hỏi không biết có từ nào như thế về cậu chăng. Hay về con người mà cậu sẽ trở thành. Sợ mặt đất? Đó là nỗi sợ phải cắm rễ, sợ đời sống đô thị, sợ xe cộ, những thị trấn và năm tháng trên lịch. Cậu đã không trở thành một công nhân nạo vét nếu bên dưới cỗ máy không phải là dòng nước cuồn cuộn, chắc chắn là như thế. Nhiều lúc, trong đêm, Louis mơ màng nghĩ về việc phá hoại tàu nạo vét—giật tung các bộ phận trong phòng máy như vặt hoa. Đó chỉ là suy nghĩ, một suy nghĩ điên rồ, nhưng đội càng tiến gần tới Vịnh, cậu càng nôn nao trong lòng. Mồ hôi cậu túa ra nhiều hơn khi cậu hình dung ra bình minh nơi chân trời đặc quánh—một sự vắng bóng đột ngột rừng ngập mặn làm lộ ra cả đại dương bao la, đại thành công mà công ty Model Land hướng tới khi thuê tàu nạo vét và cả đội.

“Chúa ơi, Louis, mày trông như cái thằng gì nhỉ? Người Hy Lạp ấy. Thằng Narcissus! Mắt long lanh tự ngắm bóng mình phản chiếu trong cái xô đấy.”

“Xin lỗi. Em hơi hơi . . . nhớ nhà, chắc thế. Vậy là anh hào hứng mong lúc kết thúc? Những thứ bên bờ Vịnh ấy?

“Ngu thế, tất nhiên rồi!” Gideon bật cười, đổ xô nước đen qua lan can lên đầu một con cá sấu nhỏ bé đang giận dữ. “Tao có hào hứng với tiền công và một con đàn bà trên giường không á? Tao có hào hứng thoát ra khỏi cái địa ngục ẩm ướt này và mua một cái quần mà không sợ bị bốn mươi loài côn trùng đốt xuyên qua, và một đôi giày mà tao không bị lòi ngón chân không á? Trời đất quỷ thần ơi, Lou, tao sẽ hát Ave Maria! Tao sẽ lặn vì đất liền!”

 

Louis dành buổi sáng ngày 12 tháng Năm năm 1934, tự hạ gục mình hết ván bài này tới ván bài khác với Gideon trên boong. Cậu được nghỉ, và tha hồ nghĩ ngợi. Hôm ấy cậu không bị đau đầu, hay có điềm báo gì. Buổi trưa, cậu thấy hơi đói, nên cậu ăn mấy miếng thịt cò khô và cân nhắc chèo thuyền quanh nhà thuyền để hít thở. Cậu đốt vài quả pháovà thảy vào bãi đá vôi, rồi quan sát như hươu đuôi trắng chạy vội qua đầm lầy. Cứ sau mười giờ làm việc, con kênh dài thêm được một trăm bốn mươi foot; họ còn cách Vịnh một tháng nữa và sẽ kết thúc hợp đồng.

Louis ngồi trên mạn phải tàu nạo vét, hai chân trần đung đưa, bắp chuối nóng lên khi chạm vào lan can sắt, nhìn một đôi rái cá quần nhau trong bụi cỏ đuôi mèo. Một lúc sau chúng đã trở thành bạn tình, chúng múa một điệu ballet ngớ ngẩn, những con ốc đen phía dưới lá hoa súng và những con gà đầm lầy màu tím. Cậu cách phòng máy hai mươi lăm foot khi một tiếng hét như cơn sóng triều gần như đã làm cậu ngã nhào khỏi boong. Cậu quay lại và thấy ngọn lửa nhấn chìm mái phòng máy trong một cú chồm lên ngoạn mục; trong vài giây, một đám khói dày đặc nuốt trọn phía thành tàu trên boong và che phủ hàng mẫu Anh ánh nắng lên thảo nguyên cỏ nước mặn về phía Đông Nam.

Mọi thứ tiếp theo mà Louis nheo mắt nhìn đều bị nhuốm đỏ: một người mỏng dính như tấm thép—Ira, Louis uể oải nghĩ, hoặc có thể là Jackson—lảo đảo ngã khỏi đuôi tàu. Louis nghe tiếng đầu anh ta nện xuống; một người khác nhảy sau anh ta. Để cứu anh ta, Louis nghĩ, tự hào vì đã nghĩ ra được mối liên kết. Một cách mờ ảo, ý tưởng ấy đến với cậu rằng cậu cũng nên làm gì đó. Khói mù dường như đã thâm nhập trí não cậu từ thế giới bên ngoài, bởi cả boong tàu nạo vét đang mất phương hướng bởi tiếng ồn của hơi nước thoát ra ngoài. Đầu nồi hơi nổ rồi, Louis nghĩ, và cảm thấy mạch mình đập loạn. Cậu nhấc thân mình lên và tìm đường hướng về phía phía phòng máy đang bốc khói, nơi mà những người khác đang đưa nước tới.

Louis đưa một tay lên ôm mặt và thấy dính dính. Máu đang chảy ra từ một bên mắt cậu, bên còn lại thì không mở ra nổi. Cậu thấm mệt, sự mệt mỏi kinh khủng. Mình có thể ngủ luôn ở đây, cậu nghĩ. Khuôn mặt chữ điền của cậu khiến cậu ngạc nhiên trong làn nước phía dưới thuyền; ở một vài điểm cậu quăng mình lên trên lan can. Bóng phản chiếu của cậu nháy mắt với cậu, như thể nó đang cố nhớ ra làm sao mà lại quen nhau. Mấy con rái cá, cậu phát hiện, đã biến mất.

“Gideon cần đến bệnh viện!” Hector, một trong những thợ máy trục, hét lên. “Nó chết rồi, nó chết rồi!”

Rõ ràng, Hector đã quên mất trình tự của cái chết và y học như trên đất liền, Louis chán nản nghĩ—nếu Gid chết rồi, thì đã quá muộn để đưa đến bệnh viện.

Gần như không thể băng qua bức tường hơi nước nữa, và, khi cuối cùng cậu cũng ngã vào phòng máy, Louis tìm thấy cái xác như bị luộc của Gideon Thomas. Anh ta nằm trên sàn, tay phải nắm lấy cổ họng. Chết rồi, Louis nghĩ—hơi nước từ nồi hơi chắc hẳn đã làm bỏng mắt và phổi anh ấy. Nhưng rồi, khi Louis quan sát, cánh tay bắt đầu cử động, xoa bóp làn da đen thui của Gid. Mắt phải anh mở ra như một vết nứt xanh giữa trời, tay còn lại anh đẩy thẳng vào bức tường thép—và rồi, không thể tin nổi, anh ta đứng dậy, nhìn Louis vô hồn, một nửa khuôn mặt anhcháy xèo xèo. Mồm anh ta mấp máy, nhưng chẳng phát ra tiếng nào. Hàm anh co giật như nhai kẹo cao su, phía trên là mắt phải anh hướng về phía boong tàu chẳng chút tò mò, với một sự bình tĩnh cố hữu. Người thuỷ thủ, Louis nghĩ—luồng ý tưởng này nảy đến với cậu từ vài sự kiện bị lãng quên lâu lắm rồi, một bài thơ thuộc lòng mà người ít tuổi nhất trong nhà Auschenbliss đã đọc tại giáo hội trong một mùa đông nhiều năm trước. Người thuỷ thủ có đôi mắt sáng.

Bằng cách nào đó mà Gid đang loạng choạng tiến về phía cậu, cố gắng khạc khói ra. Đây là một phép màu tồi tệ, Louis nghĩ khi nhìn Gid. Tiến về phía anh ấy đi, cậu nghĩ, nhưng cậu bị hoá đá, chỉ nhìn chăm chăm. Gid bước một bước về phía Louis rồi nói, với giọng trôi trảy đau khổ, “Tao tin là phổi của tao bị bỏng hết rồi, Louie. Tao tin . . . ,” trước khi gục xuống.

“Một cái bệnh-viện! Một-”

“Quỷ tha ma bắt anh, Heck, im mồm,” lần đầu tiên trong đời Louis nói bằng giọng giận dữ. “Bệnh-vi-ện” nghe như lời kích động của một thằng ngu. Mọi người đưa Gid đi đâu được bây giờ? Chẳng nó chỗ nào quanh đây cả. Đó chính là điểm mấu chốt cho sự tiếp tục hiện diện của họ ở đây, đó là điều mà công ty Model Land thuê họ thực hiện: biến bãi bùn lầy này thành một nơi chốn thực sự.

Chuyện gì đó đang xảy ra phía dưới. Cả boong tàu bắt đầu rung lên. Ở chỗ khác, nhóm thợ trục đang chạy đua, mang nước tới chỗ ngọn lửa nhỏ bây giờ đã vươn tới chỗ nhà thuyền. Ngọn lửa cũng liếm lên những tấm ván bạc màu của nhà bếp. Mùi thép bị nung nóng làm phổi và cổ họng Louis sưng lên. Ánh sáng chói loà từ đầm lầy sâu như buổi trình diễn pháo hoa tháng Bảy, thế rồi tất cả các bóng đèn đồng loạt cháy—cáiđai điều chỉnhcủa động cơ hơi nước chắc hỏng rồi, Louis nghĩ. Bụi cỏ đuôi mèo đu đưa trong làn khói, cùng dập dìu và ngả lại gần con tàu như những kẻ quan sát ngoài hành tinh.

Cái gì đó hay ai đó ngã vật xuống trên boong phía đuôi tàu nạo vét và Louis không ngoái lại nhìn. Máu trên tay cậu đã trở thành máu trên tóc cậu, cậu nhận thấy, máu trên cổ cậu, trên chiếc áo khoác jean của cậu. Hector tới bảo cậu rằng phía dưới họ trong khoang chứa đồ có cái trống hậu, một bộ phận tối quan trọng của máy cẩu, đang cuộn trong mớ cáp của nó. Nhưng tiếng kêu của anh ta rơi tõm xuống chân và giờ thì anh ta nhìn trân trối  qua vai Louis, mắt trợn tròn, cái nhìn như thể choàng tỉnh. Anh ta chỉ về phía phòng máy, nơi hai đống than—hai foot, Louis nhận ra, giày của Gideon—đang rõ mồn một. Đế giày anh ta tuột ra khỏi gót chân thành hình trái tim. Từ hông trở xuống anh ta trông như một gã đang thư giãn trên boong tàu.

“Cởi giày anh ấy ra,” Louis nói. “Đi nào, địt cụ, ai đó cởi giày anh ấy ra!” Nhưng những người khác lại phản ứng bằng cách dạt ra xa khỏi Louis đang vung vẩy chân tay, cứ như là sợ sẽ bị những lời tục tĩu của cậu làm vấy bẩn. Vài người trong đội đã tụ họp lại. Không ai biết nguyên nhân vụ tai nạn—sự ăn mòn, đội trưởng đưa ra giả thuyết. Ông ấy đã từng nhìn thấy một vết mòn dài hai inch trên đầu nồi hơi.

Khi mọi người đứng lộn xộn bên mạn phải sà lan, những bóng đen bắt đầu xâm chiếm bầu trời: lũ diều hâu xuất hiện lốm đốm từng nhóm hai, ba con phía đường chân trời đầy nước, nửa tá, hàng tá con theo sau. Chúng di chuyển cực nhanh nên trông đơn giản như những cái lỗ đang lao đi trong không gian, một trận mưa tuyết của những lỗ mực. Móng vuốt bắt đầu bổ xuống người Gid. Đợt đầu tiên nhào xuống và lấy mất mũ của Gid, và xé toang cổ áo cài nút của anh. Hector lôi khẩu súng trường ra bắn loạn xạ về phía lũ chim; một viên đạn sượt qua đội trưởng. “Bỏ súng xuống!” đội trưởng gào lên. “Mày giết người bây giờ.”

Tất cả quan sát bầy diều hâu. Trông chúng chẳng có chút gì giống với những con kền kền gà tây đầu đỏ mà cả đội đã thấy ở hồ Long Glade; chúng là những con chim to lớn, đen đúa và có bướu cổ, khi chúng đập cánh Louis nghĩ tới những chiếc dù đám tang nhễu nước mưa dọc theo những bức tường đá của Nhà thờ St. Agnes trong đám tang ở Clarinda. Bây giờ vài con chim tạo thành đội hình hình tròn quần thảo quanh Gid; trong chớp mắt một con đã hất tung thuốc lá của anh ta, một con khác xé rách tay áo anh từ phần khuỷu tay. Hai con diều hâu miệt mài làm việc để kéo cái giày đen khỏi chân anh. Louis không thể cử động hay nghĩ gì; tâm trí cậu nhẹ bẫng như khí heli. Vị đinh ốc và tiền xu dậy lên trong miệng cậu cho đến khi cậu phát ốm vì nó. Quanh cậu những thợ máy trục đang gào “Bắn đi!” trên một ụn đất đã trở thành âm thanh như tấm vải mỏng, trùm lên như một mái hiên che cả tàu nạo vét.

Điều trôi qua tâm trí Louis lúc này như vỏ hến của suy nghĩ, một tràng những tiếng “O”, tròn trịa và trống rỗng, như lớp ngoài bị vứt bỏ của những tiếng gào thét. Một mảnh thuỷ tinh nhỏ xinh màu tía đánh dấu vị trí cặp mắt kính của Gid trên boong tàu, Louis quỳ xuống để nhặt nó; khi cảm thấy một vết chích trên cổ, cậu ngước nhìn lên.

Trong một khung cảnh dường như vừa hợp lý lại vừa đáng sợ như giấc mơ tồi tệ nhất của Louis, lũ chim sà xuống chỗ Gideon và quắp móng vuốt của chúng vào da thịt anh; khoảng nửa tá diều hâu nhấc bổng anh lên không trung. Cơ thể Gid nhỏ dần giữa khoảng không quang đãng. Bầu trời hôm nay như một viên ngọc saphia trong veo, thời tiết tốt hơn so với nhiều tuần nay; đã lâu rồi, mọi người mới có thể chứng kiến cái đầu Gid bé tí như một đốm đen, ngả ra phía sau vai, giống như anh ta đang cố tập một tư thế ngoẹo cổ xấu xí.

Một sự im lặng nghẹt thở bao trùm lấy họ. Cảm giác như hàng giờ đồng hồ trôi qua trước khi mọi người có thể cử động.

“Bọn mày đã bao giờ thấy lũ chim làm gì như thế chưa?” Hector hỏi, mặt trời sắp lặn. Giọng anh ta lí nhí như tiếng trẻ con, Louis thấy phải thật sự dũng cảm mới có thể mở mồm ra nói được. Cổ họng Louis khô như sa mạc và dù có cho hàng triệu đô cậu cũng không thể hé nổi một lời. Không, Louis nghĩ, bạn chứng kiến một chuyện như vậy và bạn chìm sâu vào nội tâm; bạn không muốn tạo ra dù chỉ một rung động trong không khí.

“Chưa bao giờ,” gã chuyên nhổ neo nói phía sau cậu. “Chưa bao giờ thấy con chim nào hành động như vậy.” Giọng hắn nhẹ nhàng vui vẻ, cứ như là hắn đang bình phẩm về thời tiết lạnh bất thường, hay là đồ ăn có vị đặc biệt. Hector, trong cơn hoảng loạn, có vẻ không nghe thấy câu trả lời. Vài người vẫn dõi theo chấm nhỏ trên bầu trời nơi Gid đã biến mất phía sau một vệt mây bên đỉnh núi. Trăng đang lên. Lửa đã gần tắt hẳn. Louis, cuối cùng cũng có thể vượt qua sự cứng họng tăm tối, bao la của bản thân, đã nhận ra điều thú vị mà cậu chỉ cho những người còn lại: bầy diều hâu đang quay trở lại.

Mọi người bắt đầu la hét, lắp bắp những lời vô nghĩa; vài người nhảy ùm ra khỏi tàu. Louis nghe thấy tiếng tay đập ướt át, điên cuồng lên mặt nước. Bầy chim lúc này đã nuốt chửng tàu nạo vét. Chúng đậu trên khắp giàn thép và mũi tàu và trên cả mái buồng điền khiển, khiến cho cả khối cấu trúc trông như được bọc bởi vải nhung đen; Louis thấy có nhiều chim như vậy trên thế giới này dường như thật quá phi lý. Cậu nhìn một con diều hâu trông to như con người nâng và giang cánh; một vật gì đó hay một phần cơ thể Gid loé sáng trên mỏ nó rồi rơi xuống nước. Sau cùng, Louis cảm thấy một tiếng hét xé lòng thoát ra từ cổ họng cậu.

“Ôi, im đi. Chúng nó chỉ là chim thôi mà,” Theodore, tay kĩ sư cao ráo, vàng vọt cáu kỉnh nhắc đi nhắc lại, làm điệu bộ dù chẳng hướng về ai. “Chúng chỉ là mấy con diều hâu bẩn thỉu. Chúng lẽ ra không thể làm hại chúng ta được—dù sao đi nữa, mọi người, chúng ta còn sống. . . .” Anh ta cứ tiếp tục thế trong khi bầy diều hâu cứ mỗi lúc một đông. Làm sao mà chúng vẫn tới được? Louis tự hỏi. Hàng trăm con nữa đang tới. Cậu đứng đó và chờ đợi, mặt ngẩng lên tái mét. Theodore vẫn đang vung tay lung tung, như thể anh ta có thể tranh cãi để đoạt lại mạng sống của mình đem cất vào lỗ trên mặt trăng.

“Chúng tới rồi, anh em,” Louis Thanksgiving khẽ nói, bên cạnh cậu Theodore khịt mũi chán nản và khoanh tay trước ngực ra vẻ anh ta mất kiên nhẫn để chứng minh điều gì đó.

Chúa ơi, Louis nghĩ. Cậu không còn cảm thấy sợ hãi nữa—chỉ còn nỗi buồn thuần tuý, bởi cậu mới mười bảy tuổi vào mùa hè này và cậu chưa muốn rời đi. Cuộc sống thực sự của cậu mới chỉ bắt đầu chưa được đầy một năm. Tiếp theo là mình.


(1) ND: cuộc Đại suy thoái kinh tế toàn cầu diễn ra từ năm 1929 cho tới đầu thập kỷ 1940.

(2) ND: nguyên văn “a tar carnation”, có lẽ tác giả sử dụng tiếng lóng ý nói loại thuốc lá cuộn tối màu.

(3) ND: phương pháp chụp ảnh mang tên nhà sáng chế người Pháp, Louis Daguerre.

(4) ND: Robert Edward Lee, đại tướng Liên minh miền Nam trong Nội chiến Mỹ 1861-1865.

 (5) ND: Civilian Conservation Corps do Tổng thống Franklin D. Roosevelt thành lập năm 1933.

(6) ND: nguyên văn “lantern jawline”: hàm vuông như đèn lồng.

(7) ND: một địa danh ở bang South Carolina, Mỹ.

(8) ND: Gulf Coast, vùng biển phía Nam nước Mỹ.

Copyright © 2010 by Karen Russell.

ThKh chuyển ngữ không có sự đồng ý của tác giả.

———-

ThKh – 2019

ThKh là một bút danh khác của ChuKim, một người viết tự do, sống và yêu tại một ngôi làng mang tên thành phố. Nếu có thể, hãy ủng hộ và khích lệ bằng cách đọc và chia sẻ những gì anh viết trong khả năng của bạn. Xin cảm ơn.

– natchukim.cogaihu@gmail.com –

PS: Tất cả nội dung trong blog này đều được tuyên bố quyền sở hữu và quyền tác giả về nội dung, ngoại trừ những bài sưu tầm có đề rõ. Mọi trích dẫn, đăng lại, vui lòng ghi rõ nguồn. 

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s