Truyện ngắn: Những đám mây nồng ấm – Chris Adrian

Chris Adrian (1970-) là nhà văn người Mỹ. Ông đã xuất bản ba tiểu thuyết, Gob’s Grief (2000), The Children’s Hospital (2006), The Great Night (2011), và tập truyện ngắn A Better Angel (2008). Hiện ông sống và làm việc tại San Francisco.

Chris Adrian (Grafilu - newyorker.com).jpg
Tranh: Grafilu – newyorker.com

‘Những đám mây nồng ấm’ (The warm fuzzies) là truyện ngắn của Chris Adrian được đăng trong tuyển tập 20 under 40 (2010) của tạp chí The New Yorker. 


Những đám mây nồng ấm

Cha mẹ Molly luôn đưa cho những đứa con mới một cái trống lục lạc và dí chúng với em, vì trống lục lạc dễ chơi, tuy có những tình tiết lắt léo mà chẳng ai hiểu hay trân trọng, và bởi em rất tử tế, dù em chỉ tử tế bằng khoảng một nửa so với những gì mọi người đinh ninh về mình. Thằng nhóc mới đến trông không khác biệt gì mấy so với những đứa trước đó, những anh chị em nuôi da đen cứ đến và đi và đến và đi, từng đứa một dạo qua gia đình của Molly cho tới khi chúng không thể tránh khỏi bị loại. Em gần như không nhớ nổi tên của Jordan trước khi thằng nhóc rời khỏi đó, bắt xe tới buổi giới thiệu Job Corps(1) ở Houston, và giờ thì Paul ở đây, một thằng nhóc mười ba tuổi, nhỏ hơn một chút so với thằng anh nuôi đã bị chuyển đi mà nó chưa từng gặp mặt, và chơi trống lục lạc tệ y chang. Molly bước lại gần thằng nhóc trong gara và cố giữ nhịp theo cách rõ ràng hơn và rất dễ bắt chước, nhưng nó không hoà theo, và mặc dù nó hát đúng nhạc, nhưng lại liên tục sai lời. “Tôi yêu bạn,” Molly hát, cùng với các thành viên khác của gia đình vào đoạn điệp khúc. “Tôi yêu bạn thật nhiều. Tôi yêu bạn nhiều hơn bạn có thể biết, nhưng Chúa Jesus còn yêu bạn hơn thế nhiều nhiều nhiều nhiều!” Đó không phải là đoạn điệp khúc khó nhớ nhất, nhưng thằng nhóc cứ hát thành “Tôi yêu bạn quá đi” thay vì “thật nhiều”, và “nhiều hơn bạn có thể hình dung” thay vì “nhiều hơn bạn có thể biết.” Quả là điềm gở khi mọi người không thể chơi cho đúng phần điệp khúc bài hát này. Tức là sẽ chẳng có gì dễ dàng cho các em cả.

Chris Adrian - The warm fuzzies (minh hoạ - Zohar Lazar - newyorker.com).jpg
Minh hoạ: Zohar Lazar – newyorker.com

Dầu sao, thật vô nghĩa khi lo lắng cho các em, ngay cả ở giai đoạn đầu này, khi bạn nghĩ rằng có thể làm gì đó để giúp chúng, khiến chúng hoà nhịp với nhau tốt hơn, hay để xoa dịu cái xung đột hiển nhiên sẽ dẫn tới việc chúng bị gửi trả lại trại trẻ hoặc đưa qua một gia đình khác nào đó, hoặc một trường dạy nghề, hoặc Hải quân, hoặc tới một cơ số những cơ-hội-giả-tạo là giải khuyến khích cho việc không thể thực sự trở thành thành viên của nhóm nhạc gia đình Carter đến từ Bờ biển Virginia, bang Virginia.

Molly mỉm cười với Paul, và nó gật đầu rất ngầu với em, điều này thực sự khác biệt đây. Thường thì trong ngày đầu tiên, bọn nhóc mới tới thường hồi hộp cười đáp lễ, nhưng thằng nhóc này có vẻ như bằng cách nào đó đang đánh giá em, nhìn em từ trên xuống dưới theo cái gật đầu. Rồi nó xoay người, đánh hông về một phía và đánh vai về phía còn lại, rồi nó trao cái nhìn hệt như thế cho chị gái Mary của em ở chỗ chị ấy đang đứng hất tóc hết về sau rồi ra trước bên cái đàn keyboard, hai tay chơi mổ cò. Thằng nhóc lắc trống lục lạc một cái về phía chị ấy—không đúng lúc chút nào—và rồi về phía anh trai Colin của em ở chỗ anh ấy đang chơi guitar, hướng ra mắt trước của gara, gần chỗ cha mẹ các em. Colin đang quạt đàn và lắc từ eo, trái rồi phải rồi trái, và nhảy tại chỗ trong đoạn điệp khúc. Anh ấy cũng xanh xao như Molly, và bỗng nhiên trông thật ốm yếu so với thằng nhóc mới tới. Molly nín thở và nhắm mắt, và với một nỗ lực—giống như nén cái gì lại trong đầu—em ngừng việc nghĩ ngợi những điều không hay về em trai mình.

Thằng nhóc mới tới cũng làm hệt như vậy với Malinda, đang hát ở giữa cha mẹ các em, với Craig, đang chơi violin, và Clay, chơi guitar bass. Nó quay một vòng để làm điều ấy—một lời chào ư? một cái lắc nắm tay?—với Chris, chơi trống, và với cha mẹ em, và rồi với bé Melissa, một mục tiêu di động kể từ lúc em ấy không chơi nhạc cụ nào và cũng chẳng hát mà lại nhảy nhiệt tình xung quanh, và cuối cùng với bức tranh bằng khổ người thật của Chúa Jesus dán ở mặt sau cánh cửa gara, nơi mà một kiểu gia đình khác, hoặc một kiểu ban nhạc khác, có thể dán lên một bức ảnh đám đông trong sân vận động. Có hai cú lắc cho Chúa Jesus.

Sau đó nó nhắm mắt lại, cứ thế nhảy tại chỗ và lẩm nhẩm hát sai lời. “Chúa Jesus Yêu Bạn Hơn” không phải rock nặng lắm. Chẳng bài nào là rock nặng, mặc dù cha các em, người sáng tác với đóng góp tối thiểu của Mary và Craig, hai đứa lớn nhất, sẽ nói ngược lại. Molly làm những gì em có thể để khuấy động không khí. Em và Chris đang cùng nhau có tiến triển, chỗ nào em nhấn nhá trong bài trống của cậu thật cẩn thận, leng keng những tiết tấu tinh tế tạo thành nhịp làm nền phía dưới giai điệu vanilla của cha các em, lúc nào cũng là một trong bốn giai điệu quen thuộc duy nhất. Mặc dù vậy, bạn chỉ có thể làm nhiều chừng đó. Nếu bạn lắc quá mạnh, bạn đơn thuần là hướng sự tập trung về phía mình theo cách mà rõ ràng là bạn đã bỏ cuộc trong việc triển khai ca khúc hoặc là đang cố đưa nó tới nơi nào đó mà nó không hề thuộc về. Có một truyền thuyết hơi tế nhị một chút về trống lục lạc, nó không phải thứ mà bạn có thể cảm nhận bằng trực giác trong lần đầu tiên bạn chạm vào. Nhưng thằng nhóc đang dậm châm và lắc và quay và vỗ tay theo một bài hát nghẹt thở, cuồng nhiệt có nét giống với bài mà cả đám đang chơi. Chris, Mary và Clay nhíu mày nhìn nó, nhưng những người còn lại, đứng trước nó với trái tim hướng về Chúa Jesus, chẳng hề nhận ra trong suốt một phút. Ca khúc dừng lại, không hoàn toàn vì hiệu lệnh chặt tay karate của cha các em, nhưng thằng nhóc không dừng. Mắt nó nhắm nghiền, tay chân nó bay bổng, và nó vừa mỉm cười vừa hát: “Chúa Jesus, người là bạn tôi! Người là bạn thảng hoặc của tôi. Ôi Chúa Jesus!” Melissa phá ra cười, và nhảy theo cho tới khi Mary nắm lấy vai nó.

“Paul,” mẹ chúng nói. “Paul!” Nó ngừng nhảy và nhìn bà.

“Khi nhạc dừng,” cha các em nói, “thì bài hát kết thúc.”

“Tên con,” thằng nhóc trả lời, “là Peabo.”

 

Đã có thời họ chỉ đơn giản là Carters, không phải Ban nhạc Gia Đình Carter, nhưng Molly chỉ nhớ mơ hồ về chuyện ấy. Có thời khi cha em còn là một nha sĩ toàn thời gian thay vì chỉ làm nửa ngày, và mẹ em phụ trách vệ sinh răng miệng ở phòng khám của ông, khi tất cả các em đều đến trường học bình thường thay vì học ở nhà, khi chiếc xe hơi của gia đình còn là một chiếc Taurus thay vì một chiếc xe bus loại nhỏ, và khi Melissa thậm chí còn chưa ra đời. Rồi một buổi sáng cha mẹ em tỉnh dậy—mà chẳng hề có một viễn kiến nào hay có chút kinh nghiệm gì về đêm tối của tâm hồn—với nhận thức mới mẻ về mục đích của cuộc đời. Cả hai cầm cây đàn guitar lên, chưa bao giờ chơi trước đó, và bắt đầu cất tiếng hát ngợi ca Chúa Jesus.

Cũng có một thời, trước khi họ thu các album hay đi lưu diễn hay xuất hiện trên các video bằng máy quay cầm tay do dì Jean của chúng sản xuất và đạo diễn, được phát sóng (khá khuya) trên kênh truyền hình cáp cộng đồng và rồi, cuối cùng, trên chương trình Samaritan TV, khi Molly thích ở trong ban nhạc, và thích được là thành viên của gia đình. Em từng có làn trải qua vai trò của Melissa, cũng nhảy cuồng nhiệt y như Mellisa bây giờ, và đã trải nghiệm niềm hân hoan phi thường nhất qua mỗi buổi diễn, dù đó là buổi diễn tập trong gara hay một buổi hoà nhạc ở một khán phòng trường học trước mặt ba trăm đứa trẻ. Rồi vào một buổi sáng hai tháng trước, em thức dậy, thấy rằng hào quang của mọi thứ đều đã tắt ngấm. Đó là một cuộc bừng tỉnh cũng đột ngột như lần mà cha mẹ em đã trải qua. Em tới ăn sáng, cảm thấy không khoẻ nhưng cũng chẳng ốm, và băn khoăn rằng cảm giác ấy khác biệt ra sao khi cảm nhận có gì đó không ổn lắm với bản thân mình mà vẫn thấy chắc chắn mình đang có thể trạng hoàn hảo, nhưng em không biết vấn đề mà em gặp phải có thể là gì cho đến khi em nhận ra cha em kém lôi cuốn đến cỡ nào. Không phải vì cái áo choàng cũ của ông hay cái áo phông cáu bẩn hay thậm chí cả cách ông nói chuyện khi miệng đầy trứng ra sao; sáng nào ông cũng mặc những đồ ấy, và ông luôn vừa ăn nhồm nhoàm vừa nói—chỉ đơn giản ông là như vậy. Em cứ nhìn ông suốt bữa sáng, và cuối cùng thì ông cũng hỏi em xem trên mặt ông có gì không. “Không, thưa cha,” em nói, và một giọng nói nhỏ xíu—cái kiểu mà bạn nghe thấy rõ vô cùng ngay cả khi nó chẳng thực sự phát ra—cất lên đâu đó trong em, Ông ấy có sự xấu xí phủ khắp khuôn mặt của mình.

 

Peabo ngồi cạnh Molly trong buổi tối đầu tiên. Molly chỉ mới vừa quen với phần mở rộng của bàn ăn, để có thể ăn tự nhiên bằng tay phải của em thay vì cái tay trái không-đụng-cùi-trỏ-với-Mary. Em đã nói lời giã biệt với cái ghế trống tối hôm trước, khi cha các em thông báo tới toàn thể gia đình rằng các em sẽ có thêm một cậu em trai.

“Luôn ấy ạ?” Chris hỏi, vì Jordan mới chuyển đi được có ba tháng.

“Luôn ấy ạ?” cha các em nói. “Ý con là cuối cùng thì!”

“Con nhớ Jeffrey,” Malinda nói.

“Tên nó là Jordan,” Chris đáp.

“Tên anh ấy là gì cơ?” Melissa hỏi. “Jeffrey à? Elmo à? Sarsaparilla à?”

“Paul,” cha các em trả lời, và mẹ các em nói, “Paul Winner,” và Chris tiếp, “Vâng, con cá rằng nó là một người chiến thắng (ND: winner)  thực thụ.” Colin đập tay với nó, và kết cục là cả hai đứa bị tống cổ không được ăn nữa, ghế của chúng xoay về phía tường, mặt chúng cúi gằm vào lòng, còn đồ tráng miệng của chúng thì được chia cho Mary mũm mĩm và Craig béo ú.

Chris và Colin ngồi ở góc bàn khi các thành viên khác nói lời tạ ơn. Mary bắt đầu trước tiên và lặp lại những điều hiển nhiên: em biết ơn vì có vị khách mới; em biết ơn vì sự toàn vẹn của cuộc đời Peabo và cho cả tâm hồn của em ấy. Mary luôn nói đại loại như thế. Dựa vào việc vai của Colin ngọ nguậy, Molly biết ngay thằng nhóc này đang chọc một ngón tay vào mồm để tự bịt miệng bản thân. Clay biết ơn vì đàn guitar của nó đã được lên dây. Craig thì biết ơn vì màu đỏ thẫm. Malinda biết ơn nốt nhạc của gam Rê giáng, còn Melissa thì biết ơn vì lông thú, nhưng, khi bị cha các em ép phải cụ thể hơn, em nói, “Những sinh vật lông lá.” Lát sau Molly hơi hoảng một chút xíu khi tới lượt mình. Có quá nhiều thứ để cảm thấy biết ơn—toàn bộ mấu chốt của việc ai đó thốt ra lòng biết ơn của mình chỉ có vậy thôi. Chuyện này sinh ra vốn dĩ dễ dàng, một lời nhắc nhở hằng đêm rằng hồng ân cả hữu hình lẫn vô hình ngập tràn khắp quanh cuộc sống của mọi người. Nhưng đôi khi, tại bởi quá hồi hộp, Molly chẳng nghĩ nổi ra bất cứ điều gì, và thi thoảng những thứ bất chợt hiện lên trong đầu em lại không phải những điều em lẽ ra nên biết ơn: cái cách mà hai bên ngực em bằng nhau chằn chặn, trong khi Mary và Malinda trông như thể tụi nó có bốn bầu vú mỗi cái một kiểu để trao đổi cho nhau vậy; cái cách em thả toàn bộ khối lượng cơ thể lên cái mỏm thon thon trên yên xe đạp; cái cách mà mắt phải của Jordan hơi thiếu cân xứng so với mắt trái của nó. Và gần đây thì giọng nói vẫn đang lên tiếng với em, nên khi em nói to, “Lông tơ bồ công anh,” hay “Những đốm đen trên cánh của con cánh cam,” giọng nói sẽ bảo sự nghèo túng, hay bệnh sởi. Em nói, “Cái dĩa (ND: nĩa) này,” và giữ chặt nó, như thể nắm chắc cái dĩa như vậy có thể giúp em khỏi nói “Lỗ đít con.”

Peabo im lặng suốt bữa tối đầu tiên. Colin đã dự đoán rằng nó sẽ đói ngấu và sục sạo để vét sạch đĩa mọi người, nhưng nó gần như không ăn gì, thử tất cả các món và chẳng ăn hết món nào nhưng rất lịch sự khen ngợi cả bữa ăn. Molly quan sát nó, mong đợi nó cầm đĩa lên và lúc lắc nó về phía em, nhưng nó chỉ nghiêng đầu khi bắt gặp ánh mắt em. Cả gia đình thực hiện buổi chuyện trò theo thông lệ cho mỗi bữa-tối-đầu-tiên. Theo hướng dẫn của mẹ các em, các em sẽ dằn lòng không đả động tới những điều kinh dị đã giả thiết sẵn, và không hỏi thằng nhóc bất cứ điều gì về quá khứ của nó, và vì thế nên ý chính của cuộc nói chuyện sẽ đại để như kiểu “Anh thích khoai tây, Peabo. . . . Em có thích khoai tây không?” Thằng nhóc lúc nào cũng trả lời những câu hỏi này theo cùng một cách, với một cái gật đầu nghiêm nghị và “Em có.” Molly vẫn cứ nghĩ tới những giả thiết kinh dị. Thằng nhóc có một vết bỏng ở tay trái mà em nhận ra ngay lập lức, và mặc dù em không nhìn chằm chằm vào thằng nhóc, em tự hỏi làm sao mà nó lại bị như vậy, và có một vết sẹo ở cổ đã lành nhăn nheo và dày cộp.

Tương đương với việc đề nghị rằng các em đẩy Chúa Jesus ra khỏi nhà là việc nói rằng nên có một cái kết cho dòng anh chị em nuôi bất tận cứ đến và đi thường ngồi cạnh em trong khoảng bao lâu mà em có thể nhớ được. Nhưng em tự hỏi nếu việc ấy làm giảm đi tổng khối lượng nỗi đau khổ của bất kì ai để giữ thằng nhóc lại quanh đây trong vài tháng ở một tình trạng mà cuối cùng thì không giúp được ai, thì cũng chẳng thay đổi được cuộc đời ai nốt, và sẽ chỉ thu xếp được đôi ba việc trong chốc lát mà thôi. Nhưng thế thì cũng giống như việc tự hỏi rằng có nên dừng chơi nhạc và ca hát hay chăng, vì những bài hát của họ trong thực tế chẳng hề chạm được vào trái tim mọi người và khiến họ yêu thương chính mình, lẫn nhau và cả Chúa Jesus, người là trung gian của tất cả tình yêu dưới mọi hình thức, tình yêu cơ quan thanh toán bù trừ(2) và tình yêu bo mạch điện tử. Nhìn thằng nhóc mới tới, em nghĩ có thể sẽ dễ hơn cho mọi người nếu nó cứ thế mà bỏ đi ngay bây giờ, và em đợi giọng nói thêm thắt mấy lời hằn học và tàn nhẫn vào suy nghĩ ấy. Em cứ đợi và đợi, nhưng chẳng có gì hiện ra, và khi thằng nhóc liếc nhìn em lần nữa và bắt gặp ánh nhìn chăm chú của em, em bỏ một miếng xúp lơ vào miệng rồi nhìn vào lòng mình.

 

“Tên gì mà lạ thế,” sau đó Mary nói, khi bốn đứa con gái ở trong phòng tắm sửa soạn cho giờ đi ngủ. “Peabo. Pea . . . bo.”

“Đó là tên cho chó,” Malinda nói. “Đây mà, Peabo. Đây mà, cu!”

“Đây mà, mèo con ơi!” Melissa nói, rồi nghĩ một thoáng và thêm, “Có ‘pee’ (ND: tè) ở trong đó. Em cá là tên lót của anh ấy là Doody (ND: tiếng lóng, nghĩa là phân).” Cô bé tạo dáng trước mặt Mary và giơ tay lên. “Xin chào, tên tôi là Pee Doody. Bạn đi-nặng khoẻ chứ? (ND: nguyên tác tiếng Anh ‘How do you doo-doo?’, lời chào xã giao nhưng dùng tiếng lóng với hàm ý trêu chọc, ở đây tôi không tìm được cách diễn đạt tương đương trong tiếng Việt)” Mary vỗ vào tay con bé, còn Melissa thì cười sằng sặc. Đó là điều thường thấy, bình thường và theo mong đợi như với những câu hỏi trong bữa tối, hay cho đứa trẻ mới tới bắt đầu với trống lục lạc—toàn những chuyện đã từng xảy ra trước đây, và tất cả sẽ còn lặp lại, cái đụng chạm của sự cay nghiệt ngay lúc bắt đầu, sự đi-nặng tương đối trong sáng mà lại thiếu đi nọc độc sâu thẳm. Những điều này sẽ từng chút từng chút một biến mất, và những tiếng cười khúc khích nhạo báng sẽ được thay thế bởi vẻ tròn mắt khâm phục, một hình ảnh toả sáng chậm rãi mà rất có thể bị bỏ lỡ nếu nó không phải là một phần của vòng quay anh chị em nuôi bất diệt. Molly dừng lại khi đang đánh răng để thở hắt ra.

“Sao đấy?” Malinda hỏi.

“Không có gì,” Molly nói, bởi vài tháng nay Malinda đã hoàn toàn bị thuyết phục rằng Molly nghĩ rằng em ấy giỏi hơn tất cả mọi người, và Malinda tự nhận lấy trách nhiệm phải dạy cho Molly thấy rằng thật phi-Công-giáo và xấu tính thế nào khi mà đi loanh quanh và thở dài thậm thượt để mọi người biết rằng mày đang thấy nhàm chán bởi chính sự nổi trội của mày. Tất nhiên là hoàn toàn không phải như vậy. Molly thực ra cảm thấy mình khá kém cỏi, so với các anh chị em còn lại—chỉ vì em luôn cảm thấy bất đắc dĩ tham gia thoá mạ bọn họ không có nghĩa là em cho rằng mình giỏi hơn ai cả. Nhưng em chẳng kể cho Malinda nghe.

“Sao đấy?” Malinda hỏi lại lần nữa.

“Tên lót của nó là Bo,” Molly nói. “Em thấy hồ sơ của nó trên bàn Cha. “B-O. Paul Bo. P. Bo.”

“Em thích nó.” Mary nói, mỉm cười.

“Em lẽ ra không được xem những thứ trên cái bàn ấy,” Malinda nói.

“Molly và Doody,” Melissa hát, “ngồi dưới gốc cây gì.”

“Nó sẽ không trụ nổi một tháng đâu.” Molly nói. Em rửa sạch miệng và đặt bàn chải đánh răng vào chỗ đánh-dấu-bằng-màu của em—xanh lam—trong khay đựng, và đi vào phòng ngủ của mình. Nhờ bốc thăm mà năm nay em được ngủ phòng riêng; các chị em còn lại ở chung một phòng. Malinda nói rằng việc có phòng riêng đã làm Molly thấy mình trên cơ hẳn.

Em tắt bỏ ánh đèn, lờ đi cả bài học thường ngày lẫn bài học đặc biệt về Kinh thánh của em, lờ cả việc quỳ bên giường mà cầu nguyện, và chỉ cầu rất quấy quá (dù không hề không chân thành) một lời chúc phúc thầm lặng cho tất cả thành viên trong gia đình, lật giở khuôn mặt họ qua đầu em như một bộ bài, thay vì biến mỗi người họ trong tâm trí em thành một bức tượng con con. Em để tâm tới thằng nhóc mới tới sau cùng, hình dung ra nó trên một lá bài cho riêng lẻ, trong tư thế chơi trống lục lạc, ở giữa nhịp lắc và giữa bài kinh tạ ơn hay hăm doạ, bất kể điều gì đi chăng nữa, và em để tâm trí mình tĩnh lặng trong khoảnh khắc trong khi em giữ lấy hình ảnh về thằng nhóc, như thể mời gọi giọng nói phát biểu điều gì đó tàn nhẫn về nó. Nhưng rồi lại chẳng có gì xuất hiện. Với những thành viên còn lại của gia đình, em cầu cho nọ được hạnh phúc và sống lâu, và họ sẽ cùng được lên Thiên đường nếu họ có cùng chết trong đêm ấy bởi một trận động đất hay một trận hoả hoạn (và em tưởng tượng chóng vánh họ được chôn cất dưới đất, cùng mái tóc cháy khét). Với thằng nhóc, em chỉ cầu cho sau tất cả thì mọi thứ ở đây sẽ xảy ra suôn sẻ cho nó. Rồi em ngủ.

Khi em thấy thằng nhóc đứng ở chân giường em, ý nghĩ đầu tiên của em là thật kì lạ khi mơ thấy nó, nó thú vị chứ đâu có hấp dẫn, và buồn bã chứ không hề gây phiền muộn. Em nhìn nó một lát trước khi nhận ra em đang thức. Em ngồi dậy. “Cậu làm gì ở đây vậy?” em hỏi. Để trả lời, thằng nhóc thực hiện một chuyển động bùng nổ, vung tay hướng lên và ra ngoài ba lần, vỗ vào gót, và xoay tại chỗ. Em rùng mình nhưng không hét lên; nó làm lại thêm lần nữa, và rồi cái gì đó phức tạp hơn và khó theo dõi hơn, rồi em cũng theo dõi được, và ghi nhớ mọi cử động, cú chỉ tay và cú xoay, cái cách thằng nhóc làm súng đôi bằng tay và khai hoả bắn khắp quanh phòng em và rồi thổi làn khói tưởng tượng từ nòng của khẩu súng lục ngón tay của nó, những cú nhảy trong không trung và màn solo guitar không khí ngắn gọn và mỗi chuyển động gãy gọn của điệu nhảy robot. Thằng nhóc mỉm cười với em khi nó hoàn thành. Em nhìn lại nó, không cười, chăn kéo tới tận cằm, và quan sát nó nhảy ra khỏi phòng em, thực hiện những cú moonwalk hoàn hảo ngay phía ngoài cửa, mà nó vẫn để mở. Em nhìn về phía cửa mở một lúc lâu, xem xét bằng chứng chuyện thằng nhóc đã ở đây, vì em luôn đảm bảo mình đóng cửa mỗi đêm trước khi lên giường, và cố nghĩ xem em nên nói gì với chính mình về chuyện em mới vừa chứng kiến. Em không biết phải nói gì, nên thay vào đó, em chờ đợi giọng nói hậm hực, không thoả mãn trong em nói gì đó, hoàn toàn mong ngóng điều đó hiểm ác và đê tiện hơn bất cứ điều gì mà nó chưa từng dám nói ra. Nhưng những lời, khi xuất hiện, lại là Nhảy đẹp lắm.

 

Em ngẫm về các động tác ấy khi hôm sau ngồi cùng mẹ và các chị em gái may trang phục biểu diễn cho video mới. Mọi người làm trong gara, nơi duy nhất trong nhà có chỗ trống đủ rộng để trải vải ra sàn, dù hôm nay công việc là đính vảy trang kim lên mấy bộ jumsuit, tất cả ngồi khoanh chân trên những tấm đệm lấy ra từ ghế sofa rời trong phòng khách. Em đã tự hỏi, cho tới khi em hoàn toàn say ngủ, liệu em có nên tố cáo thằng nhóc. Dường như đó là nghĩa vụ của em, sau tất cả, để trao cho thằng nhóc bất kì sự giúp đỡ nào mà nó cần để giữ nó đừng trở thành vị khách không mời giữa đêm bước vào phòng của những anh chị em xa lạ. Và có thể em phải tố cáo nó vì lợi ích của chính em, bởi biết đâu ẩn trong thằng nhóc là hàng cơ số hành vi xấu, mà vũ khúc ngắn ngủi ấy mới chỉ là khúc dạo đầu duyên dáng và dễ chịu của một quãng đời lệch lạc.

Và quả thật mới chỉ là một vũ khúc ngắn ngủi. Đó là tất cả những gì thằng nhóc đã làm. Có những gia đình Công giáo coi đó là một tội lỗi, nhưng gia đình này không nằm trong số đó. Đại loại có một dạng vi phạm nào đó; em chắc chắn như vậy. Nhưng chính xác là gì thì chẳng rõ ràng chút nào. Mà dù có là gì, bị tống cổ ra khỏi nhà chỉ trong ngày thứ hai của nhiệm kì có vẻ là quá gay gắt cho một hình phạt, và đó là chuyện có khả năng sẽ diễn ra, vì em biết cha em sẽ lưu tâm đến vấn đề với sự tinh tế ít hơn đáng kể so với em. Em phát hiện ra mình quan tâm tới chuyện thằng nhóc có mắc kẹt lại ở đây hay không, bởi thật tốt khi nghe thấy giọng nói nói ra điều mà em có thể đồng tình. Có lẽ, em nghĩ, sự thống trị của những lời chế nhạo cay độc đã qua đi và em đã lại có thể làm người tốt.

“Tập trung vào, con yêu,” mẹ em nói, em sắp khâu miếng trang kim hình cá vào mặt sau của cái jumpsuit khoá kéo sau lưng, một mảnh màu xanh dương. Đám con gái đã thua trong cuộc tranh luận với cha các em về việc mấy con cá nên được sắp đặt thế nào. “Lũ cá luôn bơi cùng hướng,” ông nói. “Lên trên, hướng về phía Chúa Jesus.” Hẳn sẽ thoả mãn lắm, Molly nghĩ, nếu cho bọn nó quay loạn các hướng lên.

“Con xin lỗi,” Molly nói. Mẹ em đưa cho em cây gỡ chỉ, rồi Molly bắt đầu gỡ các mũi khâu, nhưng em đang tưởng tượng ra Peabo nhảy múa trong một bộ đồ cá bơi ngớ ngẩn. Mẹ em vẫn nhìn em khi em đưa trả bà cây gỡ chỉ.

“Chà?” mẹ em nói.

“Sao ạ?”

“Chỉ có con là chưa chịu tâm sự,” bà nói. “Mèo lấy mất lưỡi của con rồi hả?”

“Dạ?”

“Chà, con nghĩ thế nào về sự bổ sung mới nhất cho gia đình mình?”

Molly nhún vai. “Cậu ta có vẻ tốt,” em nói.

“Và?”

Molly lại nhún vai.

“Và con bé này quá kiêu kì nên nó sẽ không chia sẻ quan điểm đâu ạ,” Malinda nói. Mẹ em suỵt Malinda trật tự bằng một cái vẫy tay. “Mary,” bà gọi, “Nói cho em con biết em đang sống trong kiểu gia đình nào?”

“Một Liên Hiệp Người Công Giáo Dân Chủ,” Mary trả lời, chẳng buồn nhìn lên, vẫn chú tâm vào công việc.

“Và một Liên Hiệp Người Công Giáo Dân Chủ thì dựa trên điều gì?” Bây giờ bà quay sang Malinda, nhưng Molly nghe thấy giọng nói trả lời trước tiên: Mỗi công dân đều xấu xí đến hoàn hảo và nhàm chán cũng đến hoàn hảo.

“Sự cởi mở và giao tiếp yêu thương trung thực về thông tin được chia sẻ bình đẳng giữa tất cả các thành viên,” Malinda nói. Molly thở dài, và Malinda lườm em, nhưng em thở dài với giọng nói, không phải với chị gái em.

“Cho nên,” mẹ các em nói với Molly. “Một lần nữa nào, với cảm xúc nhé!”

“Có chuyện gì tồi tệ từng xảy ra với cậu ấy hả mẹ?” Molly hỏi.

“Những điều tồi tệ xảy đến với tất cả chúng ta,” mẹ em trả lời.

“Điều gì cực kì tồi tệ,” Molly tiếp. “Điều gì bi kịch ấy?” Em chưa đọc được gì nhiều hơn ngoài trang đầu tiên của tập hồ sơ trên bàn của cha, và không biết liệu có khi nào họ đưa những chuyện như vậy vào đó không, một bảnh danh sách những vấn đề trong đời thằng nhóc: mẹ chết, cha chết, bị dì đánh đập, phải lao động cực nhọc, bị trừng phạt bằng những vết bỏng.

“Không phải ai cũng có thể gặp may mắn như em đâu,” Malinda nói.

“Hoặc như con,” mẹ các em nói. “Hay con hay con hay con hay con.” Bà chỉ vào từng đứa, rồi lại chỉ vào Malinda thêm lần nữa, và rồi bà gợi ý rằng mọi người lấy chuyện này làm cơ hội để nói ra tình yêu của mình, thế nên Molly quay sang phía Mary và Melissa và nói, cuối cùng chịu đựng cái ôm cứng đờ của Malinda.

“Chị yêu em,” Malinda nói, dựa vào gần để thì thầm, “Mặc dù em đúng là đồ kinh tởm.”

“Em cũng yêu chị,” Molly nói, em cố gắng hết sức thể hiện ý mình đúng như thế.

 

Sau đó, suốt buổi tập chiều, em cứ mong Peado nhảy lại điệu ấy lần nữa. Nhưng hôm nay thằng nhóc bắt chước y hệt theo em, thực hiện những bước một-hai, một-hai hoàn toàn khớp với em, và hát đúng tông trong đoạn sáng tấc riêng của album mới, chính là lý do mà mọi người phải tập luyện hàng ngày, may đồ biểu diễn, và giữ kín cái video. Họ sẽ bắt đầu tour diễn trong hai tuần nữa.

“Khúc Ballad của Đám mây Nồng ấm” là ca khúc phức tạp nhất mà cha em từng viết. Nó không có nhiều hơn bốn hợp âm thường thấy, nhưng nó dài bảy phút, và lời hát kể một câu chuyện hẳn hoi. Chuyện cổ tích về Đám mây Nồng ấm và cuộc chiến với Cầu gai Lạnh lẽo(3) được mở ra trong mười hai đoạn, với một nửa gia đình khiêu khích các thành viên còn lại trong bài hát. Peabo, cùng Molly, thuộc nhóm Cầu gai.

Suốt cả ngày, Molly quan sát thằng nhóc sát sao hết cỡ mà em dám, chấp nhận em bị Malinda giám sát chặt chẽ thế nào để tìm bằng chứng vụng trộm hay sự thiếu thiện chí với thằng nhóc. Mẹ em nói với cả bọn rằng Chúa Jesus sẽ giúp chúng tới một nơi mà chúng không thể thấy thằng nhóc là người da đen, rằng tình yêu hoàn hảo thì đi kèm với bệnh mù màu toàn diện, nhưng mỗi khi Molly thấy nó đứng cạnh một trong số anh chị em của em thì em chỉ nhận ra có mình nó, nó trông mới thật khác biệt làm sao. Da đen thật đẹp, giọng nói cứ tiếp tục nói, khiến em phải lắc lắc cái đầu.

Thằng nhóc nói chuyện với em giống hệt như cách nó nói chuyện với lũ con gái, lịch sự và không bao giờ kéo dài. Nó bỡn cợt và đùa nghịch với đám con trai, và có vẻ như đã thiết lập ngay lập tức tình bằng hữu với chúng đến nỗi đã đính chính lại cái nhìn xa cách mà nó tạo ra cho mọi người trong suốt buổi tập và bữa tối đầu tiên. Em quan sát nó chơi với các anh em trai. Cứ như thể là có hai thằng nhóc mà chúng chẳng bao giờ đồng thời hiện diện. Một thằng nhóc đột nhập vào phòng em để giới thiệu vũ khúc ngắn ngủi của nó cho vai diễn của em, một thằng nhóc vật tay với Craid và giải phương trình đại số cho vui với Colin. Em có thể hiểu được nếu có hai thằng nhóc ở trong nó, bởi em vẫn cảm thấy có hai cô bé ở trong em, một cho giọng nói bình thường nói những điều bình thường về mọi người và một phát biểu thứ ngôn ngữ dành riêng cho những lời sỉ nhục nhẫn tâm. Nếu em nhìn vào tấm gương trong phòng tắm đủ lâu, em nghĩ em có thể nắm bắt được những đặng điểm chồng lẫn của cô bé kia trong ánh đèn nháy chớp tắt trên đầu em: mắt cô bé ấy nhỏ và mũi thì hếch lên như mũi lợn, miệng cô ta là một vết thương không màu trên khuôn mặt. Một lần Malinda bắt gặp em nhìn vào chính mình như vậy và nói, “Em nghĩ mình xinh lắm phải không?”

Molly vấp nhịp, và vào điệp khúc bị chậm.

Bạn có phải một đám mây nồng ấm chăng?

Bạn có phải một đám mây nồng ấm chăng?

Bạn sẽ trở thành một đám mây nồng ấm chăng?

Hay một trái cầu gai lạnh, lạnh, lạnh, lạnh giá?

Ban đầu, có vẻ như không ai nhận ra em lỡ một nhịp—dù sao cũng chỉ có Chris là người duy nhất thường để ý—cho tới khi Peabo cũng mắc lỗi y hệt, chỉ duy chệch một nhịp, nhưng không nhìn em. Thằng nhóc lại mắc lỗi: thêm một nhịp lỡ.

Em lỡ một nhịp trước, rồi cài một nhịp bổ sung vào cuối đoạn tiếp theo, và suốt cả phần còn lại của bài hát cả hai thay phiên nhau lỡ hụt rồi thêm thắt, có một cuộc trao đổi trên và dưới và quanh bài hát mà chẳng một ai, ngay cả giọng nói hằn học trong em, có thể hiểu được, và nó xảy tới với em, chỉ ngay trước khi bài hát kết thúc, rằng hai đứa đang nói chuyện bằng trống lục lạc.

“Vượt ngoài mong đợi!” cha các em nói, bởi lần đầu tiên các em đều đồng loạt dừng chơi đều nhau, tất cả đều theo được bản nhạc và không đứa nào quên lời bất kì đoạn nào; ngay cả điệu nhảy rũ rượi của Melissa cũng duyên dáng hơn hẳn thường khi. “Người đang hiện diện. Người đang hiện diện. Vượt ngoài mong đợi!” ông nói. Peabo khẽ gật đầu khi mọi người bỏ nhạc cụ xuống và bắt đầu trao cho nhau những cái ôm, việc mà họ vẫn thường làm cuối mỗi buổi tập, mặc dù lúc này họ mới chỉ đi được nửa chặng đường. Có một khoảnh khắc trong những lần như vậy mà Molly thực sự trân trọng vài tháng trước. Mọi người đang ôm nhau với sự phó thác nghẹt thở, hoàn toàn đồng điệu với nhau trong tình yêu âm nhạc, thêm lần nữa, ngày hôm nay, và Chúa Jesus, hẳn rồi. Chúa Jesus, Chúa Jesus, Chúa Jesus, Molly nói với chính mình, còn giọng nói lại nói Mariah Carey, Mariah Carey, Mariah Carey, chuyện này đem lại một cảm giác cảnh báo mới mẻ và bức thiết tới nỗ lực chân xác nhận thứ mà họ đang cảm nhận, và với đôi mắt khép hờ, em cố gắng cảm nhận điều đó bằng sức mạnh chân chính của ý chí. Em căng ra, và có một cảm giác hiện lên trong em như bong bóng nở to, rõ ràng như ban ngày khi có một hình ảnh trong đầu mình: một con thằn lằn nằm phơi nắng trên tảng đá, trông thật khoan khoái và trôi dần vào xa xăm.

 

Tối hôm ấy cả nhà đi nhà thờ. Molly ngồi đó, nhìn quanh mà chẳng quay đầu. Ở đây còn tệ hơn, bị vây hãm xung quanh không chỉ bởi gia đình mà còn bởi toàn thể giáo hội, cô Louque tóc tai bờm xờm ở hàng ghế phía trước em và già Landry ở phía sau. Nhà thờ, to như một cái nhà kho công nghiệp, bởi trước đây nó từng được dùng làm nhà kho, chật kín những người tốt, người bình thường khiến em phát xấu hổ vì tính đại diện của họ. Trên sân khấu, Đức cha Duff là điểm sáng bởi chất giọng của mình. Từng có một giáo sĩ mang tên Fudd, nó hát lên, và em cố thực hiện biện pháp tinh thần tương đương là lấy ngón tay bịt tai và hát la la la.

Đó là một kiểu thời khắc của Chúa Jesus khác với khi cả nhà từng đạt tới trong cái hôm ở nhà, nhưng sự thất bại của Molly cũng tồi tệ hệt như vậy. Mẹ em đang run rẩy và rên rỉ, cha em đang lắc lư và ho sằng sặc, các anh em trai em đang ngáp còn các chị em gái của em đang ỉ eo như mèo, và phía ngoài họ, cả giáo hội cũng trở nên phấn khích giống như vậy, và Molly lẽ ra nên lắng nghe, sau đó, khi tất cả mọi người đều nói về bài hát mới tuyệt vời với họ làm sao khi họ cất tiếng nói tâm hồn theo cách ấy. Em nhắm cả hai mắt, rồi he hé một mắt để nhìn Peabo, đang đứng lặng thinh kế bên em. Bài thơ năm câu về Đức cha Duff bỗng ngập ngừng và rơi vào thinh lặngkhi em quan sát thằng nhóc. Trông nó không ngu ngốc như những người khác, giọng nói lên tiếng, cùng lúc khi em nghĩ, Trông nó không ngu ngốc như mình. Molly nhìn lên đầu cô Louque. Cô ấy đang nhảy tại chỗ như một bé gái.

Tập thánh ca của các em chạm vào nhau và khuỷu tay các em chạm vào nhau và đầu gối các em chạm vào nhau. Nhưng Peabo không nhìn em, và thằng nhóc hát thánh ca mà không có bất cứ nốt hay âm tiết thêm thắt nào có thể sắp xếp thành một lời nhắn gửi. Khi đến lúc trao cho nhau tình thương mến, nó quay sang phía mẹ em, và ôm Colin và Chris và Clay và cha em, và nó với qua em để ôm Mary, nhưng nó chẳng buồn liếc mắt tới Molly. Thật rõ rành rành, em tự nhủ, rồi em thử nghĩ xem có cách giao tiếp thông minh nào đó với thằng nhóc. Tất cả những gì em nghĩ ra được là xé một mẩu từ một trang trong một tập thánh ca và gấp thành hình con rắn, biểu thị một điều gì đó, mặc dù em cũng không dám chắc là điều gì. Thất bại của em trong việc tưởng tượng ra điều đó khiến mọi thứ trở nên vô dụng và xuẩn ngốc, và em đoan chắc, bất thần, rằng em đã tưởng tượng ra lợi thế độc đáo của thằng nhóc. Em nhắm mắt lại, lúc lắc đầu, và nhận ra mình muốn hét lên thật to.

Hết lên thì cũng tốt thôi. Bạn hoàn toàn nên biểu đạt tâm hồn mình mỗi khi cảm nhận đc nó. Điều này thường khiến bọn con nuôi ngạc nhiên, mặc dù các em đã được giải thích vắn tắt trước khi các em đến nhà thờ lần đầu tiên. Nhưng thằng nhóc có vẻ như đã mượt mà đón nhận tất cả. Molly làm việc mà em vẫn thường quen, lắc lư qua lại mắt dán lên trần nhà và lẩm bẩm thời gian biểu bằng tiếng pig Latin(4) với chính mình. Em cố gắng tách giọng của các anh chị em mình khỏi những tiếng lao xao. Em nghe thấy Malinda nói gì đó đại loại như “Hoa nhung tuyết!” Em nghe cha nói “Omalaya!” và mẹ em nói “Paw-paw!” và rồi, cuối cùng, em nghe thấy Peabo, ngay kế bên em, nói gì đó nghe như “Tôi yêu bạn tôi yêu bạn tôi yêu bạn tôi yêu bạn.” Có chất điện tử, biến đổi trong giọng nói của thằng nhóc. Em không mở mắt, hay nhìn nó, nhưng em biến những từ ấy thành thời gian biểucủa mình. “Tô-ay oyê-lay obbb-nay.” Em cứ tiếp tục với những âm oooh-yays cho đến tận giây phút cuối cùng, khi đám đông dời ra ngoài, và bản thánh ca cuối cùng khởi đầu chậm rãi, được cất lên khắp nơi quanh đại sảnh bởi những người đã hồi phục đủ để có thể hát. Khi em mở mắt, em thấy Peabo đứng thẳng thắn và cao ráo cạnh bên em, miệng mở to theo bản thánnh ca, vừa hát vừa rống lên.

Đêm đó, em tới phòng thằng nhóc, sau khi chắc chắn mọi người đều đã ngủ. Đó là một căn phòng nhỏ mà đứa con nuôi nào cũng ở qua, không hẳn là một cái phòng ngủ, không có gian thay đồ mà chỉ có một cái tủ quần áo. Có một cái tủ ngăn kéo và một chiếc ghế nhỏ, nhưng chẳng còn chỗ cho đồ gì khác ngoài một chiếc giường đơn. Cái màn đang mở, và nhờ ánh đèn đường mà Molly có thể thấy Peabo nằm dài trên giường, trên tấm chăn, trong bộ đồ ngủ. Em đứng nhìn từ cửa trong khoảng đâu chừng năm phút, nhưng em không rõ mắt thằng nhóc đang nhắm hay mở.

Em chẳng nói gì, vì lúc trước thằng nhóc đã chẳng nói gì, có vẻ như sẽ là chơi ăn gian nếu sử dụng ngôn từ. Dù sao em cũng không biết em sẽ dùng ngôn từ gì, dù em biết rõ điều mình muốn nói. Em gửi lời nhắn: chạm, chạm, thụp xuống, đá, nhảy bật lên, nhảy bật lên, nhảy bật lên, mỗi lần lại cao hơn một chút, mà không quá cao, vì phòng thằng nhóc ở ngay trên phòng cha mẹ em. Nhưng em lên đủ cao để đá chân—một, hai, ba lần—và khi em nhẹ nhàng tiếp đất em thu mình trong tư thế squat và rồi bật tung người lên. Đây là một động tác trong video cho bài “Chúa Jesus Yêu Bạn Hơn.” Hai tay em lẽ ra sẽ vươn ra, và rồi thõng xuống, ngón tay rung rinh, ở bên mình. Nhưng vẫn cái không-phải-một-phần của em lên tiếng bằng chất giọng không phải là giọng nắm quyền kiểm soát mọi thứ khi em đang căng mình, hai tay em mở lên đỉnh đầu, chạm thành hai con chim con hoàn hảo “Địt mẹ”, không nhắm vào Peabo mà là cả thế giới này.

Thằng nhóc không hệ cục cựa trong khi em nhảy, cũng không dài lắm. Điệu vũ của em ngắn hơn của thằng nhóc, và em đi-bình-thường, không đi kiểu moonwalk, ra khỏi phòng. Trở lại giường mình, em tự hỏi liệu thằng nhóc có thức giấc chút nào, không chắc liệu có đáng thất vọng không nếu nói chuyện với nó sau một thời gian dài như vậy, giờ thì cả hai đã giao tiếp với nhau ở một mức độ cao hơn nhiều. Em hình dung mọi chuyện sẽ cứ thế này mãi mãi, xuyên suốt vai trò anh chị em nuôi và cả con nuôi thành công rực rỡ của thằng nhóc, xuyên suốt những đám cưới và những lần gia đình tụ hội và cả những đám tang, vận hành song song vượt qua những cột mốc này sang cột mốc khác của gia đình. Em tưởng tượng cả hai trong đám tang Malinda, khẽ leng keng mấy cái trống lục lạc với nhau, truyền đạt những sắc thái buồn thương và ai oán không tồn tại trong những lời chia buồn trần tục của người đời. Em đã gần chìm vào giấc ngủ, và em chắc mẩm em sắp sửa tiến vào một giấc mơ mà ở đó, biết rằng mình đang mơ, em có thể thưởng thức cái chết của Malinda, và nói những điều đại loại như “Không, tôi chẳng nhớ nhung gì chị ấy sất,” khi em cảm thấy tấm đệm bị lún xuống, và giật mình choàng tỉnh.

Thằng nhóc đang ngồi trên giường em. “Cậu có muốn thấy Chúa Jesus của tớ không?” nó hỏi em.

 

“Bóng tối,” Dì Jean nói. “Và ánh sáng! Ánh sáng . . .  và bóng tối!” Dì ấy đang trang điểm cho Molly quay video, vẽ đen nửa mặt em còn nửa còn lại thì trắng cho phần ý tưởng của buổi quay, mà cả gia đình lần lượt tham gia thể hiện diện mặt đen và diện mặt trắng của họ hướng về phía camera khi hát trong một “mộng giới” chia ô bàn cờ đen-trắng. Đó là một tấm phông mà dì Jean tự mình tô màu bằng một cái bút dạ bốc mùi. Melissa, khăng khăng đòi được hoá trang xong trước tiên, cứ tò mò hít ngửi nó. Dì Jean dừng lại trước mặt Peabo, một tay cầm hũ đồ trang điểm, và nói, “Sao mà, mảng tối đã có sẵn ngay đây rồi, phải không nhỉ?”

“Vầng,” thằng nhóc trả lời, trao cho dì cái nhìn trung dung. Cuối cùng, dì vẽ mặt cho nó y như mọi người, nhưng diện tối thì tối hơn, và mảng trắng thì chói mắt hơn, so với tất cả mọi người.

“Lạnh,” dì Jean nói, ngửa đầu ra sau và đưa tay lên để thực hiện mấy chuyển động mô phỏng cái miệng đang hát lích chích, với bàn tay đó, dì chỉ cho lũ trẻ xem mảng mặt đen của mình. “Ấm!” Dì xoay mạnh trên gót chân để khoe mọi người diện mặt trắng của dì. Molly chắc mẩm rằng toàn bộ hiệu ứng, với phông nền kẻ ô và những khuôn mặt Kabuki(5) quay quay của cả nhóm, sẽ làm cho mọi người chóng mặt, hoặc khả dĩ khiến họ lên cơn co giật, nhưng em chẳng nói ra. Giọng nói cũng chẳng ừ hử gì. Im lặng suốt cả ngày. Dù gì em cũng không thực sự quan tâm nếu có ai đó bị co giật. Em không thực sự quan tâm nếu em chơi tốt, trong suốt những đoạn có ban nhạc mặc đồ trang kim cá trong video, khi dì Jean trượt patanh quanh gara mắt dí sát vào máy quay. Em không quan tâm em có giữ được nhịp không, và em cũng chẳng quan tâm nếu Peabo làm được. Nếu thằng nhóc quăng vào mặt em những nhịp điệu duyên dáng, em sẽ lờ đi.

“Mọi thứ sẽ đổi khác, sau khi cậu thấy Người,” thằng nhóc đã nói, và quả thật như vậy. Molly đã cố ngủ mà bất thành, Chúa Jesus đu đưa ở một cung năm-giây trong tâm trí em đong đếm hàng phút cho tới tận lúc bình minh, em cố nhìn nhận xem làm sao mà em lại có thể không hiểu điều thằng nhóc thực sự muốn nói, và em mường tượng ra mình trong một phiên toà trước gia đình mình, Malinda ngồi ghế thẩm phán và những người còn lại trong bồi thẩm đoàn. “Con nghĩ ý cậu ấy là cậu ấy sẽ chia sẻ Chúa Jesus của cậu ấy với con. Chúa Jesus của riêng cá nhân cậu ấy. Trải nghiệm của cậu ấy về Chúa Jesus.” Và nó đã trở thành sự thật khi một phần trong em nghĩ rằng điều đó chính là trường hợp đã xảy ra,và cũng chính phần ấy tự hỏi sẽ ra sao đây nếu cho thằng nhóc xem Chúa của em. Em chỉ có thể tưởng tượng ra hình ảnh rõ rệt nhất, mở toang lồng ngực mình để cho thằng nhóc thấy hình dáng chân thật của trái tim em.

Mọi thứ trông vẫn thế. Cha em trông vẫn thế, ca hát với đôi mắt nhắm nghiền và quạt vẫn bốn hợp âm ấy trên cây guitar của ông. Mẹ em trông vẫn thế, uyển chuyển nhảy tại chỗ. Chris và Craig và Colin trông vẫn thế, và Clay trông vẫn thế, cằm đẩy ra như một con thằn lằn trong khi chơi guitar bass. Mary đang băm bổ, giống như chị ấy vẫn luôn luôn, trên chiếc đàn keyboard, còn Malinda thì đang loay hoay để mở đc cái miệng tuyệt vọng của chị ấy cho đủ rộng để giọng ca yếu ớt của chị ấy có thể vọng ra. Melissa đang nhảy nhót xung quanh như một đứa ngốc chẳng nắm được manh mối nào về việc có gì dành cho nó, còn Peabo . . . thậm chí chẳng quan trọng Peabo đang làm gì. Tất cả bọn họ đều gớm ghiếc, và em biết, dù không cần soi gương, rằng em xấu xí hơn bất kì ai ở đây. Ngay khi buổi quay video kết thúc, em tìm cha em trong phòng làm việc và kể cho ông.

 

Họ bắt đầu chuyến lưu diễn tại khán phòng Trường New Calvary, họ luôn khởi đầu những chuyến lưu diễn của mình tại đây, bởi nó ở ngay trên phố nhà họ, và bởi nhờ thế mà nó có thể thu hút một đám đông vừa cảm thông lại vừa biết phê bình trên tinh thần xây dựng. Mặc dù về mặt hình thức gia đình đã bỏ qua nhà trường, vị hiệu trưởng vẫn là bạn tốt của cha các em và là một thành viên của nhà thờ, ông ấy cho qua tất cả tờ mẫu đánh giá mà bọn học sinh đã hoàn thành đầy đủ, chấm điểm màn biểu diễn của nhóm nhạc từ một đến mười trong các hạng mục như là âm nhạc, tinh thần hay vẻ đẹp của thông điệp. Hơn một tuần sau sự ra đi của Peabo, vẫn còn đó một khoảng tối trong màn diễn, dù Melissa là đứa duy nhất nói rằng nó nhớ thằng nhóc, rằng các em đã chơi tốt hơn khi có thằng nhóc, và rằng âm nhạc nghe khác hẳn khi thiếu vắng nó. “Đừng có ngu thế,” Malinda nói. “Nó chỉ chơi trống lục lạcthôi mà.”

Cha mẹ các em chỉ nói có điều gì đó do thằng nhóc gây ra đã chứng tỏ kế hoạch mà Chúa sắp đặt để sống cùng các em không dành cho nó, lúc nào cha mẹ cũng nói như vậy mỗi khi có đứa nào bị gửi trả về chỗ cũ hay gửi tới chỗ mới, nhưng đám trẻ ngờ rằng đó hẳn phải là điều gì kinh khủng lắm, vì trước giờ đã làm gì có đứa nào bị gửi đi sau vỏn vẹn có một tuần lễ. “Chị đồ rằng em đã đúng về thằng nhóc ấy,” Malinda nói với Molly. “Nó không trụ nổi một tháng.” Em nhìn Molly chằm chằm.

“Em đoán thế,” Molly trả lời, nhận thấy thật dễ dàng khi nhìn lại chị mình một cách trống rỗng như thể em chẳng có liên quan gì trong việc trục xuất Peabo. Chính xác là dễ dàng hệt như khi em nhìn cha mẹ một cách trống rỗng, cả hai hay từng người, lúc họ hỏi em còn chuyện gì xảy ra nữa không ngoài việc chỉ nhìn. Dì Jean đưa em đi mua sắm, tuy thế dì chẳng mua bất kì thứ gì mà em chọn cho bản thân mình. Sự quan tâm đặc biệt làm lộ ra rằng đã có chuyện gì xảy đến với em, và Molly giấu nhẹm đi cái kẹp tóc an ủi mà dì Jean cho em, sau màn tra hỏi sướt mướt trên xe. “Hẳn là cháu đã phải khiếp hãi lắm!” dì nói, và Molly trả lời, với sự bình thản tuyệt đối, rằng đúng vậy.

Họ bắt đầu với bài “Cây Sung Dâu” rồi sau đó chơi bài “Chúa Jesus Yêu Bạn Hơn” trước khi cha các em chuyện trò một chút với khán giả. Ông không phải là một người giảng đạo, nhưng ông thích truyền đạt những bài thuyết giáo, và ông kể những câu chuyện mang hàm ý biến thông điệp của ca khúc trở thành sự giải thoát trần trụi. Ông đã nói gì đó về các lựa chọn, để dẫn tới bài “Khúc Ballad của Đám mây Nồng ấm,” trong một khoảnh khắc Molly nghĩ mình có thể nghe được sự tĩnh lặng mà giọng nói lẽ ra đang phải sỉ nhục cha em. Nhưng nó đã im lặng kể từ khi Peabo dời đi, cứ như là nó đang hờn dỗi vậy. Em không nhung nhớ gì nó, nhưng em chẳng cảm thấy tốt hơn chút nào khi giờ đây nó đã câm miệng. Em tự hỏi Peabo đang ở đâu. Em đã lảng tránh suy nghĩ về thằng nhóc một cách phi thường, dù vẫn ko thoát khỏi được Chúa Jesus của nó, người luôn bên em ở khắp mọi nơi.  Đó không chính xác là điều mà em không thể nghĩ tới, hay thậm chí em thấy điều đó hiện lên trong những quả dưa chuột hay những củ cà rốt hay những bó hoa hay những quả chuối. Thật khó để miêu tả cách mà nó đeo bám em, một dư ảnh bất tận không thể nhận biết bằng mắt thường.

Nhạc nổi lên mà em không theo; em đã lỡ mất hiệu lệnh của cha. Em vào bài chập, và bình tĩnh lại trong một nhịp điệu vô tư lự. Em nhìn quanh khán giả, thấy mình đang tìm Peabo, nhưng chỉ có ba đứa trẻ gia đen ngồi giữa đám học sinh, chúng đều là con gái. “Chị không nhớ anh ấy à?” Melissa cứ hỏi em mãi. Molly có thể thề là em không nhớ, vậy mà giờ đây em nghĩ em sắp khóc mất rồi. Cũng được thôi. Cha em cho phép rơi nước mắt, đừng nức nở là được, trong khi biểu diễn. Em bị lỡ đoạn điệp khúc trong vòng đầu, chờ đợi nước mắt ứa ra, nhưng chẳng giọt nào xuất hiện, dẫu cho mọi thứ đều nhoà đi và nhấp nhoáng trước mắt em. Gia đình em đang chuyển động quanh em, em chẳng biết tại sao, cho đến khi mọi người chia ra thành hai phe mây và cầu gai. Giọng hát của họ hướng về em, họ nghiêng đầu hỏi em có trở thành một đám mây nồng ấm không, nhưng mặt họ hiện rõ là họ đang hỏi em bị làm sao vậy.

Con không biết, em cố nói, thẳng vào mic của em, nhưng có cái gì đó phát ra, thậm chí không phải một từ bình thường mà là một tiếng ồn được tạo thành từ một giọng nói chẳng phải là giọng của em, dù nó vô cùng quen thuộc. Nó lạc đi trong lời ca. Cả gia đình bước thành thạo trở lại vị trí ban đầu và bắt đầu lời hai. Melissa nhặt lên một cái túi và bắt đầu ném những Đám mây Nồng ấm—thật ra chỉ là những con mèo bông được chải cho lông tơi lên và cắt hết chân, mua số lượng lớn ở cửa hàng giá trẻ—về phía đám đông. Molly lại lên tiếng, lần này to và rõ hơn, để không bị tiếng nhạc trùm lên nếu không bị lấn át bởi tiếng ồn của đám đông. “Chó đẻ!”

Malinda quay lại cau có nhìn em, đưa tay lên môi với một dấu hiệu biểu đạt không phải “Suỵt” mà “Câm mồm và hát đi.” Molly lắc cái giống lục lạc về phía Malinda, hai cái lắc lệch nhịp. Malinda nhíu mày và dậm chân, càng đảm bảo thêm cho một cái lắc trống lục lạc nữa và một tràng phản ứng: “Chó đẻ! Khốn nạn! Chó đẻ!” Rồi mẹ em quay lại. Bà cũng lĩnh một cú lắc trống, và Molly cho mỗi thành viên trong gia đình một phát, một người ở đây và hai người ở kia, rồi lắc loạn xạ về phía khán giả. Em tưởng tượng gia đình em trong số khán giả, và tưởng tượng chính em trong số khán giả, và tưởng tượng Peabo trong số khán giả, và tưởng tượng Chúa Jesus của thằng nhóc trong số khán giả, giờ thì em hát cho tất cả cùng nghe. Đó là toàn thể khán giả của những Chúa Jesus có đường cong diễm lệ, không cắt bao quy đầu, và mỗi người lại hỏi em một câu hỏi. “Địt mẹ!” em trả lời. Một tiếng rên vặn xoắn, nghe không giống từ ấy lắm, nhưng đó là câu trả lời, mà em hét vang, tới tất cả những câu hỏi em có thể hỏi. Thằng nhóc tới từ đâu? Nó đi đâu? Ánh sáng biến đi đâu khi nó rời bỏ vạn vật? Em đang bị làm sao thế này? Âm thanh mà em đang tạo ra—”Đệt! Đờ-ệt!”—là câu trả lời, và rồi đó cũng trở thành câu hỏi. Em đứng dậy, thẳng thắn và cao ráo, lắc cái trống lục lạc và hát một lúc rất lâu sau khi tiếng nhạc đã dừng.


(1) ND: Job Corps là đơn vị của chính quyền, cung cấp dịch vụ giới thiệu việc làm và đào tạo kĩ năng cho các ứng viên, được tổ chức ở nhiều địa điểm ở nước Mỹ.

(2) ND: ClearingHouse – Cơ quan Thanh toán Bù trừ là một tổ chức riêng biệt làm trung gian giữa người mua và người bán trên thị trường tài chính, giúp thị trường tài chính ổn định và hiệu quả.

(3) ND: bắt nguồn từ truyện cổ tích Warm Fuzzies and Cold Pricklies.

(4) ND: pig Latin là một dạng tiếng lóng, cách chơi chữ thường được trẻ con ở Mỹ dùng, hiệu quả của nó là làm cho người nghe tưởng rằng đang nghe một thứ ngoại ngữ nào đó.

(5) ND: Kabuki (ca vũ kỹ) là loại hình sân khấu truyền thống của Nhật Bản, nổi tiếng về sự phức tạp rtong việc trang điểm cho diễn viên.

Copyright © 2010 by Chris Adrian.

ThKh chuyển ngữ không có sự đồng ý của tác giả.

———-

ThKh – 2019

ThKh là một bút danh khác của ChuKim, một người viết tự do, sống và yêu tại một ngôi làng mang tên thành phố. Nếu có thể, hãy ủng hộ và khích lệ bằng cách đọc và chia sẻ những gì anh viết trong khả năng của bạn. Xin cảm ơn.

– natchukim.cogaihu@gmail.com –

PS: Tất cả nội dung trong blog này đều được tuyên bố quyền sở hữu và quyền tác giả về nội dung, ngoại trừ những bài sưu tầm có đề rõ. Mọi trích dẫn, đăng lại, vui lòng ghi rõ nguồn. 

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s