Truyện ngắn: Những hoạ sĩ trẻ – Nicole Krauss

Nicole Krauss (1974-) là nhà văn người Mỹ. Bà được biết tới qua các tiểu thuyết Man walk into a room (2002), The history of love (2005), Great House (2010) và Forest dark (2017). Tiểu thuyết của bà đã được dịch ra 35 thứ tiếng. Hiện Nicole Krauss sống và làm việc tại Brooklyn, New York.

Nicole Krauss (Grafilu - newyorker.com).jpg
Tranh: Grafilu – newyorker.com

‘Những hoạ sĩ trẻ’ (The young painters) là truyện ngắn của Nicole Krauss được đăng trong tuyển tập 20 under 40 (2010) của tạp chí The New Yorker. 


Những hoạ sĩ trẻ

Bốn, năm năm trước khi chúng tôi cưới nhau, thưa ngài Thẩm phán, S. và tôi được mời tới một bữa tiệc tối tại nhà của một chàng vũ công người Đức, khi ấy anh ta sống ở New York. Lúc đó, S. làm việc ở một rạp hát nơi chàng vũ công có một màn biểu diễn solo. Căn hộ nhỏ và đầy ắp những tài sản kì cục của chàng vũ công, những thứ anh ta được tặng, hay nhặt nhạnh trên phố hay trong những chuyến du lịch không biết mệt mỏi, tất cả được sắp đặt với cảm giác về không gian, tỉ lệ, thời gian, và vẻ duyên dáng đã khiến việc nhìn ngắm anh ta trên sân khấu trở thành một niềm khoái lạc. Thực tế thì, quả là lạ và hơi bực mình khi nhìn chàng vũ công trong trang phục thường nhật và đi đôi dép trong nhà màu nâu, di chuyển theo lối quá đỗi đời thường khắp căn hộ, với chỉ tí ti hay thậm chí chẳng có chút dấu hiệu nào của tài năng thể chất phi thường đang thầm lặng ẩn trong con người anh ta, và tôi nhận thấy mình khao khát muốn phá bỏ chút gì đó của vẻ ngoài thực dụng này, một bước nhảy hay một cú xoay người, một màn bùng nổ nào đó từ năng lượng đích thực của anh ta. Y như mọi lần, một khi tôi quen với tình huống này và bắt đầu xem xét một mớ những bộ sưu tập nho nhỏ của anh ta, tôi tìm thấy cảm giác phấn khích, vượt ngoài thế giới thực mà tôi đôi lần có được khi bước vào tinh cầu cuộc đời người khác, khi mà trong một khoảnh khắc, việc thay đổi những thói quen tầm thường của tôi và sống một cuộc sống như thể dường như thật hoàn toàn khả thi, cảm giác ấy luôn tan biến vào buổi sáng hôm sau, khi tôi thức dậy trong khuôn trạng quen thuộc, chẳng thể thay đổi của cuộc sống mình.

Nicole Krauss -  The young painters (ảnh - GÉrard UfÉras - newyorker.com).jpg
Ảnh: GÉrard UfÉras – newyorker.com

Có một lúc tôi đứng dậy khỏi bàn ăn để dùng phòng tắm, trong hành lang tôi đi qua cánh cửa đang mở vào phòng ngủ của chàng vũ công. Căn phòng đơn điệu, chỉ có chiếc giường, một cái ghế gỗ và một chiếc bàn thờ nhỏ nhắn với vài cây nến xếp ở trong góc. Có một cửa sổ lớn hướng về phía Nam, nhìn qua khu trung tâm Manhattan bị treo lơ lửng trong bóng tối. Mấy bức tường trống trơn chỉ trừ một bức tranh treo bằng ghim nút, một bức tranh sặc sỡ với vài khuôn mặt hiện ra qua rất nhiều nét phệt khoáng đạt, sáng sủa, như thể một lớp sình lầy, đôi chỗ bị một chiếc mũ phủ lên. Những khuôn mặt ở nửa trên bức vẽ hướng xuống dưới, như thể hoạ sĩ đã xoay bản ra, hay quay nó trên đầu gối của anh ta hoặc cô ta khi vẽ, để có thể thao tác dễ dàng hơn. Thật là một tác phẩm kì lạ, không theo phong cách của những thứ khác mà chàng vũ công đã sưu tầm, tôi chiêm nghiệm nó trong một, hai phút trước khi tiếp tục đi tới phòng tắm.

Ngọn lửa trong phòng khách nguội dần; cuộc vui đêm tiến về hồi kết. Cuối cùng, khi chúng tôi mặc áo khoác, tôi ngạc nhiên thấy mình hỏi chàng vũ công ai là tác giả của bức vẽ. Anh ta kể rằng bạn thân thưở nhỏ của anh ta đã vẽ nó khi anh ta chín tuổi. Bạn tôi và chị cậu ấy, anh ta nói, mặc dù tôi nghĩ chị ấy vẽ là chính. Sau đó, họ tặng tôi. Chàng vũ công giúp tôi mặc áo khoác. Cô biết không, có một câu chuyện buồn phía sau bức tranh ấy, anh ta thêm vào chỉ giây lát sau, gần như một sự hồi nhớ.

Một buổi chiều, bà mẹ bỏ thuốc ngủ vào trà của lũ trẻ. Thằng bé lên chín còn chị nó mười một tuổi. Khi chúng đã ngủ, bà ấy bế chúng vào xe và lái vào rừng. Lúc ấy, trời đang tối dần. Bà ấy đổ xăng lên khắp xe và châm lửa. Cả ba người đều chết cháy. Thật khó để giải thích, chàng vũ công nói, nhưng tôi đã luôn ghen tị về những chuyện ở nhà bạn tôi. Năm đó họ giữ cây thông Giáng sinh tới tận tháng tư. Nó chuyển sang màu nâu và đám lá kim rụng sạch, nhưng không biết bao nhiêu lần tôi cằn nhằn mẹ tôi rằng tại sao nhà mình không thể giữ cây thông Giáng sinh lại lâu như ở bên nhà Jörn.

Trong sự im lặng theo sau khi câu chuyện kết thúc, mà anh ta đã kể bằng tất cả sự thẳng thắn, chàng vũ công mỉm cười. Có thể vì tôi đã mặc áo khoác trên người, và căn hộ rất ấm áp, nhưng bỗng nhiên tôi bắt đầu thấy nôn nao. Có rất nhiều điều tôi muốn hỏi về hai đứa bé và tình bạn của anh ta với chúng, nhưng tôi sợ mình có thể ngất mất, nên sau khi một người khách khác pha trò về cái kết ảm đạmcủa buổi tối, chúng tôi cảm ơn chàng vũ công về bữa ăn và chào tạm biệt. Khi chúng tôi đi xuống trong thang máy, tôi đã phải cố gắng để đứng vững, nhưng S., đang ngân nga khe khẽ, hình như chẳng nhận ra.

Lúc ấy, S. và tôi đang nghĩ tới việc có con. Nhưng luôn có những việc trong cuộc sống của chúng tôi mà chúng tôi cảm thấy mình phải giải quyết trước, cùng nhau hay một mình, và thời gian đơn giản là trôi qua mà chẳng mang lại giải pháp gì, hay một phán đoán nào rõ rệt hơn về việc chúng tôi làm thế nào có thể chuyển hướng sang điều gì đó khác hơn là tình trạng đang vốn dĩ khiến chúng tôi phải vật lộn. Và mặc dù khi còn ít tuổi hơn bây giờ, tôi tin rằng mình muốn có con, tôi đã không lấy làm ngạc nhiên khi thấy mình ba mươi lăm, rồi bốn mươi tuổi, mà vẫn chẳng hề có đứa nào. Có lẽ chuyện này thật rối bời, thưa ngài Thẩm phán, và tôi cho rằng phần nào như vậy, nhưng cũng còn những mặt khác nữa, một cảm giác mà tôi luôn gặp,bất chấp những bằng chứng ngày một tăng thêm cho mặt đối lập, rằng vẫn còn—rằng luôn luôn còn—nhiều thời gian còn lại cho tôi. Nhiều năm qua đi, khuôn mặt tôi trong gương đổi thay, cơ thể tôi không còn như xưa, nhưng tôi vẫn thấy thật khó để tin rằng khả năng có đứa con do mình dứt ruột đẻ ra có thể bị loại bỏ mà thiếu đi sự đồng tình tường tận của tôi.

Trên taxi về nhà đêm hôm đó, tôi tiếp tục nghĩ về người mẹ và hai đứa con của bà ta: những bánh xe lăn êm ái trên những chiếc lá kim từ cây thông trên nền đất rừng, động cơ bỗng dừng lặng phắc, khuôn mặt nhợt nhạt của những hoạ sĩ trẻ say ngủ trên băng ghế sau, đất bẩn trong kẽ móng tay. Làm sao mà bà ta có thể làm như vậy được? Tôi nói to với S. Đó không hẳn là câu mà tôi muốn hỏi, nhưng nó gần với điều mà tôi nghĩ ra được. Bà ta bị mất trí, anh đáp gọn lỏn, như thể đó là cái kết cho câu chuyện.

 

Không lâu sau đó, tôi viết một truyện về người bạn thời thơ ấu của chàng vũ công, người đã chết khi đang ngủ trên ghế sau xe của mẹ cậu ta trong một cánh rừng nước Đức. Tôi không thay đổi bất kì chi tiết nào; tôi chỉ tưởng tượng thêm. Ngôi nhà mà lũ trẻ sống, mùi hương bảng lảng của buổi chiều mùa xuân thấm qua ô sửa sổ, cây cối trong vườn mà chúng tự tay trồng hiện lên thật dễ dàng trước mắt tôi. Cách mà lũ trẻ cùng hát những khúc hát mà mẹ chúng đã dạy, cách mà bà đọc Kinh thánh cho chúng nghe, cách mà chúng giữ bộ sưu tập trứng chim trên ngạch cửa, và cách mà thằng bé trèo vào giường chị nó trong những đêm giông bão.

Một tạp chí nổi tiếng đồng ý đăng truyện của tôi. Tôi đã không gọi chàng vũ công trước khi nó được xuất bản, cũng chẳng gửi cho anh ta một bản in nào. Anh ta trải qua điều đó, còn tôi thì lợi dụng nó, tô điểm cho nó theo cách tôi muốn. Dưới góc độ hiển nhiên, công việc của tôi là như thế, thưa ngài Thẩm phán. Khi tôi nhận được một bản tạp chí, tôi tự hỏi trong giây lát rằng nếu chàng vũ công thấy nó thì nó sẽ khiến anh ta cảm thấy ra sao. Nhưng tôi không dành quá nhiều thời gian cho suy nghĩ ấy, thay vào đó tôi tắm tưới trong niềm hãnh diện khi chứng kiến thành quả của mình được đăng trên tạp chí. Tôi không bắt gặp chàng vũ công thêm lần nào kể từ ngày ấy, cũng chẳng nghĩ xem nhỡ gặp thì mình sẽ nói gì. Vả lại, sau khi truyện được xuất bản, tôi đã dừng nghĩ về người mẹ và những đứa con bị thiêu chết trong xe, như thể bằng cách viết về họ, tôi đã làm cho họ biến mất.

Tôi tiếp tục viết. Tôi viết tiểu thuyết thứ tư của mình, rồi thứ năm, cuốn này dựa phần lớn vào cha tôi, ông mất năm trước đó. Đó là tiểu thuyết mà tôi không thể viết khi ông còn sống. Ông có thể đọc được, tôi đôi ngờ ngợ rằng ông sẽ cảm thấy bị phản bội. Lúc cuối đời, ông không kiểm soát được cơ thể và bị phẩm giá của chính mình bỏ rơi, đau đớn thay ông vẫn nhận thức được điều ấy cho tới tận những ngày cuối cùng. Trong tiểu thuyết, tôi biên lại lần lượt những nỗi nhục nhã ấy bằng chi tiết sống động, ngay cả thời điểm ông đại tiện ra quần và tôi phải vệ sinh cho ông, một tai nạn khiến ông cảm thấy ê chề tới nỗi nhiều ngày sau ông vẫn không thể nhìn vào mắt tôi, và cũng chuyện ấy, nó qua đi mà không cần nói năng gì, ông lẽ ra có thể bắt tôi thề rằng, nếu ông có thể tự mình lên tiếng, đừng bao giờ nhắc tới chuyện đó với bất kì ai. Nhưng tôi không chỉ dừng lại ở những cảnh huống đầy dày vò và riêng tư ấy, những cảnh huống mà, nếu cha tôi có thể trong giây lát bỏ qua cảm giác xấu hổ, thì ông có thể đã nhìn nhận việc suy tư về bản thân mình ít hơn so với tình trạng chung của việc già đi và đối mặt với cái chết—tôi không chỉ dừng lại ở đó, mà thay vào đó còn chọn bệnh tật và sự khổ sở của ông, với tất cả chi tiết quằn quại về chuyện này, và cuối cùng thì ngay cả cái chết của ông, như một cơ hội để viết về cuộc đời ông và, rõ hơn nữa, về sự thất bại của ông, dưới cả tư cách một con người lẫn một người cha, những thất bại mà tình tiết rõ ràng và phong phú chỉ có thể đổ cho ông ông chứ chả phải ai khác. Tôi trưng trổ những lỗi lầm của ông và những hoài nghi của tôi, cuộc sống giàu kịch tính của tôi lúc nhỏ cùng ông, được che đậy qua loa (chủ yếu là bởi tính phóng đại) xuyên suốt những trang sách. Tôi đưa ra những lời kể không thể tha thứ được về những tội lỗi của ông như cách tôi đã chứng kiến, và rồi tha thứ cho ông. Và, ngay cả nếu, cuối cùng, tất cả đều được cho qua vì lợi ích của lòng trắc ẩn phải khó khăn lắm mới đạt được, ngay cả nếu những ghi chép cuối cùng của cuốn sách là về tình yêu khải hoàn và nỗi đau mất ông, trong những tuần và tháng trước khi nó được xuất bản, một cảm giác phát ốm thi thoảng chạm tới và trút đầy sự tăm tối lên tôi trước khi bỏ đi. Trong bài phỏng vấn công khai tôi thực hiện, tôi nhấn mạnh rằng cuốn sách là hư cấu và không giấu diếm sự thất vọng với những phóng viên và bạn đọc đã y như nhau khăng khăng chuyện đọc tiểu thuyết mà như đọc tiểu sử tác giả, như thể trên đời chẳng có gì gọi là trí tưởng tượng của nhà văn, như thể tác phẩm của nhà văn chỉ dựa trên mỗi biên niên sử tận tâm và chẳng có chút sáng tạo dữ dội nào cả. Tôi tôn vinh tự do của nhà văn—để tạo tác, để thay đổi và cải thiện, để phá huỷ và mở rộng, để gá cho ngữ nghĩa, để thiết kế, để trình diễn, để ảnh hưởng, để lựa chọn một cuộc đời, để thử nghiệm, và cứ thế cứ thế—và dẫn lời Henry James về sự “mở rộng vô biên” của tự do ấy, một “mặc khải”, như ông ấy gọi điều đó, mà bất kì ai đã từng nghiêm túc nỗ lực trong nghệ thuật đều không thể nào không nhận thức được. Vâng, với tiểu thuyết dựa trên cha tôi, nếu không bay lượn thì chí ít cũng xê dịch từ các giá kệ trong các hiệu sách trên khắp đất nước, tôi tán dương tự do vô song của nhà văn, tự do khỏi trách nhiệm với bất kì thứ gì và bất kì ai, chỉ còn lại bản năng và tầm nhìn của cô mà thôi. Có thể tôi không nói chính xác như vậy nhưng chắc chắn đã ám chỉ rằng nhà văn phụng sự một tiếng gọi cao hơn, điều mà một nhà văn hướng tới chỉ trong nghệ thuật và tôn giáo như tiếng gọi nghề nghiệp, và không thể băn khoăn quá nhiều tới cảm giác của những người mà cô vay mượn cuộc đời.

Vâng, tôi tin tưởng—có thể vẫn còn tin tưởng—rằng nhà văn không nên bị bó hẹp trong những hệ quả khả dĩ của tác phẩm của cô. Cô không có bổn phận phải chính xác một cách trần tục hay chân thực tuyệt đối. Cô không phải là một kế toán, cũng chẳng bị đòi hỏi phải trở thành điều gì đó nực cười và dẫn lối sai lầm như một chiếc la bàn đạo đức. Trong tác phẩm của mình, nhà văn được giải phóng khỏi luật lệ. Nhưng trong cuộc đời mình, thưa ngài Thẩm phán, cô không tự do.

Vài tháng sau khi tiểu thuyết về cha tôi được xuất bản, tôi đang đi bộ ngoài phố và tới một hiệu sách gần Công viên Quảng trường Washing ton. Như thường khi, tôi chậm rãi tiến tới gần cửa sổ ngó xem sách của mình có được trưng bày hay không. Khoảnh khắc ấy, tôi thấy chàng vũ công đứng bên quầy phía trong, anh ta thấy tôi, chúng tôi dán mắt vào nhau. Trong một giây, tôi cân nhắc việc vội vã đi tiếp, mặc dù tôi không thể nói chính xác điều gì đã khiến tôi trở nên thật ái ngại. Nhưng phương án này nhanh chóng thành ra bất khả; chàng vũ công vẫy tay chào, nên tất cả những gì tôi có thể làm là đợi cho anh ta lấy tiền thừa và mở lời nói xin chào.

Anh ta mặc một cái áo len tuyệt đẹp và thắt môt chiếc khăn quàng ở cổ. Và dưới ánh mặt trời, tôi thấy anh ta già đi. Không quá nhiều, nhưng đủ để anh ta không bao giờ được gọi là trẻ nữa. Tôi hỏi thăm anh ta, anh ta kể với tôi về một người bạn của anh ta, người mà, như rất nhiều người khác trong những năm tháng qua, đã chết vì bệnh aids. Anh ta kể về lần gần nhất đổ vỡ với một chàng bạn trai lâu năm, người mà anh ta chưa quen biết trong lần cuối chúng tôi gặp nhau, rồi chuyện một màn mà anh ta biên đạo sắp có buổi biểu diễn. Dù đã năm hay sáu năm trôi qua, S. và tôi vẫn là vợ chồng và vẫn sống trong cùng căn hộ chúng cư ở West Side. Nhìn bên ngoài, chẳng có mấy thay đổi, nên khi tới lượt tôi chia sẻ thông tin, tôi đơn giản nói rằng mọi thứ đều ổn và tôi vẫn làm nghề viết. Chàng vũ công gật đầu. Hiển nhiên là anh ta thậm chí còn mỉm cười, một cách chân thành, cái cách luôn khiến tôi, với ý thức tàn nhẫn của bản thân, cảm thấy bồn chồn và bối rối khi bắt gặp cảm xúc ấy, nhận ra rằng mình không bao giờ có thể trở nên dễ chịu, cởi mở, hay trôi chảy. Tôi biết, anh ta nói. Tôi đọc tất cả những gì chị viết. Thật ư? Tôi nói, bất ngờ và bỗng nhiên lo lắng. Nhưng anh ta lại mỉm cười, và tôi thấy dường như chàng vũ công đã bỏ qua—không ai đả động gì tới truyện kia.

Chúng tôi cùng nhau đi bộ qua vài khối nhà, hướng về phía Quảng trường Thống nhất (ND: Union Square), trước khi phải mỗi người mỗi hướng. Khi nói lời tạm biệt, chàng vũ công cúi xuống và nhặt đi một mẩu bông trên cổ áo khoác của tôi. Khoảnh khắc ấy thật dịu dàng và gần như âu yếm. Tôi đã gỡ nó khỏi tường nhà rồi, chị biết đấy, anh ta nhẹ nhàng nói. Gì cơ? Tôi nói. Sau khi tôi đọc truyện của chị, tôi gỡ bức tranh khỏi tường nhà. Tôi nhận ra mình không thể tiếp tục ngắm nó được nữa. Thật sao? Tôi hỏi, choáng váng. Tại sao? Ban đầu tôi nghi ngờ chính bản thân mình, anh ta trả lời. Bức tranh đã theo tôi từ căn hộ này sang căn hộ khác, từ thành phố này qua thành phố nọ, suốt gần hai mươi năm. Nhưng sau một thời đoạn thì tôi hiểu điều mà truyện của chị đã làm cho sáng tỏ.Điều gì vậy? Tôi muốn biết, nhưng không thể hỏi. Rồi chàng vũ công, dù đã già hơn mà vẫn thư thái và đầy duyên dáng, đưa hai ngón tay vỗ lên má tôi, quay mình, và bước đi.

Khi tôi trên đường về nhà, cử chỉ của chàng vũ công ban đầu khiến tôi bối rối và rồi thấy khó chịu. Ngoài mặt, dễ nhầm đó là sự dịu dàng, nhưng tôi càng nghĩ thì càng thấy có vẻ như có gì đó hạ mình trong cử chỉ ấy, thậm chí mang nghĩa sỉ nhục. Trong tâm trí tôi, nụ cười của chàng vũ công trở nên càng lúc càng kém chân thành, và tôi bắt đầu thấy có lẽ anh ta đã biên đạo cử chỉ ấy hàng năm trời, nghiền ngẫm nó, chờ đợi đến khi đụng độ tôi. Và có đáng không? Chẳng phải là anh ta đã chơi trò kể câu chuyện ấy sao, không chỉ cho riêng tôi mà cho tất cả khách khứa trong tối hôm ấy? Nếu tôi mà khám phá ra điều này bằng những thủ đoạn ám muội—đọc trộm nhật ký hay thư từ của anh ta, điều mà tôi không tài nào làm được, biết quá ít về anh ta như từ trước tới giờ—chuyện có thể sẽ khác. Hoặc nếu anh ta kể câu chuyện cho tôi bằng sự tự tin, tràn đầy những xúc cảm vẫn đầy đớn đau. Nhưng anh ta đã không làm vậy. Anh ta đưa nó ra với nụ cười và sự vui vẻ y như khi anh ra mời chúng tôi một ly grappa(1) sau bữa tối.

Khi đi bộ, tôi vô tình đi qua một sân chơi. Lúc đó đã là buổi chiều muộn, nhưng trong khu quây hàng rào vẫn đầy rẫy những hoạt động huyên náo của bọn trẻ con. Trong số nhiều chúng cư mà tôi đã ở qua nhiều năm, có một cái ở bên kia đường so với một sân chơi và tôi luôn nhận thấy trong nửa tiếng trước hoàng hôn, bọn trẻ hình như ồn ào gấp bội. Tôi không bao giờ dám chắc liệu rằng có phải vì thành phố, khi ánh sáng lịm dần, trở nên yên lặng hơn hay bởi bọn trẻ trở nên to mồm hơn, khi biết giờ chơi của chúng đã sắp kết thúc. Những cụm từ nhất định hay những tràng cười lớn sẽ nổi bật hơn các âm thanh còn lại, vang lên, và khi nghe thấy, tôi thi thoảng sẽ đứng dậy từ bàn làm việc để quan sát đám trẻ dưới sân. Nhưng giờ thì tôi không dừng lại quan sát chúng. Bị cuốn lấy bởi cú bắt gặp chàng vũ công, tôi gần như chẳng nhận ra chúng, cho đến khi có tiếng khóc bật lên, đau nhói và sợ hãi, tiếng khóc nhức nhối của đứa bé xộc thẳng vào lòng tôi, như thể lời gọi ấy chỉ hướng tới mình tôi. Tôi dừng bước và chạy quanh, chắc mẩm sẽ tìm thấy một đứa bé bị chảy máu do ngã từ chỗ cao ghê lắm. Nhưng chẳng có gì, chỉ có trẻ con chạy ra chạy vào những vòng tròn và trò chơi, chẳng có dấu hiệu nào về nơi tiếng khóc phát ra. Tim tôi đập loạn, adrenaline tăng vọt trong người, toàn bộ thể xác tôi sẵn sàng lao vào để cứu đứa bé bất kì nào đã phát ra tiếng hét kinh khủng ấy. Nhưng bọn trẻ vẫn tiếp tục chơi, chẳng nhận thấy nguy hiểm. Tôi quét mắt qua những toà nhà phía trước, nghĩ rằng biết đâu tiếng khóc vọng ra từ một cửa sổ nào đó đang mở, mặc dù đang là tháng Mười một và trời đủ lạnh để cần bật sưởi. Tôi đứng đó nắm chặt lấy hàng rào một lúc lâu.

Tôi không kể với ai điều mình nghe thấy, kể cả bác sĩ Lichtman, bác sĩ tâm lý lâu năm của tôi. Nhưng tiếng khóc ở lại trong tôi. Đôi khi tôi lại bất chợt nghe thấy nó khi viết lách, và rồi sẽ bị lạc mạch suy nghĩ hoặc đâm ra rối bời. Tôi bắt đầu cảm nhận được trong đó có điều gì như chế giễu, một thanh âm ngầm mà ban đầu tôi không nghe ra. Lần khác, tôi nghe thấy tiếng khóc khi tôi vừa tỉnh hẳn hoặc vừa thức giấc, và trong những buổi sáng ấy, tôi ngủ dậy với cảm giác có vết thương nào đó ở cổ mình. Một sức nặng vô hình dường như gắn chặt lên những vật dụng giản đơn—tách trà, tay nắm cửa, ly thuỷ tinh—lúc đầu khó để nhận ra, vượt xa khỏi tri giác mà mọi cử động đòi hỏi phải tiêu tốn sự gắng sức hơn rất nhiều, và trong khi tôi điều đình giữa những chuyện này và tiến tới bàn làm việc, phần dự trữ nào đó trong tôi đã bị bào mòn hay bị rửa trôi đi mất. Tiếng khóc ấy ám ảnh tôi. Và chậm rãi, thưa ngài Thẩm phán, tôi bắt đầu nghi ngờ chính mình.


(1) ND: grappa là loại rượu chưng cất từ bã nho của Ý và Thuỵ Sĩ.

Copyright © 2010 by Nicole Krauss.

ThKh chuyển ngữ không có sự đồng ý của tác giả.

———-

ThKh – 2019

ThKh là một bút danh khác của ChuKim, một người viết tự do, sống và yêu tại một ngôi làng mang tên thành phố. Nếu có thể, hãy ủng hộ và khích lệ bằng cách đọc và chia sẻ những gì anh viết trong khả năng của bạn. Xin cảm ơn.

– natchukim.cogaihu@gmail.com –

PS: Tất cả nội dung trong blog này đều được tuyên bố quyền sở hữu và quyền tác giả về nội dung, ngoại trừ những bài sưu tầm có đề rõ. Mọi trích dẫn, đăng lại, vui lòng ghi rõ nguồn. 

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s