Truyện ngắn: Chim ca – Chimamanda Ngozi Adichie

Chimamanda Ngozi Adichie (1977-) là nhà văn người Nigieria. Bà nổi tiếng với các tiểu thuyết Cẩm quỳ tím (Purple Hibicus – 2003), Nửa mặt trời vàng (Half of a yellow sun – 2006), Americanah (2013), tập truyện ngắn The thing around your neck (2009) và tập tiểu luận We should all be feminists (2014). Tạp chí phê bình văn học The Times Literara Supplement đánh giá bà là nhà văn nổi bật nhất trong số những tác giả trẻ của văn học Phi châu sáng tác bằng tiếng Anh.

Chimamanda Ngozi Adichie (Grafily - newyorker.com)
Tranh: Grafilu – newyorker.com

‘Chim ca’ (Birdsong) là truyện ngắn của Chimamanda Ngozi Adichie được đăng trong tuyển tập 20 under 40 (2010) của tạp chí The New Yorker. 


Chim ca

 

Người phụ nữ ấy, một người xa lạ, đang nhìn tôi. Trong cái nắng chói chang của buổi chiều oi bức, giữa cuồng quay những xe máy và người bán hàng rong, cô ta nhìn xuống về phía tôi từ trên ghế sau của chiếc xe jeep. Cái nhìn của cô ta quá trực diện, không có đủ độ bâng quơ. Cô ta không chỉ đơn thuần thả lỏng cho mắt mình hướng về chiếc xe kế bên xe của cô ta, giống như mọi người vẫn làm khi tham gia giao thông ở Lagos; cô ta đang nhìntôi. Ban đầu, tôi liếc qua chỗ khác, nhưng rồi tôi nhìn lại, vào vẻ bóng bẩy kiêu kì của những lọn tóc xoăn nhẹ thả trên bờ vai cô ta, kiểu tóc nốigọi là Tóc Brazil phải tốn một mớ tại những tiệm làm tóc ở Victoria Island; vào làn da tuyệt đẹp của cô ta, nó căng bóng như nhựa là thành quả của mấy loại kem bôi đắt tiền; và vào tay cô ta, cô ta đưa ngón trỏ đeo trang sức lên xua một người bán báo rong đi, với vẻ bình thản của một kẻ vẫn thường phẩy tay xua đuổi người khác. Cô ta đẹp, hoặc có thể cô ta chỉ trông lạ mắt, với đôi mắt cách xa nhautrũng sâu trên khuôn mặt, “đẹp” là cách dễ nhất để mô tả về cô ta. Cô ta là tuýp phụ nữ mà tôi hình dung về vợ của người tình của tôi, một người phụ nữ mà mọi thứ thật viên mãn.

Chimamanda Ngozi Adichie - Birdsong (minh hoạ - Jacques De Loustal - newyork.com).jpg
Minh hoạ: Jacques De Loustal – newyorker.com

Người tình của tôi. Nghe có vẻ hơi kệch cỡm, nhưng tôi chẳng hề biết phải nói sao về anh. “Bạn trai” có vẻ không đúng lắm với một người đàn ông lịch lãm bốn mươi lăm tuổi luôn cẩn thận tháo nhẫn cưới trước khi chạm vào tôi. Chikwado gọi anh là “giai của mày”, với một nụ cười nhạt chế giễu, như thể chúng tôi đều đang đùa cợt: anh, tất nhiên, không phải là của tôi. “À, mày lúc nào cũng cuống lên đi về vì gã giai này của mày,” nó sẽ nói, ngả người lên ghế và lấy tay tự vỗ đầu, lặp đi lặp lại. Phía dưới mái tóc xoăn, da đầu nó bị ngứa, và đó là cách duy nhất khiến nó thấy gần như đang gãi. “Vui vẻ nhé, cho tới khi tâm hồn mày vẫn còn chấp nhận điều đó, nhưng với tao thì, tao không thể dạng chân ra cho một gã đã có vợ được.” Nó vẫn thường nói vậy, với mộtưu thế đạo đức xác đáng, khi tôi thu xếp tài liệu và tắt máy tính kết thúc công việc trong ngày.

Mối quan hệ bạn bè của chúng tôi là không thể tránh khỏi, bởi chúng tôi đều tốt nghiệp Đại học Enugu và cuối cùng làm việc cho Celnet Telecom, ở Lagos, và là những nhân viên nữ duy nhất trong bộ phận quan hệ cộng đồng. Nếu không, chúng tôi đã chẳng chơi với nhau. Cái lối đầy ắp những điều xác tín giản đơn hoá của nó làm tôi phát bực, và tôi biết nó nghĩ tôi hành xử như một đứa trẻ vị thành niên lạc loài mông lung, vô trách nhiệm: tóc cắt ngắn tự nhiên, hút thuốc ngay trước cửa toà nhà, chỗ ai cũng thấy, và từ chối tham gia những buổi cầu nguyện mà sếp chủ trì sau cuộc họp thứ Hai hàng tuần. Lẽ ra tôi đã chẳng kể với nó về người tình của mình—tôi không cho nó biết về đời tư của tôi—nhưng nó đã ở đó khi anh lần đầu tiên bước vào văn phòng chúng tôi, một người đàn ông da đen thon gọn đeo cà vạt tím và có phong thái giàu sang. Ở anh tràn trề sự ái kỷ bóng bẩy của những người đàn ông gạt bỏ tầm quan trọng của họ theo cách chỉ có thể càng làm nó nổi bật hơn.Sếp chúng tôi bắt tay anh bằng cả hai tay và nói, “Chào mừng ngài, rất vui được gặp ngài, mọi việc thế nào rồi thưa ngài, mời vào và mời ngồi, thưa ngài.” Chikwado đã ở đó khi anh nhìn tôi và tôi nhìn anh và rồi anh mỉm cười, theo mọi nhẽ, một nụ cười ấm áp, rộng mở. Nó nghe được anh nói với sếp chúng tôi, “Gia đình tôi sống ở Mỹ,” nói hơi to một chút, nhắm đến tôi, với chất giọng nước ngoài chung chung của những người Nigieria sống khắp thế giới, mà, về sau tôi sẽ khám phá, sẽ biến mất khi anh trở nên thực sự phấn khích về điều gì. Nó thấy anh tiến tới và trao cho tôi danh thiếp. Nó ở đó, vài ngày sau, khi tài xế của anh chuyển tới một gói quà. Vì nó đã thấy, và vì tôi chìm đắm trong cảm xúc mà tôi không thể gọi tên dành cho một người đàn ông tôi biết không dành cho tôi, tôi cho nó xem chai nước hoa và tấm thiệp có đề, “Tôi đang nghĩ về em.”

Na wa!(1) Nhìn xem mắt mày đang sáng lấp lánh vì một gã đã có vợ kìa. Mày cần phải cầu nguyện để được giải thoát,” Chikwado nói, nửa đùa nửa thật. Nó thường tới dự dịch vụ đêm vọng, ở những nhà thờ khác nhau, nhưng tất cả đều cùng chủ đề Tìm kiếm Người bạn đời Chúa trao cho Bạn; sáng hôm sau nó sẽ đi làm trong trạng thái lờ đờ, lòng trắng mắt nó vằn đỏ, nhưng đã lên xong kế hoạch cho một buổi khác. Nó ba mươi hai và đang chao đảo trước sức nặng của một khao khát: được ổn định. Đó là tất cả những gì nó nói tới. Đó là tất cả những gì mà hội nữ đồng nghiệp của chúng tôi nói tới khi đi ăn trưa ở quán cafe tự phục vụ.Yewande đang mất thời gian với thằng đónó chưa sẵn sàng để ổn định đâu. Hỏi nó mà xem, nếu nó không hướng tới hôn nhân trong tương lai thì tốt nhất là cô nên kiếm mối khác; làm gì có ai trẻ ra tí nào đâu. Ekaete may mắn đấy, mới có sáu tháng mà đã đính hôn rồi. Khi họ nói chuyện, tôi sẽ nhìn ra ngoài cửa sổ, hướng lên phía trên Lagos, vào hàng mẫu Anh những mái nhà gỉ sét, vào sự thăng trầm của niềm hi vọng trong thành phố đầy rẫy những thiên thần hoen ốnày.

Ngay cả người tình của tôi cũng nói tới khao khát này. “Em sẽ muốn ổn định sớm thôi,” anh nói. “Anh chỉ muốn nói với em rằng anh sẽ không chắn đường em đâu.” Chúng tôi trần truồng trên giường; đó là đêm đầu tiên của chúng tôi. Một sợi lông từ chiếc gối vương trên tóc anh, tôi nhặt nó ra và cho anh xem. Tôi không thể tin nổi, trong dư âm của những gì vừa xảy ra, cả hai chúng tôi vẫn đang chìm đắm trong hơi ấm của nhau, những lời ấy tuôn ra từ miệng anh mới dễ dàng làm sao. “Anh không như những người đàn ông khác, nghĩ họ có thể khống chế cuộc đời em và không để em hướng về phía trước,” anh tiếp tục, dùng khuỷu tay nhổm người dậy để nhìn tôi. Anh đang nói với tôi rằng anh giỏi trong cuộc chơi này hơn những kẻ khác, trong khi tôi còn chưa nhận thức được về cuộc chơi. Từ khoảnh khắc tôi gặp anh, tôi đã có cảm giác khả thi, nhưng với anh thì con đường đã hoàn toàn khép lại, nó chưa bao giờ thực sự mở ra; không có chỗ cho những chuyện bỗng nhiên tràn vào và rồi cản trở con đường ấy tiếp diễn.

“Anh rất chu đáo,” tôi nói, theo kiểu giả đò quá mức để che đậy sự tổn thương. Anh gật đầu, như thể anh đồng ý với tôi. Tôi kéo chăn lên tận cằm. Lẽ ra tôi nên mặc đồ, trở về căn hộ của tôi ở Surulere, và xoá số anh khỏi điện thoại. Nhưng tôi ở lại. Tôi ở lại suốt mười ba tháng tám ngày, phần lớn tại nhà của anh ở Victoria Island—một căn nhà màu trắng nhờ, với không gian tráng lệ và thoáng đãng, được xây từ thời thực dân Anh đô hộ và nằm trong một khu tổ hợp tràn ngập cây ăn quả, hoa giấy leo phủ kín toàn bộ bức tường rào. Anh nói với tôi rằng anh sẽ đưa tôi tới nhà nghỉ của một người bạn Li Băng, nơi anh sẽ ở lại trong khi nhà của anh ở Ikoyi đang được tân trang lại. Khi tôi bước ra khỏi xe, tôi cảm thấy như mình vừa lạc vào một khu vườn bí mật. Một khối lượng dày đặc hoa dừa cạn, màu trắng và hồng, làm thành lối đi dẫn tới ngôi nhà. Không khí ở đây thật trong lành, thậm chí có vị thơm ngọt, và có điều gì đó trong tất cả chuyện này khiến tôi nghĩ về việc kéo dài thời gian. Anh ngắm nhìn tôi; tôi có thể cảm nhận anh muốn tôi thích nơi này đến nhường nào.

“Đây là nhà của anh, phải không?” tôi nói. “Nó không thuộc về người bạn Li Băng nào của anh cả.”

Anh tiến lại gần tôi, ngạc nhiên. “Đừng hiểu nhầm anh. Anh sẽ kể với em thôi. Anh chỉ không muốn em nghĩ rằng nó là kiểu . . .” Anh dừng lại và nằm tay tôi. “Anh biết những người đàn ông khác làm gì, và anh không giống như thế. Anh không đưa phụ nữ về đây. Anh mua chỗ này năm ngoái để phá bỏ và xây một toà chúng cư, nhưng nó đẹp biết bao. Các bạn anh cho rằng anh có điên mới giữ nó lại. Em biết đấy, chẳng ai ở đất nước này trân trọng những thứ xưa cũ. Bây giờ phần lớn thời gian anh làm việc ở đây, thay vì tới văn phòng.”

Chúng tôi đang đứng cạnh cửa kính trượt dẫn tới hàng hiên, phía trên là một cây phượng xoè rộng tán lá. Những cánh hoa đỏ héo úa rụng xuống trên mấy chiếc ghế mây. “Anh thích ngồi đây và ngắm lũ chim,” anh nói, chỉ tay.

Anh thích chim chóc. Đối với tôi, chim chóc vẫn luôn chỉ là chim chóc, nhưng khi ở cạnh anh, tôi trở thành một con người khác: tôi trở thành một người mê chim chóc. Buổi sáng Chủ Nhật sau đó, kì cuối tuần đầu tiên của chúng tôi bên nhau, chúng tôi chuyền tay nhau các tập mục tạp chí Next trong sự tĩnh lặng của hàng hiên, anh nhìn lên bầu trời và nói, “Có một con chim ác là. Giống nàythích những thứ bóng bẩy lắm.” Tôi tưởng tượng cảnh đặt nhẫn cưới của anh trên chiếc bàn mây để con chim sà xuống rồi mang nó đi mãi mãi.

“Anh đã biết em rất khác biệt!” anh nói, bồi hồi, khi anh phát hiện ra tôi đọc mục kinh doanh và thể thao, như thể sự khác biệt của tôi phản chiếu gu tinh tế của anh. Và thế là chúng tôi phấn khích chuyện trò về báo chí, và về bản tin thời sự của đài AIT và CNN, hào hứng bởi mới tương đồng trong quan điểm với nhau biết bao. Chúng tôi chẳng bao giờ trao đổi về việc tôi ở lại. Không an toàn cho lắm khi lái xe về Surulere khi đã muộn, còn anh thì cứ nói, “Sao ngày mai em không mang đồ tới nhỉ, như thế em có thể đi làm từ đây luôn?” cho tới khi gần như toàn bộ áo quần của tôi yên vị trong tủ và đồ dưỡng ẩm của tôi nằm trên khay để đồ trong phòng tắm. Anh để tiền cho tôi trên bàn, trong một cái phong bì màu nâu mà anh đề “Để em đổ xăng,” cứ như là tôi có thể chi đến năm mươi ngàn naira(2) cho xăng dầu. Thi thoảng, anh hỏi liệu tôi có cần được riêng tư để thay đồ hay chăng, như thể anh chưa thấy tôi khoả thân chừng ấy lần không bằng.

Chúng tôi không nói về vợ con anh hay đời tư của tôi hay khi nào thì tôi sẽ muốn ổn định để anh có thể tránh đường cho tôi đi. Có lẽ đó là những chuyện mà chúng tôi không đả động tới khiến tôi không rời mắt nổikhỏi anh. Da anh sậm tới mức tôi trêu anh hình như đến từ Gambia; nếu anh là một người phụ nữ, tôi sẽ bảo anh, anh chẳng bao giờ tìm được loại phấn phủ nào khớp với tông da của anh. Tôi ngắm anh từ tốn mở bọc giấy ướt thơm để lau kính mắt, hay cắt thịt gà trên đĩa, hay buộc khăn tắm quanh hông bằng một nút thắt có vẻ như quá phức tạp cho một chiếc khăn tắm thông thường, ngay phía dưới cái sẹo lồi ở rốn của anh. Tôi ghi nhớ kí ức về anh, bởi tôi không biết anh. Anh lịch thiệp, cuộc sống của anh là một chuỗi vận hành trơn tru, khuy măng-sét của anh luôn thật trang nhã.

Ba chiếc điện thoại di động của anh vẫn thường đổ chuông; tôi biết khi nào thì đó là cuộc gọi của vợ anh, vì anh sẽ vào toilet hoặc ra ngoài hiên, và tôi biết khi nào thì đó là cuộc gọi từ cơ quan nhà nước, vì sau đó anh sẽ luôn nói, “Tại sao mấy tay công chức này không để cho ai yên nhỉ?” Nhưng rõ ràng là anh thích những cuộc gọi của đám viên chức, và người quản lý nhà hàng tiến tới bàn chúng tôi và chào, “Chúng tôi rất vui được gặp ngài, thưa ngài.” Anh tìm trên tạp chí Chủ Nhật những bức ảnh gập khổ to hình anh, và khi tìm thấy bức nào anh đều nói bằng giọng phàn nàn âm vực trung tính, “Xem này, sao họ lại biến doanh nhân thành ngôi sao giải trí nhỉ?” Vậy mà anh chưa bao giờ mặc cùng một bộ vét tới hai sự kiện vì đám phóng viên ảnh. Anh có niềm kiêu hãnh rực cháy, như một tinh cầu, tròn trịa và rộng lớn trong nhu cầu khẩn thiết được đánh bóng. Anh làm nhiều việc cho mọi người. Anh cho họ tiền, giới thiệu họ tới những mối quan hệ, giúp họ hàng của họ kiếm việc, rồi khi lòng biết ơn và lời ngợi khen tới—anh cho tôi xem những tin nhắn cảm ơn anh; tôi nhớ có một cái nói rằng “Lịch sử sẽ khiến ông trở nên bất tử dưới tư cách một con người vĩ đại”—mắt anh sẽ ngời sáng, và tôi gần như có thể nghe thấy anh rên lên.

Một ngày anh bảo tôi, khi chúng tôi nhìn hai con chim bói cá nhảy điệu vũ bạn tình trên một cây ổi, rằng phần lớn các loài chim không có dương vật. Tôi chưa bao giờ nghĩ tới dương vật của lũ chim.

“Mẹ em nuôi gà trong sân khi em lớn lên, và em thường nhìn gà trống đạp mái,” tôi nói.

“Tất nhiên là bọn nó đạp mái, nhưng không bằng dương vật,” anh nói. “Em đã bao giờ thấy một con gà trống có cu chưa?” (ND: nguyên văn ‘a cock with a dick’, cock có nghĩa là con gà trống, cũng có nghĩa là dương vật, giống như dick)

Tôi bật cười, và anh, chỉ mới chợt nhận ra sự hài hước, cũng cười. Chuyện này trở thành mật ngữ tình yêu của chúng tôi. “Cock with a dick,” (ND: ở đây tôi không tìm được cách diễn đạt tương đương trong tiếng Việt nên tôi giữ tiếng Anh theo nguyên tác), tôi sẽ thầm thì, ôm anh khi chào anh, và chúng tôi sẽ phá ra cười. Anh gửi tin nhắn cho tôi, kí tên “CwithaD.” Và mỗi khi tôi băng qua con đường đầy ổ gàở Victoria Island và tiến vào vùng vang vọng tiếng chim ca, tôi có cảm giác như mình đã về đến nhà.

 

Người phụ nữ vẫn nhìn tôi. Đường đang tắc, vẫn thường như vậy mỗi đầu giờ chiều. Một chiếc xe chở dầu bị đổ chắn ngang đường—mấy chiếc xe chở dầu lúc nào cũng đổ chắn ngang đường—hoặc một chiếc xe buýt chết máy, hoặc một hàng xe xếp dài phía ngoài cây xăng, chặn luôn đường đi lại. Đồng hồ xăng của tôi báo đã gần cạn. Tôi tắt máy và hạ cửa kính, tự hỏi liệu người phụ nữ có hạ cửa kính xe cô ta và nói vài lời với tôi không. Tôi nhìn lại cô ta, cô ta chẳng hề xi nhê, đôi mắt cô ta vẫn kiên định, cho đến khi tôi nhìn qua hướng khác. Giờ thì có thêm nhiều người bán hàng rong xuất hiện, chưng ra tạp chí, thẻ điện thoại, khoai tây chiên, báo, Coke lon và bia Amstel Malta nhúng nước để trông có vẻ lạnh. Tay tài xế trước mặt tôi đang mua thẻ điện thoại. Người bán hàng, một cậu bé mặc áo Arsenal màu đỏ, lấy móng tay cào thẻ, rồi đợi tay tài xế nhập số vào điện thoại để đảm bảo cái thẻ không phải hàng giả.

Tôi quay lại nhìn người phụ nữ. Tôi bất giác nhớ tới lời của Chikwado về người tình của tôi trong ngày đầu tiên anh tới văn phòng chúng tôi: “Mặt anh ta hoàn toàn hải ngoại.” Người phụ nữ cũng có một khuôn mặt hoàn toàn hải ngoại, khuôn mặt của một người mà cuộc sống là một màn sương mờ dễ chịu. Có điều gì đó ở phiến môi của cô ta, được hoạ bằng chì kẻ môi làm từ bột ca cao, gợi lên một cảm giác vinh quang không trọn vẹn, như thể cô ta đã chiến thắng trong một trận đánh nhưng ngay từ đầu lại căm ghét việc phải chiến đấu. Có khi cô ta chính là vợ của người tình của tôi và cô ta vừa trở lại Lagos và mới phát hiện ra về tôi, và rồi, hệt như trong một trò hề tệ hại, kết cục lại ở ngay cạnh tôi trong cơn tắc đường. Nhưng vợ anh không thể nào biết được; anh đã vô cùng cẩn thận.

“Giá mà anh có thể,” anh luôn nói vậy, khi tôi muốn anh dành một buổi chiều thứ Bảy cùng tôi ở cửa hiệu Jazz Hole, hay khi tôi gợi ý chúng tôi đi chơi ở trung tâm Terra Kulture vào ngày Chủ Nhật, hay khi tôi hỏi xem chúng tôi có thể đi ăn tối ở một nhà hàng nào khác không. Chúng tôi chỉ luôn tới một nhà hàng trên con phố tối tăm Awolowo, một chỗ có những loại rượu đắt đỏ và chẳng có biển hiệu ở cổng ra vào. Anh nói “Giá mà anh có thể” cứ như là có hiện tượng kì vĩ và không thể cưỡng lại nổi của tự nhiên đã cản không cho anh xuất hiện công khai cùng tôi. Và bất khả cho anh giữ lại tin nhắn điện thoại của tôi. Tôi muốn hỏi làm sao mà anh có thể xoá ngay tin nhắn của tôi sau khi vừa đọc xong một cách hiệu quả đến vậy, tại sao anh không cảm thấy chút ham muốn giữ lại chúng trong điện thoại của mình, dủ chỉ vài giờ, dù chỉ một ngày. Viết ra những câu hỏi chẳng bao giờ được hỏi thì có mà tốn hàng gam giấy, chúng mắc lại như một mớ đá cuội thô ráp ở cổ họng tôi. Thật là một điều kì lạ khi cảm thấy quá gần gũi với một người đàn ông—để có thể kể với anh về nỗi oán giận của tôi dành cho cha mẹ, để dối trá một cách trắng trợn vì anh bằng một sự bất cần chẳng hề quen thuộc với tôi chút nào—mà vẫn chẳng thể hỏi anh những câu hỏi ấy, tôi như bị vây hãm bởi sự bất an và niềm khao khát không tên.

 

Lần đầu tiên chúng tôi cãi nhau, anh nói với tôi đầy buộc tội, “Em không khóc ư.” Tôi nhận ra rằng vợ anh thường khóc, rằng anh có thể chịu được nước mắt nhưng sự thách thức lạnh lùng của tôi thì không.

Chúng tôi cãi nhau vì tài xế của anh, Emmanuel, một người lớn tuổi có lẽ trông đã rất thông tuệ nếu vẻ mặt của ông ta không bị ngăn trở bởi sự bất mãn. Đó là một buổi chiều thứ Bảy. Hôm ấy tôi đi làm buổi sáng. Sếp tôi triệu tập một cuộc họp khẩn mà tôi cho là không cần thiết: tất cả chúng ta đều biết rằng Hoàng Tử, Oba(3) của thị trấn gần khu đầm phá, đang gây ra rắc rối, nói rằng Celnet Telecom đã khiến ông ta mất mặt trước thần dân của ông ta. Ông ta đã gửi rất nhiều thư hỏi về việc làm sao chúng ta dám xây một trạm phát sóng lớn trên phần đất của tổ tiên ông ta và chưa hết, lại chỉ đóng góp một cái giếng khoanbé tẹo cho thần dân của ông ta. Sáng hôm ấy, lính của ông ta đã chặn lối vào khu đất xây dựng của chúng ta, xô đẩy vài kĩ sư của chúng ta quanh đó, và chọc thủng lốp xe tải của họ. Sếp tôi rất tức giận, ông ấy đập bàn khi phát biểu trong cuộc họp. Tôi, sau đó, cũng đập lên cái bàn mây khi tôi bắt chước ông ấy, trong lúc người tình của tôi cười. “Đó là vấn đề với mấy kẻ cai trị vô thần, có truyền thống tôn thờ quỷ dữ,” sếp tôi nói. “Thằng đó là đồ tráo trở. Một thằng tráo trở bẩn thỉu! Một triệu naira chúng ta cho hắn thì sao chứ? Chúng ta nên mang hàng bịch gạo và đậu cho dân của hắn trước khi chúng ta khởi công trạm phát sóng à? Hắn muốn nguồn cung cấp bánh nhân thịt mỗi ngày à? Vô lý!”

“Bánh nhân thịt” làm Chikwado và tôi bật cười, mặc dù sếp chúng tôi không hề tỏ ra hài hước. “Tại sao không phải thứ gì phổ thông hơn, bánh mỳ chẳng hạn?” Chikwado thì thầm với tôi, và nhanh nhẹn giơ tay khi sếp chúng tôi hỏi có ai tình nguyện đến gặp Oba ngay không. Tôi không bao giờ tình nguyện. Tôi không thích những chuyến thăm viếng ấy—dân làng nhìn chúng tôi bằng ánh mắt kinh ngạc, thanh niên hỏi xin thẻ điện thoại miễn phí, thậm chí cả điện thoại miễn phí—bởi nó hoàn toàn làm tôi không khỏi cảm thấy mình quyền lực.

“Tại sao lại là bánh nhân thịt?” người tình của tôi hỏi, vẫn cười.

“Em làm sao mà biết được.”

“Thật ra thì, ngay bây giờ anh đang thèm ăn bánh nhân thịt.”

“Em cũng vậy.”

Chúng tôi cười, và cùng với vầng dương đang toả nắng, tiếng lũ chim trên đầu, sự phe phẩy của mấy tấm rèm va vào cánh cửa trượt, tôi đã nghĩ về những ngày thứ Bảy tương lai mà chúng tôi sẽ trải qua cùng nhau, cười đùa những chuyện hài hước về sếp của tôi. Người tình của tôi gọi Emmanuel và nói ông ta chở tôi tới siêu thị để mua bánh nhân thịt. Khi tôi lên xe, Emmanuel chẳng hề chào hỏi gì tôi. Ông ta đơn giản là vào việc luôn. Đây là lần đầu tiên ông ta chở tôi mà không có người tình của tôi đi cùng. Sự im lặng hơi ngột ngạt. Có lẽ ông ta nghĩ rằng tôi còn ít tuổi hơn con cái ông ta.

“Tốt rồi, chú Emmanuel!” cuối cùng tôi nói, mở lời với ông ta bằng vẻ tươi sáng giả tạo. “Chú có biết cái siêu thị trên đường Kofo Abayomi không ạ?”

Ông ta chẳng nói chẳng rằng và khởi hành. Khi chúng tôi tới nơi, ông ta dừng ở cồng. “Xuống đây đi, để tôi đi đỗ xe,” ông ta nói.

“Chú thả cháu ở sảnh được không,” tôi nói. Tài xế nào cũng làm vậy, trước khi tìm chỗ đỗ xe.

“Xuống đây đi.” Ông ta vẫn chẳng buồn nhìn tôi. Cơn giận bùng lên trong tôi, khiến tôi cảm thấy bị xua đuổi và khô kiệt máu trong người, bị hút sạch không khí; tôi không thể cảm nhận mặt đất dưới chân mình khi bước ra khỏi xe. Sau khi chọn được vài cái bánh nhân thịt trong tủ kính, tôi gọi người tình của mình và kể cho anh rằng Emmanuel đã rất thô lỗ và tôi sẽ đi taxi về.

“Emmanuel nói đường rất xấu,” người tình của tôi nói khi tôi quay lại, bằng giọng hoà giải.

“Lão ta sỉ nhục em,” tôi nói.

“Không, ông ấy không có ý đó. Có thể là ông ấy không hiểu em.”

Emmanuel đã cho tôi thấy sức mạnh của vợ của người tình của tôi; ông ta sẽ không thô lỗ như vậy nếu ông ta biết sợ việc ông ta có thể bị trách phạt. Tôi chỉ muốn ném luôn túi bánh nhân thịt qua cửa sổ cho rồi.

“Đó là việc anh vẫn làm đấy à, để cho tài xế của anh nhắc nhở các bạn gái của anh về vị trí của họ?” Tôi tru tréo và tôi không thích bản thân mình như vậy chút nào. Tệ hơn nữa, tôi phát hoảng khi nhận ra nước mắt đang tuôn rơi. Người tình của tôi nhẹ nhàng ôm trọn lấy tôi, như thể tôi là một đứa trẻ ngỗ nghịch, và hỏi liệu tôi có cho anh một cái bánh nhân thịt hay chăng.

“Anh đã đưa cả những cô gái khác về đây, phải không?” tôi hỏi, không hoàn toàn rõ làm sao mà chuyện này lại quay ra thành nói về những cô gái khác.

Anh lắc đầu. “Không, anh chưa từng làm thế. Không nói chuyện này nữa. Ăn bánh nhân thịt và xem một bộ phim thôi nào.”

Tôi thả mình được vỗ về, được ôm ấp, được mơn trớn. Sau đó, anh nói, “Em biết đấy, anh mới chỉ có hai lần ngoại tình kể từ khi anh kết hôn thôi. Anh không như những thằng khác.”

“Anh nói nghe như là anh thấy anh xứng đáng được trao thưởng vậy,” tôi trả lời.

Anh cười. “Cả hai người họ đều giống em.” Anh dừng lại để tìm từ, và khi nghĩ ra, anh nói đầy vui thích. “Bốc đồng. Họ đều bốc đồng giống như em.”

Tôi nhìn anh. Làm sao mà anh lại không thấy rằng có những điều anh không nên nói với tôi, và rằng có những điều tôi mong mỏi được có với anh? Đó là sự mù quáng có chủ đích; chắc chắn là như vậy. Anh lựa chọn không thấy. “Anh đúng là đồ khốn,” tôi nói.

“Hả?”

Tôi nhắc lại.

Trông anh như vừa bị côn trùng cắn. “Cút đi. Biến khỏi căn nhà này ngay lập tức,” anh nói, và rồi lẩm bẩm, “Thật không thể chấp nhận được.”

Tôi chưa từng bị đá đít khỏi ngôi nhà nào bao giờ. Emmanuel ngồi trên một chiếc ghế trong bóng mát của gara và giương khuôn mặt trơ như tượng đá ra nhìn tôikhi tôi hối hả tiến về chỗ xe của mình. Người tình của tôi không gọi cho tôi trong năm ngày, và tôi cũng chẳng gọi cho anh. Khi mà cuối cùng thì anh cũng chịu gọi, câu đầu tiên của anh là “Có hai con bồ câu trên cây phượng. Anh muốn em thấy chúng.”

“Anh đang làm ra vẻ chẳng có chuyện gì xảy ra cả.”

“Anh đã gọi em,” anh nói, cứ như bản thân cuộc gọi đã là một lời xin lỗi. Sau đó, anh nói với tôi rằng nếu lúc ấy tôi khóc thay vì gọi anh là thằng khốn thì anh đã hành xử tử tế hơn. Tôi không nên quay lại—tôi hiểu ra ngay sau đó.

 

Người phụ nữ, vẫn nhìn tôi chằm chằm, đang nói chuyện điện thoại. Chiếc xe jeep của cô ta màu đen pha với bạc và màu nhiệm thay không có vết xước nào. Làm sao mà điều đó lại thành hiện thực được ở thành phố này cơ chứ, nơi mà chiếc okada(4) này nối đuôi chiếc okada kia phóng qua những khe hẹp ở giữa các xe hơi khi tham gia giao thông như thể xe máy có thể thu bé lại vừa với bất kì khe hở nào? Có thể mỗi lần xe cô ta bị va quệt thì lại có một thợ máy hạ phàm từ trên trời cao và làm vết móp biến mất. Chiếc xe trước mặt tôi có một vết cắt ở chỗ đèn hậu; trông giống như một trong rất nhiều xe bị rò dầu, biến đường phố trở thành một tấm giấy trơn trượt mỗi khi trời mưa. Xe của tôi bị thương khắp mình mẩy. Vết to nhất, cái thanh cản bị vỡ tung, do một chiếc taxi đâm vào tôi ở chỗ đèn đỏ trên phố Kingsway một tháng trước. Gã tài xế nhảy khỏi xe, áo sơ mi phanh ra, ra vẻ hùng hổ mướt mải, và gào lên với tôi.

“Con ngu này! Mày đúng là cái loại phiền phức đầy ngoài đường. Sao mày lại dừng như thế hả? Quá vô lý!”

Tôi nhìn gã, kinh ngạc, cho đến khi gã lái xe bỏ đi, và rồi tôi mới bắt đầu nghĩ về việc lẽ ra mình có thể nói gì, lẽ ra mình có thể mắng lại thế nào.

“Nếu mày đeo nhẫn cưới, hắn còn lâu mới dám quát vào mặt mày như thế,” Chikwado nói khi tôi kể cho nó, khi nó ấn nút gọi lại trên chiếc điện thoại bàn. Ở quán cafe tự phục vụ, nó kể chuyện ấy cho các đồng nghiệp của chúng tôi. À, à, thằng ngu! Tất nhiên là hắn gào lên vì hắn biết hắn sai lè rađấy là kiểu Lagos. Hắn nghĩ là hắn có thể nói tiếng Anh đao to búa lớn. Thậm chí hắn học ở đâu ra cái từ “phiền phức” vậy? Họ chép miệng, kể những câu chuyện của riêng họ về cánh tài xế taxi, rồi trạng thái kích động của họ xìu dần và họ bắt đầu nói, thấp giọng và hứng thú, về một loại bánh quy cầu tự mà vị mục sư mới ở Nhà thờ Redemption trao cho phụ nữ.

“Hiệu nghiệm với chị gái tôi đấy. Đầu tiên chị ấy thực hiện chế độ kiêng nước trong hai ngày, rồi vị mục sư thực hiện một nghi lễ cầu nguyện giải thoát đặc biệt cho chị ấy trước khi chị ấy ăn cái bánh quy. Chị ấy phải ăn vào đúng nửa đêm. Tháng sau, ngay tháng sau, chị ấy không có kinh, tôi đã nói rồi mà,” một trong số họ, một nhân viên hợp đồng đang học cao học bán thời gian ở Ibadan, nói.

“Đó có đúng là một cái bánh quy không vậy?” một người hỏi.

“Bây giờ thì đúng. Nhưng họ ban phước cho các nguyên liệu trước khi họ làm bánh. Chúa có thể làm được mọi điều, sha(5). Tôi nghe nói một mục sư còn dùng cả khăn tay.”

Tôi nhìn đi chỗ khác và tự hỏi người tình của tôi sẽ pha trò gì khi nghe được chuyện này. Anh đang về thăm gia đình ở Mỹ trong hai tuần. Tối hôm đó, anh nhắn tin cho tôi. “Đang ở buổi hoà nhạc cùng vợ anh. Âm nhạc tuyệt mỹ. Mười phút nữa sẽ gọi em và để điện thoại bật để em có thể nghe được. CwithaD.” Tôi đọc hai lần và rồi, mặc dù tôi lưu lại tất cả các tin nhắn khác của anh, tôi xoá nó đi, như thể tôi làm thế để vờ như tin nhắn ấy chưa từng được gửi đi. Khi anh gọi, tôi để mặc điện thoại đổ chuông và đổ chuông. Tôi hình dung họ ở buổi hoà nhạc, vợ anh vươn ra để nắm tay anh, bởi tôi không thể chịu nổi ý nghĩ rằng có thể chính anh mới là người vươn ra. Rồi tôi biết anh không tài nào có thể thấy tôi, con người thực tế khắc nghiệt của tôi; thay vào đó, tất cả những gì anh thấy là chính bản thân anh trong một cuộc chơi kỳ thú.

Anh trở lại sau chuyến đi, mang đôi giày tôi không nhận ra, làm bằng da nâu cao cấp và mũi thuôn hơn nhiều so với những đôi khác của anh, gần như là nhọn một cách nhố nhăng. Anh đang trong tâm trạng bay bổng, xoay tôi vòng vòng khi chúng tôi ôm nhau, mơn trớn những lọn tóc cuộn chặt ở gáy tôi và nói, “Mềm quá.” Anh muốn ra ngoài ăn tối, anh nói, vì anh có một điều ngạc nhiên dành cho tôi, và khi anh đi vào phòng tắm, một trong mấy cái điện thoại của anh reo vang. Tôi cầm nó lên và nhìn tin nhắn của anh. Đó là điều mà trước đây tôi chưa bao giờ nghĩ mình sẽ làm, vậy mà bỗng nhiên tôi cảm thấy không thể cưỡng lại được. Những tin nhắn nối tiếp nhau trong hộp thư “đã gửi” gửi tới Baby. Tin nhắn gần nhất nói anh đã đến nơi an toàn. Điều giáng thẳng vào tôi không phải là anh thường xuyên nhắn tin cho vợ thế nào, hay những tin nhắn ngắn gọn ra sao—”kẹt xe,” “nhớ em,” “gần tới rồi”—mà là tất cả đều kí tên “CwithaD”. Trong tôi, điều gì đó chùng xuống. Phải chăng anh đã biên đạo một cuộc chuyện trò với cô ta, lanh trí pha trò về một “con gà trống có cu (ND:cock with a dick)” và rồi tìm ra cách để đưa nó trở thành một mật ngữ tình yêu của hai người bọn họ? Tôi nghĩ về nỗ lực cần có để thực hiện việc đó. Tôi đặt chiếc điện thoại xuống và liếc về phía gương, nửa mong đợi nhìn thấy chính mình hiện hình thành một con rối sóng soài, không dây.

Trên xe, anh hỏi, “Có gì không ổn à? Em có khoẻ không vậy?”

“Em không thể tin nổi là anh gọi em để em có thể nghe được bản nhạc mà anh và vợ anh đang nghe.”

“Anh làm thế vì anh rất nhớ em,” anh nói. “Anh thực sự muốn ở đó cùng em.”

“Nhưng anh không ở đó cùng em.”

“Em đang không có tâm trạng tốt.”

“Anh không hiểu à? Anh không ở đó cùng em.”

Anh nhoài người và cầm tay tôi, cọ ngón cái của anh vào lòng bàn tay tôi. Tôi nhìn ra con phố mờ ánh đèn. Chúng tôi đang trên đường tới nhà hàng ẩn mình quen thuộc, nơi tôi đã ăn tất cả các món trong menu đến cả trăm lần. Một con muỗi, giờ thì lờ vờ với đẫy máu của tôi, kẹt ở trong xe. Tôi vỗ vào người mình để cố đập nó.

“Chào buổi tối, thưa ngài,” người bồi bàn nói khi chúng tôi yên vị. “Rất hân hạnh được đón tiếp ngài, thưa ngài.”

“Anh có nhận ra là họ chẳng bao giờ chào em không?” tôi hỏi người tình.

“Chà . . .” anh nói, và chỉnh lại mắt kính.

Người bồi bàn quay lại, một anh chàng có gương mặt tỉnh táo với phong thái lịch thiệp, và tôi đợi cho đến khi anh ta mở chai rượu vang trước khi tôi hỏi, “Tại sao anh không chào tôi?”

Người bồi bàn liếc người tình của tôi, như thể tìm kiếm lời cứu cánh, điều này càng khiến tôi bực thêm. “Tôi vô hình à? Tôi là người đặt câu hỏi cho anh. Tại sao tất cả bồi bàn các người và người mở cổng và cả tài xế ở cái Lagos này đều từ chối chào hỏi tôi? Anh không nhìn thấy tôi à?”

“Mười phút nữa quay lại nhé,” người tình của tôi nói với người bồi bàn bằng giọng lịch sự, thâm trầm. “Em cần bình tĩnh lại,” anh bảo tôi. “Em có muốn chúng ta đi không?”

“Tại sao họ không chào em?” tôi hỏi, và hớp luôn nửa ly rượu.

“Anh có một điều ngạc nhiên cho em. Anh đã mua cho em một chiếc xe mới.”

Tôi nhìn anh trống rỗng.

“Em có nghe thấy không?” anh hỏi.

“Em nghe thấy rồi.” tôi lẽ ra phải đứng dậy và ôm lấy anh và nói với anh rằng lịch sử sẽ nhớ về anh dưới tư cách một con người vĩ đại. Một chiếc xe mới. Tôi uống thêm rượu.

“Em đã kể với anh về chuyến đi buýt đầu tiên của em khi em mới tới Lagos, sáu năm trước chưa nhỉ?” tôi hỏi. “Khi em lên xe buýt, một cậu trai đang hét lên choáng váng vì một người lạ tìm thấy cái ví bị mất của cậu ta và trả lại cho cậu ta. Cậu trai trông giống như em, một người tươi trẻ, háo hức tìm việc, và cậu ta, hẳn cũng ở quê lên với hành trang đầy những lời nhắc cảnh giác. Anh biết tất cả những gì mọi người dặn anh: không cho tiền những kẻ ăn xin ngoài phố vì chúng chỉ giả vờ bị què thôi; xem cho kĩ những tháp cà chua vì lũ bán hàng rong thường giấu những quả thối ở phía dưới; đừng giúp những người bị hỏng xe, vì chúng thật ra là bọn cướp có vũ trang. Và rồi ai đó tìm thấy ví của cậu ta và trả lại cho cậu ta.”

Người tình của tôi trông rất hoang mang.

“Nghi thức bất tín,” tôi nói. “Đó là cách chúng ta liên kết với người khác ở đây, thông qua nghi thức bất tín. Anh có biết em đã cẩn thận theo dõi đồng hồ xăng thế nào khi em đi đổ xăng để đảm bảo người nhân viên không gian lận? Chúng ta biết luật lệ và chúng ta tuân thủ luật lệ, và chúng ta chẳng bao giờ chừa chỗ cho những điều chúng ta không hình dung ra. Chúng ta đóng cửa quá sớm.” Tôi cảm thấy hơi ngu si một chút, nói những điều tôi biết anh không hiểu và không muốn hiểu, và cũng một chút hèn kém, nói những điều đó theo cách của tôi. Anh thả lỏng khuỷu tay trên bàn, quan sát tôi, và tôi biết tất cả những gì anh muốn là sự phấn khích của tôi, lòng biết ơn của tôi, những câu hỏi của tôi xem bao giờ tôi có thể được nhìn chiếc xe mới. Tôi bắt đầu khóc, và anh âu yếm ôm tôi tựa vào hông anh. Mũi tôi đang nhảy và mắt tôi ngứa khi tôi chùi bằng khăn ăn. Tôi chẳng bao giờ rơi những giọt lệ đài trang, và tôi tưởng tượng rằng vợ anh thì có; cô ta có lẽ là một trong những người phụ nữ có thể để nước mắt trượt xuống cằm, giữ cho lớp trang điểm nguyên vẹn, mũi thì khô nguyên.

 

Dòng xe đã bắt đầu di chuyển được một chút. Tôi thấy một chiếc okada trong gương chiếu hậu, đang lao đến rất nhanh, lạng lách và còi inh ỏi, và tôi chờ nghe tiếng động khi nó va vào xe tôi. Nhưng không. Người cầm lái đội mũ bảo hiểm, trong khi người ngồi sau chỉ đơn thuần là giữ hờ mũ của cô ta trên đầu—lớp xốp hôi rình bên trong sẽ làm hỏng tóc cô ta—đủ gần để cô ta có thể sụp nó xuống khi thấy một sĩ quan LASTMA(6) trên đường. Người tình của tôi có lần gọi nó là thuyết tiền định (fatalism). Anh phát mũ bảo hiểm miễn phí cho tất cả nhân viên của mình, nhưng phần lớn bọn họ vẫn trèo lên okada mà chẳng thèm đội. Ngày trước, một chiếc okada, tay lái xe để đầu trần và phóng điên dại, đã va vào tôi khi tôi khi tôi rẽ lên đường Ogunlanal; tay lái xe mút chặt ngón tay trong miệng và miết lên vết xước trên xe của tôi. “Dì Hai, rất xin lỗi ạ! Xe không sao đâu dì,” anh ta nói, và tiếp tục chuyến đi của mình.

Tôi cười. Tôi đã không cười trong ba tuần kể từ khi tôi rời chỗ làm vào giờ nghỉ trưa và lái xe tới nhà người tình của mình. Tôi đã đóng gói tất cả quần áo, sách, đồ dùng vệ sinh cá nhân và trở về căn hộ của mình, khi đi trên đường tôi nhận thức được Lagos trở nên xấu xí không có hồi kết đến thế nào, với những căn nhà mọc lên như cỏ dại chẳng theo quy hoạch gì cả.

Suốt ba tuần ấy, tôi rất kiệm lời ở chỗ làm. Văn phòng của chúng tôi bỗng dưng trở nên rất kém thoải mái, điều hoà luôn quá lạnh. Hoàng Tử, Oba của thị trấn gần khu đầm phá, đang đòi thêm tiền; hội đồng thị trấn của ông ta đã thảo một lá thư nói rằng cái giếng khoanđang phụt lên dòng nước nhuốm đen. Sếp tôi triệu tập cực nhiều cuộc họp.

“Cùng nhau tạ ơn nào,” ông ấy nói sau một cuộc họp.

“Tại sao chúng ta lại nên cầu nguyện ở nơi làm việc vậy?” tôi hỏi. “Tại sao ông lại khăng khăng cho rằng tất cả chúng ta đều là tín đồ Công giáo?”

Trông ông ấy thảng thốt. Ông ấy biết tôi chẳng bao giờ tham gia, chẳng bao giờ nói “Amen,” nhưng tôi chưa bao giờ lên tiếng về chuyện này.

“Không phải vì bị thúc ép mà người ta mới tham gia tạ ơn Thiên Chúa,” ông ấy nói, và rồi nói tiếp một hơi, “Nhân danh Chúa Jesus!”

“Amen!” những người khác đồng thanh.

Tôi quay lưng rời khỏi phòng họp.

“Đừng đi,” anh đồng nghiệp Gerald thì thầm với tôi. “Akin mang bánh sinh nhật của cậu ấy tới.”

Tôi bước ra khỏi phòng họp cho đến khi cuộc cầu nguyện kết thúc, sau đó chúng tôi hát “Chúng mừng Sinh nhật” Akin. Chiếc bánh của cậu ta trông đúng là loại không phô trương mà tôi thích, chắc là mua ở Sweet Sensation, loại mà thi thoảng có vương một chút vỏ trứng bị bỏ quên trong bánh. Sếp chúng tôi bảo cậu ta để cho tôi hay Chikwado cắt bánh.

“Tại sao chúng tôi lúc nào cũng phải cắt bánh?” tôi hỏi. “Lần nào có ai mang bánh đến, cũng đều là Chikwado cắt hoặc tôi cắt. Anh, Gerald, cắt bánh đi. Hoặc em, Emeka, em là người ít tuổi nhất.”

Họ nhìn tôi. Chikwado vội đứng dậy và bắt đầu cắt bánh. “Xin đừng bận tâm đến lời cô ấy nói,” nó nói với mọi người, nhưng mắt nó thì hướng về ông sếp. “Cô ấy sử xự như vậy vì hôm nay chưa uống thuốc thần kinh.”

Về sau, nó bảo tôi, “Tại sao mày lại hành xử kì cục vậy? Có vấn đề gì? Chuyện gì xảy ra với giai của mày phải không?”

Trong một tích tắc, tôi muốn kể cho nó cảm giác của tôi: như thể từng mảng da của tôi trở nên nhăn nheo và nứt nẻ và bong tróc, để lộ những mảng thịt sống quá mức đớn đau mà tôi không biết phải làm gì. Tôi muốn kể cho nó tôi thường nhìn chằm chằm vào điện thoại ra sao, mặc dù anh đã gửi hai tin nhắn uỷ mị nói rằng anh không hiểu tại sao tôi lại bỏ đi và rồi chẳng có thêm gì nữa; và tôi nhớ tường tận, quá mức tường tận, hương thơm của loại giấy ướt anh vẫn thường dùng để lau mắt kính thế nào. Tôi không kể cho nó, vì tôi biết chắc nó sẽ trao ngay cho tôi một phần cái trí tuệ bé mọn của nó, như kiểu “Nếu mày trông thấy lửa và mày cho tay vào, thì ngọn lửa sẽ thiêu đốt mày.” Vẫn có sự mềm mại trong cách diễn đạt của nó, điều gì đó giống như lòng cảm thông, khi tôi ngước lên từ màn hình máy tính và thấy nó đang quan sát tôi trong khi tay nó tự vỗ, vỗ, vỗ vào đầu. Tóc nó tết kiểu mới, quá dài và quá giả, với những lọn màu đỏ đem tới liên tưởng về mấy con búp bê nhựa rẻ tiền. Nhưng vẫn có một điều thành thực về nó; Chikwado làm chủ mái tóc của mình theo cách mà người phụ nữ trên chiếc xe jeep không thể với mái tóc Brazil của cô ta.

Một thằng nhóc tiến lại gần xe của tôi, mang theo một chai xịt nước xà phòng và một cái khăn. Tôi bật cần gạt nước để làm nản lòng nó, nhưng nó vẫn phun nước lên kính chắn gió của tôi. Tôi tăng tốc độ cần gạt nước. Thằng nhóc lườm tôi rồi di chuyển qua chiếc xe phía sau. Tôi bị một thôi thúc bất thần xâm chiếm muốn bước ra khỏi xe và tát nó. Trong một khoảnh khắc, mắt tôi nhoà đi. Kẻ tôi thực sự muốn cho ăn tát là người phụ nữ. Tôi quay về phía chiếc xe jeep của cô ta, vì cô ta đang nhìn đi nơi khác, tôi bấm còi. Tôi nhoài người ra khỏi cửa sổ xe.

“Có vấn đề gì với cô vậy? Sao cô cứ nhìn tôi mãi vậy? Tôi nợ gì cô à?” Tôi hét lên.

Dòng xe bắt đầu di chuyển. Tôi nghĩ cô ta sẽ hạ kính cửa sổ xe xuống. Cô ta hành động như thể nghiêng mình về phía ấy, rồi quay đi, nụ cười mỏng manh nhất trên khuôn mặt cô ta, đầu cô ta ngẩng cao, và tôi chứng kiến chiếc xe jeep tăng tốc hướng về phía chiếc cầu.


(1) ND: nguyên văn tiếng Nigieria, nghĩa là: Trời ơi!

(2) ND: đơn vị tiền tệ Nigieria.

(3) ND: nguyên văn tiếng Nigieria, nghĩa là: Đức Ông.

(4) ND: nguyên văn tiếng Nigieria, nghĩa là: xe máy.

(5) ND: nguyên văn tiếng Nigieria, nghĩa là: bạn thân mến.

(6): ND: LASTMA – Lagos State Traffice Management, Sở cảnh sát giao thông Lagos.

Copyright © 2010 by Chimamanda Ngozi Adichie.

ThKh chuyển ngữ không có sự đồng ý của tác giả.

———-

ThKh – 2019

ThKh là một bút danh khác của ChuKim, một người viết tự do, sống và yêu tại một ngôi làng mang tên thành phố. Nếu có thể, hãy ủng hộ và khích lệ bằng cách đọc và chia sẻ những gì anh viết trong khả năng của bạn. Xin cảm ơn.

– natchukim.cogaihu@gmail.com –

PS: Tất cả nội dung trong blog này đều được tuyên bố quyền sở hữu và quyền tác giả về nội dung, ngoại trừ những bài sưu tầm có đề rõ. Mọi trích dẫn, đăng lại, vui lòng ghi rõ nguồn. 

 

12 thoughts on “Truyện ngắn: Chim ca – Chimamanda Ngozi Adichie

  1. Chào bạn,

    Mình cám ơn bạn đã dịch truyện ngắn này và nhờ đó mình được đọc nhanh, và cũng học được rất nhiều từ ngôn ngữ tinh tế của bạn.

    Nếu bạn quan tâm, thì mình xin được góp ý một số chỗ dịch (và mình xin lỗi nếu như điều này là vô ích hoặc làm bạn khó chịu).

    Một sợi lông từ chiếc gối – có nên đổi thành một chiếc lông từ chiếc gối không (feather khác với hair, hơn nữa người đọc cũng có thể hiểu nhầm là lông người vương trên gối)?

    Gà giao hợp – có nên để là trống đạp mái không? Hay bạn dịch như vậy để dễ liên kết với ý của câu sau?

    Tình hình giao thông đang bế tắc – có nên đổi thành Đường đang tắc, vẫn thường như vậy vào đầu giờ chiều (dù có thể khác cấu trúc) cho xuôi hơn không? Giao thông bế tắc nghe hơi nặng phỏng, giống như nói về một tình trạng dai dẳng không lối thoát?

    Mấy chiếc xe chở dầu luôn luôn đổ chắn ngang đường – có nên đổi ‘luôn luôn’ thành ‘lúc nào cũng’ không?

    ‘cảm nhận thứ quyền năng vô phương cứu chữa’ có nên dịch là ‘không thể không cảm thấy quyền lực’?

    Bánh quy thai sản – có nên dịch là bánh quy có lợi cho việc sinh đẻ?

    Ban phước cho các thành phần – ban phước cho nguyên liệu (làm bánh)?

    ‘ Em đã về với anh về chuyến đi buýt đầu tiên của em’ chắc do typo? (Em đã nói với anh về…)

    ‘Nghi thức bất tín’ có vẻ đúng nếu dịch word for word nhưng đặt trong ý này và toàn bài thì không hoàn toàn là ‘nghi thức’? Theo mình hiểu thì từ nghi thức trong tiếng Việt hàm ý sự trang trọng?

    Trên đây là một số ít chỗ mình thấy lấn cấn khi đọc. Còn xét chung toàn bài thì vô cùng mượt mà.

    Cám ơn bạn đã đọc.

    Like

    1. Chào bạn,

      Rất cảm ơn bạn đã dành thời gian và sự quan tâm đến truyện ngắn mà mình dịch. Mình đã đọc những góp ý của bạn và cảm thấy bạn đưa ra nhiều ý kiến rất đáng để mình suy nghĩ, cân nhắc và tiếp tục điều chỉnh nhằm hoàn thiện hơn bản dịch của mình. Việc dịch thuật văn chương quả nhiên đem lại cho mình những niềm vui kì lạ mà trước đây mình chưa bao giờ được trải nghiệm, tuy vậy, việc khởi sự dịch thuật cũng khiến mình không tránh khỏi những sai sót, hay nhẹ nhàng hơn là những điểm chưa thực sự thuyết phục bạn đọc. Mình rất trân trọng những lời nhận xét, góp ý của bạn, và mình sẽ nghiêm túc rà soát lại bản dịch này của mình vào ngày mai (bây giờ phải đi ngủ để sáng mai dậy sớm tập chạy bộ, hehe). Sau khi hoàn thiện, mình sẽ gửi link vào địa chỉ mail mà bạn dùng để đăng kí cho comment của bạn (mình thấy đó).

      Hi vọng bạn tiếp tục giữ sự quan tâm và đưa ra thêm những lời nhận xét cho những gì mình viết trên blog này, bao gồm cả dịch và sáng tác. Mình rất vui vì chúng ta có thể trao đổi cùng nhau trên một tinh thần cởi mở và hướng tới chân giá trị như vậy. Cảm ơn sự ủng hộ của bạn rất nhiều.

      Thân,
      ChuKim.

      Like

  2. Bạn reply nhẹ nhàng làm mình mừng quá :)

    Thực ra địa chỉ email ban đầu là giả đó. Tại mình góp ý nhiều quá, sợ bị bạn mắng nên mình chọn giải pháp an toàn trước bằng cách chờ bạn reply tại đây xem như thế nào đã. Thực ra mình ít khi chủ động góp ý khi không được hỏi nên tự bản thân cũng thấy rất lấn cấn trước khi gửi. Mong bạn thông cảm.

    Mình không phải là người hay chữ. Mình cũng không sáng tác. Công việc cũng chỉ liên quan một chút đến dịch thuật. Nhưng mình chủ yếu dịch hội nghị, chứ chưa bao giờ dịch văn chương hay sách báo. Nếu bạn thấy mình có thể có ích cho bạn thì bạn gửi bài vào email hg_lananh@yahoo.com nhé.

    Cám ơn bạn!

    Like

  3. “Em rất khác biệt”- quả là câu nói có tác dụng để tán gái nhỉ 😆
    Mất 2 ngày đọc bài này đó :)

    Like

          1. tôi thấy cậu thái độ nghiêm túc hơn cả khi chửi bậy, tôi sợ quá cậu ạ, nên xin lỗi rất thành khẩn :D

            Like

              1. Bụng dạ rộng rãi nên hay để nhiều thứ vào đó. Tôi giống cậu 1 điểm này thôi nhớ đc rất nhiều chi tiết mà bạn bè quên tuột. Mình nói ra chúng há hốc mồm bảo mình thù lâu nhớ dai, chỉ nhớ dai chứ ko thù lâu. Cũng tốt mà ;)

                Like

Leave a Reply to chukim Cancel reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s