Truyện ngắn: Khoa học của sự trốn chạy – Yiyun Li

Yiyun Li (李翊雲– Lý Dực Vân, 1972-) là nhà văn người Mỹ gốc Hoa. Các truyện ngắn và tiểu luận của bà được đăng trên tạp chí The New Yorker, The Paris Reveiw, và Zoetrope: All-Story. Hai truyện ngắn trong tập truyện ngắn đầu tay, A thousand years of good prayers (2005), của bà được chuyển thể thành phim cùng tên do Vương Dĩnh (王穎– Wayne Wang) đạo diễn. Yiyun Li đã xuất bản hai tập truyện ngắn và ba tiểu thuyết, trong đó tiểu thuyết mới nhất của bà, Where reasons ends, ra mắt tháng Hai, 2019. Bà hiện giảng dạy tại Đại học California, Davis và Trung tâm Lewis của Đại học Princeton.

Yiyun Li (Grafilu - newyorker.com)

Tranh: Grafilu – newyorker.com

‘Khoa học của sự chốn chạy’ (The science of flight) là truyện ngắn của Yiyun Li được đăng trong tuyển tập 20 under 40 (2010) của tạp chí The New Yorker. 


Khoa học của sự chốn chạy

 

Trong bữa trưa, Zichen nói với hai đồng nghiệp của cô rằng cô đang cân nhắc một địa điểm mới cho kì nghỉ của mình. Năm nay cảm hứng phiêu lưu hơn hở? Ted nói. Từ khi Zichen bắt đầu làm việc cùng Henry và Ted, mười ba năm trước, cô thường nghỉ phép hai tuần vào tháng Mười một để về Trung Quốc—chốn ẩn cư cho giấc ngủ đông của cô, như Ted vẫn gọi thế. Đi Anh, lần này cô trả lời khi anh hỏi, và cô tự hỏi phương án nào nghe phiêu lưu hơn đối với đồng nghiệp của cô, Anh hay Trung Quốc?

Yiyun Li - The Science of Flight (minh hoạ - Jordan Awan - newyorker.com)

Minh hoạ: Jordan Awan – newyorker.com

Henry bị đưa tới Việt Nam ở tuổi mười tám, và trở về Iowa sáu tháng sau, ruột bị cắt mất một đoạn; mười chín tuổi, hồi phục tạm ổn, ông cưới mối tình thời trung học của mình. Mùa hè nào ông và bà Caroline cũng dành ba tuần ở một căn nhà nhỏ bên hồ ở Wisconsin cùng con cháu. Nơi xa nhất mà Ted từng đến là Chicago. Vài năm trước, anh đưa con gái đến đó tham dự giải bóng chuyền các trường trung học; đội của con bé thua trận chung kết, và dù bây giờ con gái anh đã là sinh viên năm cuối ở trường đại học của bang thì Ted vẫn cho rằng Chicago là nguyên nhân của nỗi thất vọng ấy.

Có gì để xem ở Anh vào tháng Mười một? Ted hỏi. Zichen không trả lời, bởi cô có nói gì thì cũng đều lệch khỏi kì vọng của ông. Mấy năm vừa rồi, ông đã hung hăng thắc mắc rằng có cái gì để xem ở Trung Quốc, và Henry luôn là người làm Ted trật tự. Giống như những người quen khác của Zichen ở Mỹ, họ được dẫn dắt để tin rằng cô có một cặp cha mẹở Trung Quốc, và rằng, như nhiều người khác, cô đã tạo khoảng cách với cha mẹ mình, tiết giảm nghĩa vụ làm con xuống thành một chuyến viếng thăm hai tuần mỗi năm.

Trung Quốc thì sao? Henry hỏi, đặt bữa trưa của ông—một cái bánh sandwich, một bình súp, và một quả chuối—lên một cái khăn giấy. Thời gian trong Quân ngũ đã dạy ông giữ mọi thứ trong cuộc sống theo trật tự. Henry là một người ngăn nắp, áo khoác phòng thí nghiệm của ông sạch sẽ, phần tóc vương lại được chải và tách ra tỉ mỉ; ông kiệm lời, nhưng nói đủ nhiều để không trở nên sưng xỉa.

Bố mẹ cô sẽ đi tour du lịch tới Thái Lan cùng một nhóm hưu trí, Zichen nói. Tại sao cô không gặp họ ở Thái Lan nhỉ? Ted yêu sách, và dự đoán rằng cô sẽ chẳng xem được gì ở Anh ngoài mưa và cái lạnh và những người quá lịch sự để bảo cô nhắc lại tên mình.

Có lý do để tới thăm một nơi mà cái tên của một người là không thể phát âm nổi, Zichen nghĩ, chỉ như việc có một lý do rằng cha mẹ cô vẫn tiếp tục chung sống trong tâm trí con gái họ. Một tháng kể từ bây giờ, Zichen biết cô thà thuật lại những câu chuyện về chuyến đi của cha mẹ mình tới Thái Lan còn hơn kể với Henry và Ted về nước Anh: điểm họp chợ đông vui sau khi màn đêm buông xuống, buổi diễn cabaret mà họ không thích nhưng cảm thấy bắt buộc phải thưởng thức vì thấy bảo đó là điểm nhấn của tour, giường ở khách sạn quá cứng, hoặc có thể quá mềm. Có những khoảnh khắc khác, cũng là tưởng tượng, dù vậy cô sẽ giữ cho riêng mình: cha cô nằng nặc chia đôi suất ăn trong nhà hàng vì ông không muốn phải mua hai suất, mẹ cô soi thấy một hạt gạo trên tay áo cha cô nhưng không nói gì. Họ là một trong số những cặp đôi đã kết hôn khi còn rất trẻ, và đã, qua nhiều năm, rèn luyện cho riêng mình cách sống với sai lầm ấy, với ông ấy là sự gia trưởng, còn với bà ấy là sự khinh bỉ câm lặng.

 

Henry, Ted, và Zichen làm việc tại một trung tâm chăm sóc động vật, trong một toà nhà xây gạch hai tầng cạnh một cơ sở nghiên cứu từng là bệnh xá cho bệnh nhân lao một trăm năm trước. Vì họ ở bên rìa của một thị trấn đại học—cơ cở, một khu vực vệ tinh nơi thực hiện các dự án của trường y, ở trung tâm của những cánh đồng ngô—ba người bọn họ qua nhiều năm đã ít nhiều trở thành một đơn vị độc lập. Janice, người giám sát, một người phụ nữ cao gầy nhẳngluôn tự hào về sự công bằng và tính hiệu quả tột bậccủa bản thân, tới để kiểm tra định kì mỗi tuần một lần; bác sĩ Wilson, vị bác sĩ điều trị thú y, một người đàn ông thân thiện và đãng trí, sắp nghỉ hưu bất kì lúc nào. Cuộc khủng hoảng duy nhất từ khi Zichen bắt đầu làm việc ở đây-nếu không tính thời gian nguồn nước bị ô nhiễm và năm mươi lồng chuột bị viêm gan, hay dịp việc chăm vật nuôi chệch choạc, và ngày đáo hạn trôi qua mà không có lứa con non mới nào, hoặc tệ hơn, có một con chuột mẹ ghê tởm ăn thịt chính lũ con đẻ của nó—là khi một nhóm nhà hoạt động vì quyền động vật cố gắng đột nhập vào toà nhà trong dịp giao thừa đón thiên niên kỷ mới. Họ bỏ cuộc khi chuông báo động réo, và thay vào đó đã giải phóng lũ chồn nâu bị nhốt trong chuồng khỏi một trang trại cách đó ba mươi dặm về phía Tây theocon đường làng. Người nông dân và gia đình ông thu hồi được dưới một phần ba số bị mất, báo địa phương tường thuật. Số chồn nâu còn lại, người nông dân nói với tờ Gazette, sẽ không sống sót nổi qua mùa đông của miền Trung Tây và quá nhiều thiên địch.

Zichen đang đọc báo trong văn phòng, ngẫm nghĩ về số phận của lũ chồn nâu vô gia cư, khi Henry, nhìn qua vai cô, nói ông và người nông dân học cùng trường trung học. Cô sắp sửa bày tỏ sự thông cảm của mình với bạn học cũ của ông khi Henry nhắc lại chuyện gã đó từng có lần theo đuổi Caroline khi ông đang ở Việt Nam. Cô thấy vui vì Caroline đã không cưới ông nông dân nuôi chồn nâu, Zichen nói, cả Henry cũng nói vậy, mặc dù khi nghĩ về điều đó, có thể Caroine sẽ không phiền nếu có một cái áo khoác lông chồn. Ted, đi vào văn phòng với một xấp dải băng ngăn đường màu vàng để sắp xếp và tình cờ nghe được câu chuyện, nhắc Henry rằng bà vợ của tay nông dân nuôi chồn nâu không mặc áo lông chồn, giống như con cái người thợ sửa giày mà không có giày(1). Như thế nghĩa là sao? Zichen hỏi. Khi cô được giải thích về cách diễn đạt, cô nghĩ về cách mà bà ngoại cô vẫn thường cắt tóc cho cô ngắn hơn cả tóc con trai, cả hè lẫn đông, nhưng đó không phải là một câu chuyện hay ho để kể ở văn phòng.

Zichen lớn lên trong tiệm làm tóc của bà ngoại—một cái lán nhỏ thì đúng hơn, ở lối vào của một khu tổ hợp chung cư, với một tấm ván gỗ xếp lên hai chồng gạch dùng làm ghế băng cho khách ngồi đợi, một cái ghế gấp đặt trước tấm gương treo lên cái xà ngang tầm thấp, và một cái chậu rửa tay tạm bợ, đặt cạnh một cái ấm nước lúc nào cũng được giữ ấm trên bếp than. Trên chiếc rèm ngăn cách cửa tiệm với giường ngủ của Zichen và bà ngoại cô, có in hình mấy con thỏ, màu trắng trên nền màu lục-vàng. Trong lán không có cửa sổ, và một cái đèn tuýp bật sáng từ khi cửa tiệm của bà ngoại cô mở cửa cho đến tận cuối ngày, làm cho mọi vật nhuốm sắc trắng-xanh thường trực.

Điều mà bà ngoại đã nói rõ với Zichen từ những năm đầu đời là bà lẽ ra đã có thể có một cuộc sống dễ chịu hơn khi về già: hai người bác của Zichen—anh trai của mẹ cô—đáng lẽ phải phụng dưỡng mẹ họ đủ đầy, và giữa hai gia đình bọn họ phải thấy rằng bà đã nghỉ hưu hẳn hoi rồi. Nhưng làm sao chúng ta có thể bắt mấy thằng con trai của chúng ta phải chịu gánh nặng là một đứa  trẻ như thế? bà ngoại cô thường hỏi khách hàng của mình, trong thời gian Zichen ở cửa tiệm tập ngồi và rồi tập đi, rồi sau đó là phụ giúp bà ngoại, đưa cho bà khăn ấm hoặc lau chùi gạt tàn—hai cái bát trung quốc màu lam-trắng đặt ở mỗi đầu ghế băng, vành sứt mẻ, đầy đầu thuốc lá cháy dở và vết tàn tro—đã chẳng bao giờ làm nguôi ngoai được cú shock do sự hiện diện của đứa trẻ mang lại. Nó mà mồ côi thì đã đi một nhẽ, bà ngoại cô sẽ nói; một trong hai ông bác nhận nuôi đứa trẻ mồ côi là điều hợp lý, câu này ai nghe cũng sẵn sàng đồng tình. Thực tế, một người đàn bà bỏ nhà đi theo trai chống lại ý nguyện của gia đình, sinh ra một đứa con ngoài giá thú—người mẹ như thế lẽ ra đã làm được nhiều hơn cho con mình nếu chết luôn khi sinh nở.

Zichen không mất nhiều thời gian để ghép nối câu chuyện cho riêng mình từ những lời ám chỉ của bà ngoại cô và mấy người bác và cả khách hàng rồi hàng xóm: rằng bà ngoại đồng ý nuôi cô với điều kiện mẹ cô phải chấm dứt mọi sự liên hệ với gia đình; rằng một cặp đôi đã từng đến tiệm một lần để quan sát cô, nhưng rồi quyết định không nhận nuôi cô; rằng cô mắc nợ cuộc đời này tới không chỉ bà ngoại, người đã làm việc cực nhọc ở độ tuổi mà những người phụ nữ khác được nghỉ ngơi, mà còn cả những người khách quen của bà ngoại cô vì trách nhiệm mà họ cảm thấy cần có đối với cô.

Ngồi trên một cái ghế đẩu mây tre trong góc và lắng nghe về vận số của bản thân, cả may lẫn rủi, tranh luận, Zichen ngấm ngầm dịch chân tạo ra những đụn tóc theo một quy luật của mình cô. Chắc chắn trò chơi sẽ bị những cú đưa chổi của bà ngoại cô làm ngắt quãng, nhưng kể cả như vậy cũng không làm Zichen phiền lòng, sự đổ vỡ của những đồi tóc nhỏ bé cũng là một phần của kế hoạch. Đừng cười toe toét như một đứa ngốc nữa, bà ngoại thỉnh thoảng nói với Zichen, quay ra từ những đường kéo, và Zichen sẽ làm mặt thẳng đơ, nhưng khi bà ngoại quay lại với khách hàng cô lại mìm cười với tấm lưng của một ông đang cạo được nửa đầu, hoặc với dây giày của ai đó đang ngồi chờ trên ghế băng. Con bé lấy đâu ra điệu cười như thế trên đời cơ chứ? bà ngoại cô càm ràm với mấy người khách. Một người sẽ nghĩ rằng đứa trẻ như thế nên biết cách để mọi người quên nó đi trong giây lát.

 

Ngôi nhà Hydrangea, một căn nhà gỗ thế kỉ mười sáu, từng là nhà của một gia đình trong nhiều thế hệ trước khi được chuyển đổi thành một nhà trọ B&B(2); Zichen tự hỏi, khi đang đọc thông tin trên trang Web, cuộc đổi thay đã diễn ra như thế nào. Có thể người chủ sẽ kể cho cô khi cô hỏi—nếu không phải toàn bộ câu chuyện, thì dầu là từng mẩu từng mảnh sẽ vẫn làm cô vui thích.

Trên trang Web, không có bức ảnh nào cùng loại mà những nơi khác, vốn có tư tưởng quản lý kinh doanh rõ nét hơn, trưng ra: những đoá hoa nở trong vườn hay những cánh rèm màu nhạt phất phơ trong ngọn gió vô hình. Thay vào đó, một bức vẽ nhỏ của ngôi nhà, bằng mực hoặc có thể là chì, chẳng thể hiện gì nhiều ngoài một bức tường mặt tiền sơn trắng và bốn cửa sổ hình chữ nhật. Nó được giới thiệu rằng “chưa bao giờ là một ngôi nhà lớn”; hai phòng, Phòng Hoa hồng và Phòng Hoa tử đinh hương, đều trống khách trên lầu.

Cung cách khiêm nhường, gần như tạ lỗi khi Ngôi nhà Hydrangea tự quảng cáokhiến Zichen dễ dàng quyết định chọn nó. Chuyến đi tới nước Anh, bất chấp sự băn khoăn của Henry và sự phản đối của Ted, đang trở nên chắc chắn trong tâm trí cô. Ngày mai cô sẽ mua vé máy bay; tuần sau cô sẽ gọi điện đặt phòng.

Trái với niềm tin của Henry và Ted, Zichen không phải một người có kinh nghiệm mà cũng chẳng nhiệt thành du lịch. Vào mùa hè mà cô bắt đầu làm việc ở trung tâm chăm sóc động vật, Ted đã mời cô, cùng Caroline và Henry, tham gia một buổi picnic vào dịp mùng Bốn tháng Bảy(3). Cô đã xin lỗi và trả lời rằng cô cần đi tới cùng Đông Duyên hải để thăm chồng, người trước đó mới vừa hoàn thành văn bằng sau đại học và chuyển đi vì công việc.

Trước cuối tuần nghỉ lễ, cô mua nhiều đồ ăn hơn mức cô có thể tiêu thụ, và trong bốn ngày cô ẩn thân trong căn hộ của mình và chậm rãi đọc một bản tiếng Latin những phát ngôn của Cicero(4). Cô chọn cuốn sách từ thư viện chẳng vì ý tưởng lớn lao nào mà cô có thể thu nhặt từ chữ nghĩa; đôi khi cô quên khuấy một câu trong khoảnh khắc cô hiểu ra ý nghĩa của nó. Nhưng nỗ lực tìm ra ý nghĩa của điều gì đó vừa nhìn đã hiểu ngay làm cô thấy thoả mãn không thể lý giải nổi, cũng như cả quá trình chậm rãi của hoạt động ấy: một hay hai giờ sẽ trôi qua khi cô đi qua một đoạn văn về một cuộc chiến; một ngày tưởng chừng rất dài đã trôi qua rất nhanh.

Sở thích của cô với một tử ngữ là một trong những điều mà chồng cô đem ra chống lại cô khi anh ta đòi ly dị, nó không khiến Zichen ngạc nhiên mà cũng chẳng hề thất vọng. Có một trật tự những điều mà mọi cặp đôi nhập cư như họ phải làm, anh ta có lần giải thích cho cô. Họ sẽ bắt đầu xây dựng gia đình một khi họ thực sự tạo ra nó, anh ta nói nhẹ tênh khi đứa bé mà Zichen rất chờ mong, một cái thai ngoài ý muốn của cha nó, bị sảy. Anh ta lên kế hoạch cho cô đi học cao học để trở thành một người làm thống kế, hoặc một người kế toán, hoặc một y tá, một phần của trật tự những thứ sẽ giúp cho cuộc sống của họ ở đất nước mới; anh ta sắp hoàn thành bằng Tiến sĩ toán, và có mục tiêu làm việc ở Phố Wall. Zichen, chẳng bao giờ tranh cãi, vì tranh cãi không có trong máu của cô, tuy vậy cô bỏ qua bản thiết kế của anh ta cho sự nghiệp của cô với sự phản kháng không giấu diếm. Những tờ giấy nhớ học từ vựng tiếng Latin của cô chẳng được tích sự gì cả, anh ta đã hét vào mặt cô—chỉ một lần duy nhất, quát tháo cũng không có trong máu anh ta—khi cô làm anh ta cảm thấy bị sỉ nhụcvì đã lỡ mất buổi thi G.R.E. anh ta đăng kí cho cô, lãng phí mất hơn một trăm đô, nửa tháng tiền thuê nhà.

Cuộc hôn nhân nhanh chóng kết thúc trước khi anh ta chuyển đi, nhưng Zichen vẫn lấy anh ta làm lý do thoái thác cho mình khỏi đời sống xã hội trong hai năm. Thật là láo. Khi cô nói dối Henry và Ted, cô có thể nghe thấy tiếng bà ngoại mình, những lời mà bà sẽ nói sau khi Zichen đọc to sổ liên lạc của mình trong tiệm. Không tập trung, năm nào thầy cô giáo cũng nhận xét như thế; thiếu nhiệt tình học tập và tham gia các hoạt động trường lớp. Điểm số của cô khiêm tốn, chỉ vừa đủ để lên lớp. Con sẽ làm được gì ở đời nếu con không chịu học hành tử tế? các khách hàng của bà ngoại cô không ngừng hỏi; không biết trả lời sao, cô sẽ mỉm cười mặc dù cô không hiểu câu hỏi ấy, và chính nụ cười ấy chứ không phải điểm số làm cho cô có vẻ là đứa vượt quá tầm dạy bảo.

Zichen thông báo vắn tắt choHenry và Ted về việc ly hôn của mình vào năm thứ ba ở chỗ làm, khi thấy không phải lắm khi cứ tiếp tục nói dối về một cuộc hôn nhân đã không còn tồn tại. Nhưng một người chồng cũ thì dễ để kết thúc và không bao giờ phải nhắc lại nữa, trong khi một cặp cha mẹ, kể cả nếu họ sống ở một châu lục khác, thì cần được duy trì cẩn thận: một chuyến thăm hàng năm; những cuộc điện thoại đem tới tin tức từ Trung Quốc; quà cáp cho gia đình—nhân sâm Wisconsin cho cha cô, kem chống lão hoá cho mẹ cô.

Năm nay cô có thể dễ dàng thực hiện một chuyến đi quen thuộc về Trung Quốc, một thói quen kiên cố, vì thế mà tạo ra một mối băn khoăn hay lưỡng lự nho nhỏ, nhưng thực tế là cái lán nơi bà ngoại cô mở cửa tiệm đã bị phá bỏ, còn bà thì chỉ còn ở trong một bình đựng tro cốt. Bà ngoại cô đã sống trong tiệm cho đến trước khi chết một tháng, ở tuổi chín mươi ba, và Zichen biết chừng nào bà còn sống ở đó thì tiệm sẽ vẫn mở cửa mỗi sáng, bóng đèn tuýp vẫn bật cho đến khi đóng cửa, giống như trong suốt những chuyến thăm nhà hàng năm của cô. Tin bà mất đến với Zichen sau đám tang; cô đã không được báo về dự, cô biết cả mẹ cô cũng vậy. Cả hai người họ, hơn là chỉ một mình cô goá phụ trẻ, bị trách móc vì đã làm cho cuộc đời bà ngoại thật vất vả; cả hai người họ là nỗi thất vọng của bà cụ già, người con gái đã làm cả gia đình phải chịu nhục nhã, đứa cháu gái đã bốc đồng kết hôn với một người đàn ông nó mới gặp hai lần và chẳng duy trì được cuộc hôn nhân quá ba năm.

 

Nhà trọ B&B nằm ở ngồi làng tên là Neville Hill (Đồi Neville – ND), cách Brighton khá xa, nhưng để đơn giản hoá vấn đề, Zichen kể với Ted và Henry thằng Brighton là điểm đến cuối cùng của cô. Họ đang ăn trưa cùng nhau, tận hưởng một ngày cuối thu ấm áp trước khi gió lạnh đầu mùa tràn về. Cô mô tả những nơi mình muốn tham quan: đường lát đá bên bờ biển, bãi biển, eo biển Manche.

“Bây giờ nhé, giải thích hai điều cho tôi,” Ted nói, trong một khoảnh khắc Zichen nghĩ Henry trông rất nhẹ nhõm vì đã có người đối đầu với cô, việc mà ông sẽ chẳng bao giờ làm. “Đầu tiền, tại sao cô lại đi biển vào mùa đông?”

Tháng Mười một chưa phải mùa đông, Zichen phản bác, và Ted khẽ gật đầu với cô kèm theo một nụ cười đắc thắng như thể anh đã lùa được con chuột tháo chạy mà Zichen không tài nào bắt nổi.Hiếm khi có con chuột nào lọt nổi khỏi bàn tay cô(5), và khi điều đó xảy ra—chỉ vài lần trong những năm qua—Ted sẽ nói suốt về nó trong nhiều ngày sau đó với niềm hân hoan như trẻ nhỏ. Khi cô chạm vào một con vật, nó có thể biết ngay là cô đang hồi hộp hay cô làm chủ tình hình, Henry đã giải thích cho Zichen khi đào tạo cô. Ted, trong những tuần đầu tiên, thường kiếm cô và kể cho cô nghe những chuyện kì dị rợn tóc gáy; chuyện ưa thích của anh kể về một cái máy chém đầu chuột tự chế mà anh và Henry đã làm ra để phục vụ cho nghiên cứu của một nhà thần kinh học. Nhưng thật đáng ngạc nhiên cho những người đồng nghiệp của Zichen là cô chẳng bao giờ tỏ vẻ hoang mang. Cô ứng cử công việc này khi họ tuyển người vì cô chẳng có kĩ năng có thể sinh lời nào khác, nhưng nhìn lại đời mình cô tự hỏi liệu rằng có phải cô đã tìm thấy nghề nghiệp phù hợp nhờ tình cờ may mắn. Ngay từ đầu, cô đã kẹp tai chuột nhỏ hay chuẩn bị chuột lớn để cấy ghép da một cách đầy khéo léo cứ như là cô đã làm việc với động vật từ thưở nào rồi. Thậm chí cả những loài có vú to lớn hơn cũng không làm khó được cô: mấy con khỉ là hét trong lồng và làm mặt quái đản khi cô đến cho ăn hay tắm cho chúng, mấy con chó có vẻ ngoài tuyệt vọng chẳng mấy khi sủa. Sau khoá đào tạo, Henry bảo cô rằng ông và Ted sẽ chia nhỏ việc chăm sóc lũ động vật có vú cỡ lớn vì họ nghĩ cô quá nhỏ con, ví dụ, cho việc tự mình cô xử lý một cái xác nặng ba mươi pound. Nữ hoàng Gặm nhấm—vào ngày sinh nhật lần thứ ba mươi của cô, họ để trên bàn cô một cái vương miện đồ chơi, dòng chữ viết nguệch ngoạc lên bằng bút dạ không chùi được.

“Còn bây giờ, mùa đông hay không phải mùa đông,” Ted nói. “Tại sao cô lại đi Anh có một mình?”

Mọi người đi du lịch một mình đầy ra, Zichen trả lời, và chẳng có gì sai ở đây cả.

“Nhưng cô sẽ làm gì ở một nơi mà cô chẳng quen ai hết?”

“Làm sao anh biết tôi không quen ai ở đó?” Zichen đáp lời, vừa mở mồm ra nói là cô đã thấy hối hận rồi. Nhiều năm qua cô đã quen với việc cô là ai trong mắt mọi người: cô biết cô bị những người Trung Quốc cô quen ở Mỹ coi là một kẻ thất bại, một phụ nữ ly hôn làm việc cực nhọc ở một cơ sở chăm sóc động vật, một người không thành công trong cuộc sống; trong mắt người chủ nhà và hàng sóm cô là một người trầm lặng, một người ngoại quốc lịch sự luôn trả tiền thuê nhà đúng hạn, người mà Halloween năm nào cũng để ngoài cửa một cặp bí ngô, không chạm khắc nhưng có hình vẽ mắt miệng, và là người không có khách ghé vào cuối tuần hay ngày nghỉ, cho nên không có chuyện xích mích về chỗ để xe cho khách; với bà ngoại cô và những khách hàng lớn tuổi của bà, những người dành cả ngày ở trong lán để kết bạn và buôn chuyện hơn là chăm sóc cho mái tóc lưa thưa hay cái đầu hói của họ, cô là—trừ việc là một đứa bé nên chui lại vào trong bụng mẹ, một đứa trẻ không mấy lanh lợi và có cung cách ghê ghê, và một phụ nữ trẻ chẳng hề tôn trọng chuyện hôn nhân hay chính tương lai của mình—một minh chứng, sau tất cả, cho sự độ lượng tối hậucủa cuộc đời. Cô đã có thể xây dựng một cuộc đời bỏ qua những khiếm khuyết, để gửi tiền cho bà ngoại, để trở về hàng năm như một con chim câu nhớ nhà và lại ngồi với những người khách già cả, vẫn với nụ cười ghê ghê trên khuôn mặt dù họ đã chẳng còn quan tâm nữa; chỉ đơn giản là ngồi với họ và nghe họ tha thứ cho Zichen khỏi mọi tội lỗi có thể.

Nhưng nói về con người cô trong mắt Henry và Ted khiến cô yêu thích bậc nhất: chắc tay và hiệu quả trong công việc, im lặngnhưng đôi khi cũng biết nói chuyện, không phức tạp. Chuyện cô nhớ được những đoạn văn trong cuốn “Winnie-the-Pooh”, rằng cô đọc cuốn ấy bằng bản dịch tiếng Latin trước khi đọc bản tiếng Anh, thì cô không chia sẻ với họ, vì điều đó sẽ biến cô trở thành một kẻ kì quặc trong mắt họ. Thứ khiến cô hài lòng—đụn phoi bào gỗ làm đệm ngủ cho đám thú mà cô đã vun thành những ngọn đồi nho nhỏ; thời gian cô dành để tưởng tượng ra chồng cũ trong một căn nhà ngoại ô màu xanh nhạt ở New Jersey, hai đứa con trai của anh ta lớn lên và qua từng năm trông lại càng giống anh ta hơn, cô vợ mới không bị lão hoá của anh ta; cuộc hôn nhân mà cô đã tạo ra cho cha cô, người cô chưa từng biết, và mẹ cô, người cô mới chỉ gặp một lần, trong một căn hộ một phòng ngủ trong khu dân cư lâu đời ở Bắc Kinh—là những điều mà cô không chia sẻ với Henry và Ted, bởi họ sẽ biến cô trở thành một người có lịch sử, trong lúc này hay lúc khác, ở nơi này hay nơi khác.

“Vậy là, cô sẽ đi gặp người nào đó ở Anh à?” Ted hỏi.

“Không,” Zichen đáp. “Tại sao tôi nên làm thế?”

Tông giọng đối đầu không thường xuất hiện trong câu trả lời của cô khiến Ted chùn bước, kiểu như là anh đã tọc mạch. Anh nhún vai và, bằng một cử chỉ rất kịch, ném cái bánh sandwich ăn dở của anh cho một con sóc. Nhiều năm trước, Molly, vợ Ted, đã hỏi Zichen liệu cô có muốn gặp gỡ ai đó mà cô biết đang độc thân chăng; vợ của Henry, Caroline, đã một hai lần nhắc đến bác sĩ nha khoa người Trung Quốc của bà, đã ly dị, theo như lời người quản lý văn phòng của anh ta. Khi Zichen không theo đuổi cả hai hướng, hai người phụ nữ ấy không thúc ép cô. Henry và Ted chẳng bao giờ hỏi về đời tư của cô. Sự thoải mái hoà mình vào không khí mà ba người họ thiết lập khiến đời sống bên ngoài công việc của cô không có gì liên quan, và cô thích hình dung cho họ rằng đó là chuyện rất tự nhiên khi cô ngừng hiện hữu vào thời khắc mà cô rời chỗ làm cũng như chuyện rất tự nhiên khi cô có thể lo việc cho bọn động vật một cách tự tin và bình tĩnh. Lần duy nhất họ cảm thấy không thoải mái là lúc Henry lần đầu hướng dẫn cô nhân giống lũ chuột—ông đã đề nghị Ted có mặt khi ông chỉ cho cô cách phát hiện dịch làm nghẽn âm đạo, bằng chứng của việc giao hợp thành công. Đỏ sẫm, Henry chụp lấy vài con cái để cho Zichen xem phần kín của chúng, rồi giải thích rằng thỉnh thoảng chất dịch không đảm bảo đã thụ thai thành công. Ted, đang sắp xếp lại biểu đồ của các lồng với vẻ tập trung, vẫn giữ sự im lặng bất thường với một chủ đề mà anh vào lúc khác có thể đùa cợt cùng Henry.

Liệu Ted có thấy bị công kích bởi phản ứng đột ngột của cô không nhỉ, Zichen tự hỏi, nhưng cô không tài nào tìm được lời lẽ để xoa dịu tình hình trong khi anh vẫn tiếp tục huýt sáo gọi con sóc, nó đang phớt lờ sự hào phóng của anh. Cô đã không khéo léo mở ra một cánh cửa và rồi vụng về đóng sầm nó lại, nhưng có thể vài tổn thương đã thành thật mất rồi.

“Cô sẽ ổn thôi,” Henry nói khi rõ ràng là Ted sẽ không dành phần còn lại trong giờ nghỉ trưa cho một trong những chủ đề yêu thích của anh, trận bóng rổ sắp tới hay một trận đấu vật. “Khi cô nghĩ về điều đó, tôi đã được chia sẻ xem nhiều bức ảnh Trung Quốc rồi nhưng ảnh nước Anh thì chưa hề.”

Zichen chụp ảnh khi cô đi du lịch Trung Quốc, chụp những thứ cô hình dung Henry có thể thích xem, hoặc những cảnh tượng kì lạ có thể tạo cho Ted một cơ hội để phê bình. Vâng, cô đồng ý. Nước Anh sẽ là một thay đổi tốt. Rồi cô phủi hết vụn bánh trên cái bàn dã ngoại để hôm sau không có kiến bò đầy trên chỗ của họ. Trước khi cô nhập hội, Henry và Ted thường ăn trong văn phòng, cửa mở ra cái hành lang lúc nào cũng có mùi chất tẩy trắng, thuốc viên chống chuột, chỗ ngủ ẩm ướt và cả động vật chết; họ dường như không lấy đó làm phiền, nhưng Henry nhận ra Zichen thường ngồi trên mấy bậc cấp phía trước toà nhà để ăn trưa, ông bèn yêu cầu một cái bàn dã ngoại để cải thiện môi trường làm việc của họ.

 

Josephina, nữ chủ nhân của Ngôi nhà Hydrangea, nói chuyện rất dễ chịu trên điện thoại. Nếu bà ta có thấy tò mò tại sao một phụ nữ từ nước Mỹ với cái tên Trung Quốc không thể phát âm nổi lại muốn dành hai tuần ở Neville Hill thì bà cũng không để lộ. Zichen tự hỏi, sau cuộc điện thoại, liệu suy nghĩ ấy có được chia sẻ với chồng Josephina không; cô tự hỏi liệu họ có quyết định rằng thắc mắc ấy chẳng nghĩa lý gì trong việc kinh doanh nhà nghỉ B&B.

Khi cô tới làng Neville Hill, Zichen sẽ giải thích cho chủ nhân rằng cô tới để tưởng nhớ một người phụ nữ lớn tuổi đã làm bạn với cô khi cô mới chuyển tới Mỹ. Margaret là tên bà ấy. Bà ấy đã trải qua tuổi thơ ở Neville Hill trước khi cưới một mục sư người Mỹ, ông John Hubor, và đã sống ở Mỹ năm mươi ba năm. Liệu cặp vợ chồng ở Ngôi nhà Hydrangea có cố công truy dấu một cô gái ở làng trong quá khứ, đã bỏ đi, dời làng theo cuộc hôn nhân sau chiến tranh? Có thể họ từng nghe về một cô gái tên là Margaret, hoặc có thể họ sẽ xin lỗi vì chảng có chút hồi ức nào. Sự thực là, cái tên Neville Hill chưa bao giờ được nhắc tới trong những cuộc nói chuyện của Zichen với bà Margaret, ngay cả khi Zichen chưa quyết định đi tới Neville Hill, cô tìm hiểu thấy ngôi làng ấy trung khớp với mô tả của bà lão: chuyến dã ngoại của trường học tới làng Seaford là đi bộ, những chuyến xe tới Brighton chỉ dành cho những dịp đặc biệt của gia đình.

Đó là mùa xuân năm 1994 khi Zichen gặp bà Margaret và ông John, trong siêu thị; mùa xuân năm 1995 bà Margaret được chôn cất ở một nghĩa trang bên sườn đồi. Trong lối đi giữa những kệ đựng đường, bột mì, và dụng cụ nấu bếp, bà Margaret nhầm Zichen với một sinh viên Trung Quốc bà quen, người đã tốt nghiệp và chuyển tới California; ông John đã ngỏ lời mời Zichen kết bạn với họ, giống như với người phụ nữ kia đã đc ngỏ lời, bà Margaret dùng tên cô ta để gọi Zichen suốt những lần cô ghé chơi nhà họ.

Cô sẽ mô tả về bà  Margaret cho cặp đôi ở Ngôi nhà Hydrangea, và kể cho họ bà Margaret đã dạy cô tiếng Anh ra sao khi cô mới vừa tới Mỹ vì bà ấy muốn Zichen, một phụ nữ trẻ đã rời bỏ đất nước mình để theo chồng, có bạn bè.

Suốt quá trình lớn lên, Zichen chưa bao giờ có bạn thân. Đứa con hoang là cách vài đứa ở trường gọi cô, chúng học từ ấy từ bọn anh chị lớn. Một lần, khi Zichen mười tuổi, và mệt mỏi vì bị bạn cùng trường trêu chọc, cô đã chỉ vào một người hàng xóm đang đi qua phố và nói ông ấy là cha đẻ của mình. Chú ấy, nghe thấy lời khẳng định của Zichen, tái mặt đi nhăng chẳng nói gì—chú ấy mới vừa ly hôn, và hai đứa con gái sinh đôi của chú ấy đã chuyển đi cùng mẹ chúng.

Láo thế cơ chứ; bà ngoại cô sẽ bị shock vì cháu mình chẳng biết xấu hổ chút nào. Cái chú mà Zichen chỉ định làm cha mình, một tuần sau, hỏi cô liệu rằng cô có muốn đi xem triển lãm các loài bướm mà chú ấy cho rằng các con gái của chú sẽ thích lắm. Đi qua đường từ phía công viên là Khách sạn Friendship (Khách sạn Tình bạn – ND), và sau cuộc triển lãm chú ấy đưa cô tới cổng khách sạn. Đó là một trong chỉ hai khách sạn ít ỏi mà người ngoại quốc được phép ở tại Bắc Kinh, chú giải thích; một lần, khi chú ấy và các con gái của chú ở đấy, một người Mỹ đã cho mỗi bé gái một thanh socola. Thật nực cười khi đứng trước một khách sạn vì viễn cảnh tươi sáng về một thanh socola; Zichen vẫn mỉm cười với hai người bảo vệ có súng, và, sau đó, với một đôi người ngoại quốc đi ra từ khách sạn. Cặp đôi, cả hai cùng có nước da nhợt nhạt và mái tóc màu rơm, chắc chắn cho rằng chú kia và Zichen là cha và con gái, vì họ ra tín hiệu tỏ rõ là họ muốn chụp ảnh hai cha con. Đó là lần đầu tiên Zichen nhìn thấy máy ảnh lấy ngay. Chú kia cho cô tấm ảnh, nhưng cô từ chối không nhận, họ không nói ra nhưng đồng tình rằngcuộc sống của họ sẽ vẫn tiếp diễn như thể cuộc đi chơi chưa từng xảy ra.

Vào tuổi dậy thì, cô là một trong những đứa con gái không ai muốn chơi thân; cô quá kì lạ và không đoán biết nổi để có thể là một người tri kỷ, quá kém nổi bật để trở thành nơi được trao gửi bí mật. Ở tuổi ấy, tình bạn đem lại cho ta sự kịch tính lâm ly hay sự nhẹ nhõm; cô bất khả tạo ra cả hai điều ấy, và sau đó, khi trở thành một phụ nữ trẻ, bất khả tạo ra cả hai điều ấy để thu hút bất kì chàng trai nào.

Cô đã đem lại sự dễ chịu trong phòng tắm nắng tràn ngập ánh sáng của bà Margaret, trao cho bà lão ấn tượng rằng bà đang dạy Zichen học, mặc dù ngôn nữ họ học chẳng phải tiếng Anh mà là tiếng Latin. Lúc đó bà Margaret đã lẫn rồi, và Zichen, tự mình luyện hết cuốn “Wheelock’s Latin(6),” dù sao thì vẫn cho bà lão niềm vinh quang của việc nói lặp lại: nông dân, nông dân, của nông dân, do nông dân, vì nông dân, người nông dân. Một điều nữa cũng được lặp lại, là kí ức về ngôi làng thời thơ ấu của bà Margaret, nơi bà biết mình không còn có thể về thăm lại thêm lần nữa: con đường mòn dẫn tới một cái ao bí mật, đôi vợ chồng trong căn nhà nông thôn lợp ngói đỏ sinh ra đứa bé có sáu ngón tay trên một bàn tay. Mỗi mùa xuân lại chứng kiến một bầy gà con trên sân; vào mùa hè những đám mây tơ đôi lúc dừng lại không nhúc nhích hàng giờ liền; tháng nào cũng có thể coi là mùa mưa, và cơn mưa dường như khiến nhà cửa mọi người vĩnh viễn ẳm ướt và lạnh lẽo.

Zichen thật tốt khi đến và ngồi cùng bà Margaret, ông John nói trong lần đầu ông lái xe đưa cô về lúc cuối buổi chiều, ông xin lỗi vì bà Margaret đã lẫn. Bà ấy sinh ra trong một gia đình có cha là thuỷ thủ, ông kể cho Zichen trong một chuyến xe khác, như thể giải thích việc bà Margaret có thể nói được mười bốn ngôn ngữ, mà tất cả trong số đó, ngoại trừ tiếng Latin, tiếng Pháp và tiếng ANh, bà ấy học trong hàng thập kỉ sống đời hôn nhân ở Mỹ. Khoảng mùa hè trong năm cuối đời, bà Margaret cho thấy những dấu hiệu của việc đi tới phút lâm chung, thỉnh thoảng không ai hiểu nổi lời bà nói kể cả ông John. Thình lình, một ngày bà ấy chìa ra một bản của cuốn “Winnie Ille Pu,” bản in đầu tiên của bản dịch tiếng Latin, làm quà cho Zichen; dịch giả, giống như bà Margaret và Zichen, là một người đàn ông bỏ nhà ra đi và định cư ở một đất nước khác, nhưng điều ấy mãi về sau Zichen mới tìm hiểu ra. thai

Không, cô chưa từng biết về cuốn “Winnie-the-Pooh,” hôm đó trong xe cô đã kể với ông John như vậy. Cô chẳng có cuốn sách thiếu nhi nào suốt thời thơ ấu. Đó hẳn phải là do nỗi buồn man mác trong mắt ông John đã khiến cô kể chuyện cho ông nghe, về chuyện bị gọi là con hoang khi còn nhỏ, chuyện bị sảy thai, chuyện không yêu chồng. Ông John, một người lái xe cẩn thận, đã bỏ một tay khỏi vô-lăng và nắm tay cô trong suốt quãng đường còn lại. Liệu đó có phải một giây phút của sự dối lừa hay chăng? Zichen tự hỏi đôi lần; liệu cô đã phản bội tình bạn của bà Margaret ư?—không phải vì bà Margaret không bao giờ biết đến khoảnh khắc ấy từ Zichen hay từ ông John mà bởi Zichen đã hồi tưởng lại nó hết lần này tới lần khác suốt một thời gian dài sau khi bà Margaret được chôn cấn còn ông John thì chuyển tới thành phố Sioux, để được gần với các cháu của ông và sau cùng, như ông đã giải thích với Zichen sau đám tang bà Margaret, để tới sống trong một nhà dưỡng lão.

Mỗi năm một lần vào tháng Mười hai, Henry lại đưa Ted và Zichen đi làm vài ly ở một thôn gần đó có tên là Tiffin, vì chẳng ai trong số họ thích mấy chỗ trong làng đại học, nhạc quá to và bọn sinh viên thì ồn ào khủng khiếp. Quán bar ở trên đường làng và chẳng bao giờ kín khách. Mọi người ở đó lớn tuổi hơn; vài người trong đó, những người hay chuyện hơn, đã từng chơi trong giải súng sơn với Henry; những người còn lại thì giữ vẻ khép kín. Người pha chế, một cựu đô vật từng vô địch bang thời trung học, thích trêu Ted; hàng năm, anh này đều hỏi Ted xem hôm đó anh mặc quần lót màu gì, đối với Ted, là chính Ted, đã có lần anh khoe rằng mình chỉ mua độc hai loại: đen-vàng theo màu của trường đại học, và đỏ-trắng theo màu trường trung học của anh, cũng là trường cũ của vợ và con gái anh. Mọi người ở quán bar luôn lịch thiệp với Zichen, nhưng sau nhiều năm, họ trở nên thoải mái hơn, nâng cốc với cô khi cô tới, gọi cô là Nữ hoàng Gặm nhấm.

Cô là một cô dâu người ta đặt hàng qua mạng, một năm cô kể với người pha chế, khi cô đã uống nhiều hơn sức cô kham nổi. Sự thật không phải như vậy, chẳng có giao dịch thương mại nào trong cuộc hôn nhân của cô: cô và chồng cũ đồng ý kết hôn sau khi gặp nhau hai lần tại một quán trà gần cửa tiệm của bà ngoại cô, anh ta chọn cô vì cô lớn lên trong hoàn cảnh khó khăn, điều ấy sẽ giúp cô trở thành một bạn đồng hành tốt khi đến Mỹ, cô chọn anh ta vì nước Mỹ.

Cô cảm thấy khoan khoái trong chốc lát, khi nói to mấy chữ “cô dâu đặt hàng qua mạng” và nhìn người pha chế đón nhận câu chuyện bằng sự nhìn nhận rằng điều đó quá xa vời hay không cần thiết phải quan tâm. Cô cũng cảm thấy khoan khoái, cô biết, khi ở Ngôi nhà Hydrangea cô kể chuyện về bà Margaret và đọc cuốn “Winnie-the-Pooh” bằng tiếng Latin, về chuyện bằng cách nào mà cô, rất ít trải nghiệm với thứ ngôn ngữ ấy, đã để cho cái đầu của con gấu tội nghiệp đập đi đập lại trên cầu thang.

“Cha con và mẹ đã làm những gì chúng ta có thể cho con,” mẹ của Zichen từng nói, trong lần duy nhất họ gặp nhau, có thể cũng là lần duy nhất kể từ khi sinh ra Zichen mà bà ấy nhắc đến cả mình và cha của Zichen trong cùng một câu nói. Zichen không biết tại sao mà mẹ cô lại đồng ý gặp cô trước chuyến đi của cô tới Mỹ, nhưng cô nhận ra, ngay từ giây phút đầu tiên gặp mẹ, sự khắc nghiệt và cứng đầu mà bà có chính là những tính cách của bà ngoại. Cha mẹ của ai cũng chỉ có thể làm được chừng đó, mẹ cô giải thích, và đứa con phải tự có trách nhiệm với cuộc đời của riêng nó. Mẹ cô không kể gì cho cô về cha cô, chỉ nói rằng họ đã mất liên lạc từ lâu; bà cũng không đả đụng gì tới gia đình mới của bà, mặc dù Zichen biết thừa là bà có một ông chồng và hai đứa con nữa. Zichen luôn nhận thức được bà ngoại cô đã giữ cô lại nhằm phỉ nhổ vào đứa con gái ương ngạnh và ô nhục; và việc mẹ cô đã sinh ra cô để phỉ nhổ vào cha cô trở nên thật hiển nhiên khi họ gặp mặt.

Năm nào cũng vậy, trên đường về từ quán bar bên ngoài thị trấn, Zichen ngồi ở ghế sau và lặng lẽ khóc. Henry cẩn trọng lái xe, cả hai tay giữ vô-lăng, ông luôn làm vậy sau mỗi lần uống, trong khi đó Ted, ngồi ở ghế trên, nói về trận bóng rổ sắp diễn ra như một chuyên gia thực thụ. Cô đổ cho rượu làm mình rơi nước mắt—và cả ánh trăng lạnh lẽo trên nền trời mùa đông.

 

Có một năm Ted xin được thả xuống trước, để đi xem đấu vật, cô kể với Henry rằng cô đã lớn lên mà không cảm nhận được tình yêu mà cha mẹ cô dành cho nhau. Qua kính chắn gió cô nhìn ngắm màn mưa sương giá đang bám đuổi họ, và khi tiếng cần gạt nước trở nên quá ồn, cô nói cha mẹ cô duy trì hôn nhân là vì cô; và họ học cách tha thứ cho nhau vì như thế tốt cho cô. Đó là điều gần với sự thật nhất mà cô có thể nghĩ ra—cô ước giá mà mình có thể kể cho Henry về người đàn ông trước cổng Khách sạn Friendship, hay cái nắm tay ông John dành cho cô, nhưng những câu chuyện ấy sẽ biến cô trở thành một con người khác trong mắt Henry—rồi sau đó ông đỡ cô từ phía sauvà đưa cô về tận cửa, nói rằng ổn cả rồi, vì đó là tất cả những gì ông ấy có thể nói.

Ở Ngôi nhà Hydrangea, có thể cô sẽ kể cho các chủ nhân về bà ngoại và mẹ cô, hai người phụ nữ trong đời cô mà niềm đam mê mù quáng của họ đã giúp họ trụ vững qua những phong ba của số phận, nhưng ngay cả khi cô tưởng tượng ra như thế, cô biết cô sẽ không kể. Chẳng có cách nào khiến cô có thể gạt mình ra khỏi những câu chuyện của họ về chiến tranh, và cô biết rằng trong tất cả mọi câu chuyện cô đều phải bị gạt ra rìa—cuộc đời mà cô đã tạo dựng cho mình là một cuộc đời của sự trốn chạy, của việc loại bỏ điều không cần thiết hay cần thiết cũng đều như nhau, việc sử dụng những mảnh ghép và những kí ức vay mượn, thu mình vào những giây phút lạc lối trong cuộc đời của con người trên thế gian.


(1) ND: nguyên văn ‘just as cobbler’s children have no shoes’ ý nói ngay cả của nhà trồng được mà vẫn không có để dùng.

(2) ND: B&B là dạng nhà nhọ Bed and Breaksfast chỉ cung cấp chỗ ngủ và bữa sáng cho khách lưu trú, thường do các hộ kinh doanh gia đình làm chủ.

(3) ND: ngày Quốc khánh Mỹ.

(4) ND: Marcus Tullius Cicero, triết gia, nhà hùng biện, chính khách, nhà lý luận chính trị La Mã.

(5) ND: nguyên văn ‘a mouse or a rat’ ý nói những việc mờ ám khuất tất.

(6) ND: tên cuốn sách học tiếng Latin cơ bản.

Copyright © 2010 by Yiyun Li.

ThKh chuyển ngữ không có sự đồng ý của tác giả.

———-

ThKh – 2019

ThKh là một bút danh khác của ChuKim, một người viết tự do, sống và yêu tại một ngôi làng mang tên thành phố. Nếu có thể, hãy ủng hộ và khích lệ bằng cách đọc và chia sẻ những gì anh viết trong khả năng của bạn. Xin cảm ơn.

– natchukim.cogaihu@gmail.com –

PS: Tất cả nội dung trong blog này đều được tuyên bố quyền sở hữu và quyền tác giả về nội dung, ngoại trừ những bài sưu tầm có đề rõ. Mọi trích dẫn, đăng lại, vui lòng ghi rõ nguồn. 

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s