Truyện ngắn: Điều anh làm ở đây, trong nỗi cô đơn – Philipp Meyer

Philipp Meyer (1974-) là nhà văn người Mỹ. Ông nổi tiếng qua các tiểu thuyết American rust (2009) và The son (2013), trong đó tiểu thuyết The son đã được chuyển thể thành phim truyền hình của đài AMC với diễn xuất của Pierce Brosnan. Hiện Philipp Meyer sống và làm việc tại Austin, Texas.

Phillipp Meyer (Grafilu - newyorker.com).jpg
Minh hoạ: Grafilu – newyorker.com

‘Điều anh làm ở đây, trong nỗi cô đơn’ (What you do out here, when you’re alone) là truyện ngắn của Philipp Meyer được đăng trong tuyển tập 20 under 40 (2010) của tạp chí The New Yorker. 


Điều anh làm ở đây, trong nỗi cô đơn

Max có một cái tên cho chuyện xảy ra với con trai anh: Vụ Tai Nạn, anh gọi như vậy. Anh tự hỏi không biết vợ mình có đặt cái tên nào cho chuyện ấy không, dù hẳn sẽ chẳng giống như anh, vì cô không coi đó là một tai nạn.

Suốt mấy ngày đầu tiên, hai vợ chồng gần như không ngừng khóc. Họ cũng không ngừng làm tình, nhiều hơn cả năm trước đó cộng lại, điều này dường như khiến Max lấy làm ngạc nhiên nhưng cũng phải thôi, và anh bắt đầu tự hỏi, trong cảm giác tội lỗi,liệu Lilli có trở lại với anh không.

Phillipp Meyer - What you do out here, when you're alone (ảnh - Alexx Prager - "Helen" (2008) : Yancey Richardson Gallery.jpg
Ảnh – Alexx Prager – “Helen” (2008) / Yancey Richardson Gallery

Giờ này, anh đang nằm dưới sàn nhà, kế bên chiếc trường kỉ. Hãng Ligne Roset, vợ anh chọn, giống như những món nội thất khác. Anh nằm dưới sàn vì anh không muốn phải cởi giầy, dù dĩ nhiên là Lilli sẽ chẳng biết. Cô đã biến mất ở chốn nào rồi—hôm nay là Chủ Nhật và họ đều không phải đi làm; Chủ Nhật và toàn bộ quãng đời trước mắt của họ đều đang đặt trước dấu hỏi; Chủ Nhật và Lilli bỏ đi mà chẳng để lại lời nhắn nào. Giáng Sinh vừa rồi, các anh em trai của Max ngồi cùng anh và bộc bạch với anh suy nghĩ của họ về cô. Loại hay can thiệp, họ nói. Anh bênh cô, anh đã quen với việc này, nhưng trong khi đó, vào ngay khoảnh khắc này, chẳng thể tìm được Lilli ở đâu.

Trước khi họ chuyển tới Oaks, Lilli là kiểu người chẳng bao giờ quan tâm tới suy nghĩ của người khác về mình, lúc nào cũng lôi chính bản thân mình ra mà đùa cợt—về chuyện lớn lên trong một chiếc xe nhà, chuyện bạn tốt hơn đừng nên quay lưng đi kẻo cô sẽ thó luôn TV của bạn. Ở Huntsville họ là một cặp đẹp đôi, anh là chủ một cửa hàng Porsche trên kênh Tốc Độ(1), cô là một người vợ huyên náo, vui nhộn, hơi quá khích.

Sau khi họ chuyển tới Oaks, cô thay đổi kiểu tóc, mua một cái tủ quần áo phong cách Martha Stewart, và ngừng chửi bới suốt cả đêm. Max, trong khi đó, vẫn vậy. Kết quả là họ không hẳn bị tẩy chay, nhưng cũng chẳng ai mời họ tới các bữa tiệc. Max không quan tâm.

Anh biết mình phải dậy thôi. Đã ba tuần kể từ Vụ Tai Nạn, vẫn có rất nhiều việc phải làm: các hoá đơn, khoản vay thế chấp; trời độ này mưa suốt nên bãi cỏ giờ trông thật um tùm hoang dại. Ánh mặt trời chiếu qua những ô cửa sổ lớn. Anh cảm thấy hơi uể oải, lưng thì đau, nhưng đó là do nằm dưới sàn nhà. Anh nhỏ con, người gọn gàng; cơ thể anh không mấy thay đổi so với khi còn trẻ, tóc anh dày và tay anh khoẻ hơn so với vẻ ngoài, và anh cảm giác có vẻ như, vài năm gần đây, mọi người cuối cùng cũng bắt đầu nhìn anh theo cái cách anh đã luôn nhìn chính mình. Các chị em tới cửa hàng sẽ tặng quà cho anh—rượu, lời mời tới đi săn ở trang trại của chồng họ.

Nói về cửa hàng, lúc nào cũng bận rộn. Phần lớn là họ cung cấp dịch vụ cho xe Porsche; họ thực hiện bảo dưỡng tháo rời, thiết lập hệ thống định vị. Max là thợ máy Porsche giỏi nhất ở Texas, toàn bộ vùng Tây Nam, nếu nói một cách trung thực—anh có thể nhận ra chiếc xe bị làm sao trước cả máy tính của xưởng. Anh từng làm việc cho cả tá đại lý trước khi mở cửa hàng của riêng mình, mười năm trước, ở tuổi ba mươi mốt. Năm ba mươi ba tuổi, anh xuất hiện trên kênh TNN(2) và kênh Tốc Độ. Ba mươi bảy tuổi, anh được thuyết phục mua ngôi nhà này.

Nó quá lớn, cho một người. Anh chưa từng nghĩ mình sẽ nói như vậy về một ngôi nhà, nhưng đó là sự thật—nó làm bạn cảm thấy mình bị lột trần. Anh mua nó với nửa giá chào bán, vì nó rõ ràng bị đánh giá là kém hấp dẫn nhất trong cả khu dân cư (không có bể bơi, miếng đất thì hình tam giác kì cục), và, khi Lilli đã lên kế hoạch cho hàng loạt hoạt động giải trí với những người hàng xóm mới, hiếm hoi mới có người ghé chơi ngoại trừ bạn bè cũ của hai vợ chồng ở Huntsville, họ lái xe cả giờ đồng hồ để tới thăm. Tất cả những gì mà dân Oaks quan tâm về Huntsville là nơi đó nổi danh với nhà tù liên bang và phòng hành quyết của nó.

 

Anh nằm dưới sàn suốt buổi sâng—màu cánh gián—anh biết nếu giờ mà không dậy thì anh sẽ cứ nằm thế này cả ngày mất. Cũng ổn. Điều gì đó đã thay đổi kể từ Vụ Tai Nạn. Điều gì đó đang cố gắng giao tiếp với anh. Anh cảm nhận được trong từng phân tử không khí, từng ngụm nước, thậm chí trong cả những cơ bắp đau nhức ở lưng anh: mày đang sống. Nỗi mong ngóng vợ, cú shock khi gần như mất con trai, tất cả bị nhấn chìm dưới thực tế giản đơn và mòn mỏi ấy; anh có thể đã là một người đàn ông trôi lạc trên biển cả, bừng tỉnh và nhận ra một ngọn gió đã đưa anh dạt vào bờ, một lãng khách nơi Cực Bắc choáng váng bởi sự khởi phát của mùa xuân.

Nhưng còn cả mớ việc phải làm. Bãi cỏ, ví dụ chẳng hạn, đã không được cắt tỉa suốt ba tuần nay; bất cứ lúc nào cũng có thể bị hàng xóm báo cáo(3). Đó chẳng phải là lỗi nhỏ nhặt gì ở Oaks, và để mà nói anh ghét nơi này thì . . . Không, chỉ là anh chưa bao giờ muốn mua ngôi nhà này. Đầu tiên, nó quá đắt; sau nữa, đây là một cộng đồng của các luật sư và bọn buôn dầu. Bạn có thể bị kiện vì sơn hộp thư sai màu, vì dựng hàng rào sai kiểu, vì lắp mái nhà mà dùng vật liệu không theo cấp phép. Và vì bãi cỏ ba-tuần-tuổi—anh cũng chẳng biết. Biết đâu lại có cả một biệt đội hành quyết, tất cả đều là tình nguyện viên.

Họ biết tới khu Oaks từ sếp của Lilli ở Goliad Associates, quỹ bảo hiểm rủi ro. Lilli điều hành văn phòng. Oaks là một khu đô thị mới, do kiến trúc sư thiết kế, và Max nghĩ mấy căn nhà đều mang hình bóng của những khu nhà kho—mái kim loại bằng, tường xi măng. Tất nhiên, có cả cửa sổ cao kịch trần và đa dạng các loại sân hiên với ban công. Mọi người nhắc tới Frank Lloyd Wright(4), Max đồ rằng có vẻ đẹp trong thiết kế, có thể là cái lối mà các căn nhà tương phản với những cây thông cao ngồng mà chủ đầu tư đã giữ lại. Hoặc có thể đây chỉ là một kiểu như bộ quần áo mới của hoàng đế. Trong khi đó, Lilli và tất cả hàng xóm đều sưu tập tạp chí Dwell và tạp chí Architectural Digest(5), thi thoảng khi lái xe trên phố về đêm bạn sẽ thấy những thứ mà bạn không nên thấy qua mấy cái cửa sổ cao vút ấy: Buck Hooper đang tự mân mê hắn khi xem kênh truyền hình trả tiền; Jeanne Winston ném một cái ly Bottega vào gã chồng trẻ hơn hẳn cô ta; Clyde McCay, người mua đứt một hòn đảo khỏi nước Mexico, đang có một chuyến thăm dài đằng đẵng với cái ghế để đại tiện trong phòng ngủ của ông ta.

Nhưng tất cả những chuyện này đều chỉ để xao lãng. Một lúc nào đó, hai vợ chồng sẽ đón con trai về nhà, và sẽ có những quyết định lớn cần thực hiện, mặc dù anh có lẽ sẽ phải tự mình đưa ra; anh không thể phụ thuộc vào Lilli. Anh khẩn trương đứng dậy và đi một vòng tầng một—phòng khách, phòng làm việc, bếp, phòng tắm nắng. Mọi thứ đều rất tân tiến; phòng nào cũng rộng rãi, thật vậy, rộng, sơn trắng và không gian mở, không có ngóc ngách hay những chỗ lồi lõm, được trang bị những món nội thất đắt tiền mà họ mua để hợp với ngôi nhà, những chiếc trường kỉ da nghệ thuật, ghế đơn, bàn con. Mọi thứ đều có vẻ ngoài đầy chủ ý. Anh dừng lại bên cửa sổ, nhìn qua sân sau và thấy một người hàng xóm đang tắm nắng trên hiên nhà cô ta. Anh muốn nán lại ngắm, nhưng sau một phút anh buộc mình quay lại phòng khách.

Anh cân nhắc có nên bật radio không; con trai anh luôn để nhạc, ngay cả khi nó không ở nhà, tiếng nhạc hiện diện trong nhà như tiếng vo ve của lũ côn trùng. Có những phần trong tâm trí thằng bé đã thực sự tối đen—bác sĩ mô tả như vậy. Sẽ cần thời gian để thằng bé hồi phục, ông ấy nói. Có nghĩa là hàng tháng, thậm chí hàng năm trời. Harley chìm trong một cơn hôn mê chủ động, xương sọ thằng bé vẫn đang lành dần, não nó mới chỉ bắt đầu tự hồi phục. Trong cả cuộc đời Harley, bác sĩ nói với họ, chuyện này chỉ như một cuộc gián đoạn rất ngắn ngủi, và Lilli, dĩ nhiên, đã rất tức giận. Cô muốn kiện bác sĩ vì lời nói ấy; cô muốn mọi việc trở lại như ban đầu. Hoàn toàn bất khả. Chỉ duy có Max, trong trạng thái cao độ của anh, là hiểu bác sĩ đã đúng.

Khi còn ở Huntsville, Harley không chính xác là nổi bật nhưng thằng bé có đủ bạn bè, nó rất thoải mái ở tốp đầu trong lớp; mười ba tuổi nó đã lên kế hoạch sẽ vào đại học Rice sau khi tốt nghiệp phổ thông. Chuyển tới Houston, tới Oaks, đã khiến thằng bé chao đảo. Hệt như với Max. Harley cuối cùng vào hội lập dị, những đứa trẻ vị thành niên mặc đồ gắn đầy ghim móc và trang điểm mặt mũi trắng bệch. Rất có thể, đó là khi nó dính tới ma tuý. Max chỉ đang suy tư. Mãi cho tới gần đây, cho tới Vụ Tai Nạn, Lilli đã che giấu vấn đề của thằng con quá giỏi, đưa nó tới bác sĩ trị liệu mà Max không hề hay biết.

Cũng chẳng sao. Có việc cần phải làm cho xong. Anh sẽ cắt cỏ—anh là người duy nhất trong cả dãy nhà tự chăm sóc sân vườn. Từ hiên nhà mình, anh có thể nhìn bao quát những ngôi nhà khác trong khu đô thị, với những cây thông đu đưa trên cao. Anh có thể thấy đám trẻ nhà Welches chơi đùa sau hàng rào của họ ở phía cuối sân, và ở tận xa cuối đường anh có thể nghe thấy Joy Halloran—cô nàng tắm nắng—phá lên cười chuyện gì đó trên điện thoại. Cô ba mươi tám tuổi và sống ly thân với chồng. Cô là một trong số ít những người Max có thiện cảm ở Oaks—tự thân cô rất thoải mái. Cô cười nhiều, nhưng bạn có cảm giác rằng cô có thể vẫn cười ngay cả khi bạn không có mặt ở đó. Lilli khinh bỉ cô. Người vợ kiểu chiến lợi phẩm đã giải tán—đó là cách Lilli gọi cô.

Joy thấy Max đang đi ngang qua sân và vẫy chào anh.

“Chào buổi sáng, ánh dương,” cô gọi xuống.

“Chào buổi sáng,” anh đáp lời.

Cô đặt điện thoại qua một bên và tì vào lan can thép để nói chuyện. Từ vị trí của mình trên hiên, cô đứng cao hơn anh mười foot, mái tóc đen của cô vẫn còn ướt sau khi tắm, chiếc áo choàng tắm hững hờ bên ngoài bộ đồ bơi; anh có thể thấy những vệt cháy nắng quanh xương quai xanh, những nốt tàn nhăng trên mũi cô. Anh tự hỏi không biết cô có biết chuyện về Harley không, nhưng chắc chắn là cô biết—tình xóm giềng đưa tin tức lan đi.

“Anh chị vẫn ổn chứ?” cô nói.

“Ổn, tôi nghĩ vậy.”

“Nếu anh muốn uống chút gì, tôi nghĩ mình sẽ làm một bình mojito. Giết thời gian cũng phải sành điệu.”

Anh lăn tăn liệu mình có nên lôi Lilli ra làm cái cớ không, nhưng rồi Joy nói, “Tôi tình cờ gặp Lilli sáng nay. Chị ấy đi với Tom Stockton—họ nói họ đi ra sông.”

“Tôi đã thắc mắc cô ấy đi đâu,” anh nói.

“Tất nhiên là Judy cũng đi cùng.”

“Tất nhiên.”

Cô kéo cái áo choàng lắm quanh mình. “Anh là một người tốt, Maxwell. Tôi rất tiếc khi nghe chuyện.”

“Thằng bé sẽ ổn thôi,” Max nói với cô. “Chỉ là cần một chút thời gian.”

“Thằng bé rất dũng cảm.” cô nói.

Max đã vào nhà Joy một lần, khi Lilli đi vắng. Họ uống với nhau vài ly, và anh thú nhận với cô rằng Lilli mới chỉ là người thứ hai anh từng ngủ cùng. Anh đã mong đợi có chuyện gì đó xảy ra, anh đoán Joy cũng vậy, nhưng anh đã chẳng tài nào bắt đầu nổi. Cô có vẻ đôi chút hụt hẫng, nhưng rồi cô bỏ qua cho anh, không chừng còn tôn trọng anh vì điều đó.

“Tôi đang suy nghĩ rất nhiều,” anh kể với cô. “Tôi đang có cảm giác rằng mình nên chuyển đi nơi khác và bắt đầu lại cuộc sống.”

“Sao lại không,” cô nói. Đây là cách họ chuyện trò.

“Đó là kết luận mà tôi rút được.”

“Tôi nghĩ anh nên như vậy.”

Anh cười gượng và họ nhìn nhau.

“Dù sao thì,” cô nói, sau một phút, “lúc nào anh qua cũng được nhé. Anh không cần phải gõ cửa đâu.”

“Tôi sẽ qua,” anh nói.

“Tôi sẽ nhắc anh miết.”

Cổ họng anh chặt cứng, và mọi thứ trong anh bắt đầu thấy ấm lên. “Tốt hơn tôi nên bắt đầu cắt cỏ.”

Joy mỉm cười và quất một cú roi da tưởng tượng vào anh trước khi bước từ hàng hiên vào phòng ngủ của cô.

 

Khắp xung quanh Max, cỏ mọc tươi tố cao gần tới ống quyển, tiếng lũ trẻ nhà Welches vọng qua hàng rào. Anh nên nhảy qua mấy thanh cọc để vào nhà Joy ngay lập tức. Thay vào đó, anh hướng mình băng qua bãi cỏ tới chỗ xưởng gỗ của mình, nơi anh cất máy cắt cỏ và dụng cụ làm vườn. Từ lúc xảy ra Vụ Tai Nạn anh chưa quay lại đây, và trật tự của mọi vật, cái cách mà thứ nào cũng có chỗ—lưỡi cưa, kéo cắt, máy xén, tất cả đều được đánh dấu bằng bút dạ trên bảng treo—gần như đã làm anh rớt nước mắt. Anh thấy nhục nhã—Joy biết, mọi người đều biết, Lilli đã đối xử với anh tệ thế nào. Biết anh đã chịu đựng điều đó bao lâu. Đó dường như là một phép màu, hoặc có thể là một lời nguyền, rằng kể từ năm hai mươi tuổi anh đã chỉ ngủ với duy chỉ một người. Hình như chẳng bao giờ có chút vội vàng nào. Anh không đủ dũng khí để mạo hiểm. Đó là điều mà các anh em trai của anh vẫn luôn nói với anh.

Anh đẩy cái máy cắt cỏ ra ngoài để kiểm tra bãi cỏ. Trời nắng quang điểm một vài đám mây trắng, chân trời Houston hiện rõ trước mắt phía xa mười dặm. Cỏ cao thế này, máy cắt sẽ khó làm việc, nhưng lúc này là quá tốt để làm rồi. Anh chuẩn bị nổ máy thì có gì đó hiện lên trong mắt anh. Lũ ong ở khắp nơi và có hoa, hàng ngàn đoá hoa. Một loài hoa dại màu tím và trắng. Anh quỳ xuống để xem và thêm lần nữa cảm xúc dâng lên trong lòng—đây là điều mà anh vẫn nghĩ, sự sống có ở muôn nơi. Cả vũ trụ trong một nắm đất. Những bông hoa này đã ở đây từ bao giờ mà anh chẳng hề hay biết. Anh đã luôn cắt bỏ chúng kể từ ngày anh dọn về.

Anh đoan chắc Lilli cũng không nhận ra những bông hoa, chỉ biết bãi cỏ mọc quá trớn. Mọi sự đã thật tệ suốt cả năm qua, anh nhìn nhận. Nhưng cũng chẳng phải. Mọi sự đã trở nên tồi tệ kể từ giây phút họ chuyển tới đây. Cô thấy xấu hổ vì anh. Nếu anh mặc áo phông ngoài đường, cô nói, chắc chắn đừng bỏ trong quần chứ. Và anh không nên mặc mấy cái quần jean ấy. Cả giày chạy bộ của anh nữa. Anh đã đồng ý để cô mua quần áo mới cho anh, nhưng có lẽ chẳng ích gì chuyện anh nhượng bộ bao nhiêu lần. Chưa bao giờ thực sự có bình đẳng; anh chưa bao giờ là người đưa ra quyết định. Anh nhìn bãi cỏ và tất cả sắc màu—sân của họ là một biển hoa. Hoa lưu ly? Hoa thài lài tím? Sự thật rằng anh không biết, anh không thể xác định được mấy bông hoa tí hin này là loại nào, cảm giác như một tội ác lên chính anh. Lên tất cả những điều tốt đẹp. Anh sẽ không bao giờ cắt bỏ chúng nữa.

Tất nhiên, thực tế vẫn còn đó. Bất kể ngày nào từ giờ, bãi cỏ sẽ bị báo cáo lên ban quản lý cộng đồng. Lilli sẽ bực tức, cô nên ở đây mà ngắm những bông hoa này, chúng cứ tự nhiên mà có. Anh đẩy máy cắt cỏ vào lại xưởng gỗ, tháo bu-gi, và giấu nó trong cái bình đựng ốc vít. Max Callahan: người bảo hộ của hoa cỏ.

Trong khi ấy, vợ anh đang đi chơi với Tom và Judy Stockton—anh không ưa cặp này nhất trong khu, một chiến quả ra trò sau cuộc cạnh tranh. Tom Stockton có một cặp xe Corvette đời một chín sáu mươi mà hắn kể với mọi người là hắn tự mình phục chế, nhưng chỉ quét mắt một vòng quanh gara của hắn là bạn biết ngay—chả có lấy một hộp đồ nghề. Đó là vấn nạn của phần lớn đám đàn ông sống ở đây—ngoại trừ niềm kiêu hãnh là dân Texas, họ lớn lên ở thành phố, làm việc trong các toà nhà văn phòng, và, thực tế là, họ có nhiều điểm chung với dân New York hơn là với chính cha mẹ mình.

Max nhớ lại anh đang ở đâu, đứng trên sân nhà mình. Joy Halloran đã trở lại trên hiên nhà cô, nói chuyện điện thoại, mặt trời chiếu sau lưng cô. Cô đã bỏ cái áo choàng tắm ra, trong một khoảnh khắc trông cô cứ như thể không mảnh vải che thân; cô trông giống như một điều gì đó mà thiên nhiên đang mời mọc anh. Anh chỉ còn nhận thức được duy mình cô—chỉ cần cô ra dấu, anh sẽ tới ngay, nhưng cô đang mải mê với cuộc điện thoại, rồi cô bỗng bước lùi lại khỏi lan can và biến ra ngoài tầm mắt.

Anh biết mình đang trong một trạng thái mong manh, nhưng, khi lạc dấu cô, có một cảm giác thoáng qua trong anh rằng anh đã lìa bỏ thân xác mình, một sự len lỏi của ngập tràn tuyệt vọng tới mức mà anh muốn xoá sổ bản thân mình khỏi mặt đất. Giả như anh chỉ có thể tập trung năng lượng, anh sẽ bước khỏi sân ngay, đi qua cổng và hoà vào dòng xe trên đường cao tốc. Thay vào đó, anh ngồi xuống bên những đoá hoa, giờ chúng cao gần tới ngực anh. Anh ý thức được trái tim của chính mình, tự bào mòn đến tuyệt diệt. Cái Kết—anh đã luôn biết nó như thế nào. Mọi sự đơn giản sẽ trở nên tăm tối, một vòng đen khép dần xung quanh bạn; anh đã chứng kiến điều đó xảy ra với cha anh. Anh nằm xuống, thả lỏng tấm lưng. Từ mặt đất, anh chỉ có thể thấy hàng thông bao quanh sân, bầu trời xanh thẳm với mấy đám mây béo núc gần như trắng muốt. Anh tự hỏi nếu anh đang hấp hối, nếu trái tim anh chuẩn bị ngừng đập, nhưng sau vài hơi thời đoạn giấc, anh bắt đầu thấy mình bình tâm trở lại, quay về với cơ thể mình. Tất nhiên là anh không hấp hối. Trái ngược lại: anh đang sống. Đang thả mình trên một chiếc giường hoa. Và, Chúa ơi, bầu trời và những đám mây: anh nên ở giữa lưng chừng không ấy, một phi công thực thụ. Lẽ ra anh nên là một phi công ở Alaska, lái một chiếc phi cơ chỉ đủ lớn cho một người, và cả miền hoang dã bao la phía dưới anh.

Đầu óc anh đang vận hành rất nhanh. Hàng xóm cũ của vợ chồng anh ở Huntsville đang rao bán nhà—năm mẫu Anh ở khu Piney Woods (Rừng Thông), gần nhà các anh em của Max, một căn nhà nhỏ nhưng còn tốt nguyên. Nếu anh và Lilli bán nhà ở đây, kể cả trong thời điểm này của thị trường, họ có thể mua căn ở Huntsville bằng tiền mặt; họ không phải trả thêm khoản nào ngoài thuế. Anh có thể bán cửa hàng—kinh doanh đang ổn định, nhưng anh đã phát chán lên hàng năm trời nay rồi, phát chán phải đảm nhiệm trọng trách. Anh đã không đụng tay vào cái xe nào mấy tháng nay, chẳng có nhiều việc để làm ở văn phòng. Anh có thể bán cửa hàng và căn nhà và có không gian để tha hồ hít thở mà suy tính xem chính xác thì vợ chồng anh nên thay đổi thế nào cho phù hợp với hoàn cảnh mới. Khi Harley khá hơn—bất cứ lúc nào trong khoảng sáu tháng cho tới vài năm kể từ giờ, theo lời bác sĩ—Max sẽ giao nhà cửa cho thằng bé và bắt đầu chuyến đi của mình.

 

Lilli đi chơi với nhà Stockton cả ngày, còn Max thì đi ngủ từ sớm. Anh gần như không nhận ra cô lên giường lúc nào. Đêm đó, có tiếng động làm anh thức giấc, anh nghĩ, đó là Harley về nhà thôi mà, và rồi anh nghe thấy tiếng động khác và tỉnh ngủ hẳn.

Lilli đang nằm ở bên giường cô, xoay lưng về phía anh, anh vươn tới, nhẹ nhàng chạm vào hông cô. Cô nhỏ nhắn và mong manh; trông cô giống như cô tiên tí hon trong cổ tích, như trong phim vậy. Ngay cả giờ đây, ở tuổi bốn mươi hai, ở cô dường như toả ra thứ ánh sáng mờ ảo. Cô không tránh anh, anh nằm yên, tay vẫn để trên hông cô, nhìn ngắm đường cong chảy từ vai xuống bờ eo nhỏ và vút lên tới hông cô, cảm nhận cô không tránh né. Đè tất cả sức nặng của anh lên em đi. Đó là câu cô vẫn thường nói với anh, nhưng đã hơn một năm rồi cô không còn nói thế nữa, ngay cả trong những ngày làm tình điên dại sau Vụ Tai Nạn. Cả hai đều bị tổn thương, nhưng họ không tài nào giúp được nhau; giống như khi đó có đối tác mới vậy.

“Không,” giờ thì cô nói.

“Anh không biết là em còn thức.”

“Ừ, em còn thức.”

“Em có nghe thấy tiếng gì không? Anh nghĩ có cửa sổ nào chưa đóng.”

Không gian lặng phắc. Lilli nói, “Anh biết chẳng có lời nào giải thích được cho chúng ta mà, bỏ thằng bé ở đó như vậy.”

“Em không nên nghĩ thế.”

“Chúng ta lẽ ra nên đẻ thêm con,” cô nói.

“Em lẽ ra nên cho anh biết thằng bé dùng cocaine.”

Anh tự hỏi liệu mình có đi quá xa, nhưng rồi anh bất chấp. Anh ra khỏi giường và bước vào phòng tắm. Anh nghe thấy Lilli bắt đầu khóc, ban đầu cô khóc rưng rức, và rồi cô nức nở. Anh muốn trở vào với cô, nhưng anh đứng đó, hai tay trong chậu rửa, nhìn chính mình trong gương. Dưới ánh trăng bàng bạc chiếu qua ô cửa sổ, anh thực sự trông chẳng khác mấy so với hồi mới đôi mươi, và ở tuổi bốn mươi mốt anh chẳng hề già chút nào—anh có rất nhiều thời gian và cả một cuộc đời còn đó. Mới đây thôi anh tâm sự điều đó với Lilli, cô cười nhạo anh. Nhưng anh đoan chắc rằng mình đúng. Họ đã không còn như xưa. Khi gặp Lilli lần đầu, tình yêu anh dành cho cô mãnh liệt tới mức anh không biết liệu anh có sống nổi hay chăng. Anh đã bỏ ngang việc học đại học vì cô, thay đổi cả đường đời của bản thân. Trong khi Lilli thì ngược lại. Cô sẽ sống sót qua mọi sự. Anh đã luôn coi đó là một phẩm chất đáng ngưỡng mộ, nhưng giờ thì anh không còn chắc nữa.

Hẳn nhiên, bản thân anh không hề hoàn hảo. Một suy nghĩ ập tới trong anh, rằng biết đâu tình yêu trong anh, cường độ này của cảm xúc, biết đâu sau tất cả nó không thực sự là vì Lilli. Biết đâu đó chỉ là cảm giác mà anh thích mình được có. Anh bắt đầu cảm thấy nỗi niềm tương tự dành cho Joy Halloran trong buổi chiều hôm đó ở nhà cô, chính là nguyên nhân anh không ngủ với cô, bởi khi so sánh với cảm giác ấy, tình dục chẳng là gì.

Anh có thể nghe tiếng vợ mình khóc trong một căn phòng khác. Anh có thể cảm thấy chân anh cố gắng tự dịch chuyển, nhưng anh buộc mình ở yên tại chỗ. Phòng tắm rộng, sàn xi măng mài bóng, hai chậu rửa, hai khoang tắm—họ chẳng dùng chung thứ gì cả. Cảm giác tội lỗi của Lilli cũng không giống với của anh. Ở một thời điểm nào đó sau khi họ dọn về đây, cô trở nên giống với một người bạn của Harley hơn là phụ huynh; Harley đã khổ sở ở trường mới, và Lilli không còn giữ rào cản nữa. Một kiểu câu lạc bộ được hình thành, một gia đình bên trong một gia đình mà không có Max.

Và câu hỏi này—rằng ai phải chịu trách nhiệm—sẽ chẳng làm thay đổi điều gì cả. Max trở lại, đi qua phòng ngủ, Lilli lúc này đã yên lặng. Trần truồng, anh xuống cầu thang và bước ra phía hàng hiên, để nhìn về phía đường chân trời của Housston, tất cả các toà nhà đều sáng đèn, ngay cả vào một buổi tối Chủ Nhật. Anh chạm vào ngón chân mình và cảm thấy cơ bắp ở lưng giãn ra, rồi anh đổ người về phía trước và tung chân lên để trồng chuối, giữ chân thẳng lên trời, trần truồng trên hiên nhà mình. Rồi cảm giác ấy rời khỏi anh. Anh nhẹ nhàng trở lại trên đôi chân mình. Phòng ngủ của Joy Halloran sáng đèn, nhưng Max đang nghĩ về con trai anh. Anh đang nghĩ, Mày là người đã làm cho thằng bé ra nông nỗi này.

Điều đó đúng nhưng không hoàn toàn là sự thật. Sự thật hiện hữu là anh, Max, cần phải rời khỏi nơi này. Cần phải đi ra ngoài, quay lưng lại với tất cả, đi khỏi Texas và không bao giờ quay lại. Anh có đôi bàn tay tài hoa; anh có để tự lo cho bản thân đến bao giờ cũng được. Xe Porsche, máy kéo, máy cưa—anh có thể sửa được. Làm lại đời mình như ông cha anh đã từng: họ rời bỏ Kentucky mà chỉ mang theo quần áo. Trong khi ấy, anh đã sống cả đời mình trong phạm vi sáu mươi dặm kể từ quê nhà.

Phải rồi, anh sẽ bỏ đi. Đơn giản là như thế. Thật tốt vì có một kế hoạch, kể cả dẫu hơi mù mờ. Đứng ngoài này thật dễ chịu, một cơn gió vờn nhẹ qua mái tóc anh, chỉ có tiếng dế kêu. Lilli có thể lấy ngôi nhà, xe của anh, việc kinh doanh của anh, mọi thứ; cô có thể bán hết đi cũng được. Anh sẽ bắt đầu lại từ đầu. Cô sẽ không gặp khó khăn trong việc tìm một người chồng mới, và dù đôi chân Max có dừng bước ở bất kì nơi đâu, anh cũng sẽ xây dựng cuộc sống ở nơi đó. Anh sẽ không phạm phải những sai lầm cũ. Anh sẽ không ở gần những người muốn trở thành kiểu này kiểu kia nhưng lại chẳng muốn là chính mình.

Anh tự hỏi không rõ Lilli có làm điều tương tự với anh không nhỉ, nếu như cô có thể. Một phần trong anh đồ rằng có. Anh tự hỏi đó có phải là lý do khiến anh quyết định bỏ mặc Harley trong tù thêm đêm thứ hai; anh tự hỏi liệu có phải anh làm thế để trừng phạt vợ mình chăng. Nhưng anh không nghĩ vậy. Đó đơn giản là lựa chọn mà bạn phải đưa ra, một quyết định khó khăn trước những hậu quả có thể xảy đến, loại quyết định cho bạn thấy cuộc đời bạn khác xa với những gì bạn vẫn hằng nghĩ.

 

Harley bị dừng xe kiểm tra vì đi quá tốc độ, và cảnh sát phát hiện một lọ cocaine trong xe. Texas không phải một nơi dễ chịu gì khi bị bắt vì ma tuý, kể cả bạn là người da trắng, kể cả bạn sống ở khu Oaks, nhưng Harley không phải đứa trẻ nghĩ tới mấy việc ấy. Thằng bé mới chỉ vừa đủ mười tám tuổi, nó chỉ giống như mẹ nó, và trong cảnh huống ấy, chuyện xảy ra có lẽ đã là định mệnh của thằng bé.

Cả Max và Lilli đều không xuất thân từ những nơi nổi bật. Max lớn lên chung phòng với hai anh em trai, nhưng anh được giáo dục để cảm thấy tự hào. Khi anh mười sáu tuổi, một cơn lốc xoáy vòi rồng quét qua Huntsvill, xé toang mái nhà anh, và thổi tung nhiều mái nhà khác. Hầu hết những người láng giếng mất hàng tháng trời sống dưới những tấm bạt xanh, nhưng cha của Max lôi cổ cả ba thằng con khỏi trường học và trong đúng một tuần mái nhà của họ đã được dựng lại khung, bao bọc, và lợp lại, tất cả cây đổ được tỉa cành cắt khúc, cứ như chưa từng có cơn bão nào từng xảy ra. Cha Max là một thợ máy, một người đàn ông đi lên từ thợ đốn cây tuyết tùng, từ tầng lớp lao động; một người có cả mớ lý do để biện giải cho sự khắc nghiệt của ông lên con cái. Vậy mà ông lại hoàn toàn đối lập với điều đó. Khi gác chuông nhà thờ của họ bị chim bồ câu xâm chiếm, khi mà ngay cả vị mục sư phải từ chức vì đã bắt chúng, Max và cha anh trèo lên trong bóng đêm, lúc mà lũ bồ câu bị quáng gà và không sẵn sàng để bay, và bắt chúng bằng tay không, một trăm con chim bồ câu. Họ nhét chúng vào các bao tải vải bố, rồi thả chúng ở cách đó ba mươi dặm.

Trong khi đó, Lilli lại sinh ra  trong một gia đình kiểu khác, cô lớn lên trong một chiếc xe móc lớn, loại mà nhìn như thể chủ của nó là một nhà sưu tầm đủ thứ. Cô bỏ nhà ra đi, chuyển tới ở cùng cậu bạn trai ở tuổi mười bốn, nhưng có lẽ bạn sẽ chẳng bao giờ thoát khỏi được gia đình mình. Cô gặp Max khi mười chín tuổi, hoàn thành bằng liên kết khi được Max lo cho cô, và cô có bầu ngay sau đám cưới. Max bỏ học trường A. & M.(6) trong cùng năm ấy. Anh đã không muốn giữ đứa bé—họ mới vừa bước sang tuổi hai mươi và khánh kiệt—nhưng Lilli bỗng nhiên cảm thấy tuyệt vọng về chuyện làm mẹ trong tương lai; như thể tình yêu của Max không còn đủ nữa.

 

Ánh đèn phòng ngủ của Joy Halloran phụt tắt, Max trở vào trong, bước về phía phòng Harley. Quần áo vương vãi khắp sàn, những tấm poster, và anh không biết có thứ gì, dám là cocaine lắm, được giấu đâu đó không. Loại chất kích thích duy nhất mà Max từng thử là rượu, điều đó giờ đây khiến anh thật buồn—lẽ ra anh nên có những trải nghiệm ấy. Anh nhìn quanh như thể có ai đó đang theo dõi. Thật kì cục khi khoả thân trong phòng của con trai bạn. Anh nhặt một chiếc áo phông trên sàn và ngửi: mùi của con trai anh, mùi mồ hôi của nó, và cả mùi khói thuốc lá. Anh vắt cái áo quanh cổ. The Cure(7), trên áo đề. Anh nhặt thêm một chiếc áo phông khác trên sàn. Chiếc này có mùi của con trai anh và thêm gì đó khác, mùi gì đó ngọt ngọt. Nước hoa con gái. Anh thắc mắc cô gái ấy là ai và nhận ra mình chẳng có manh mối nào, nên anh bỏ cái áo xuống, cái có mùi con gái, và ngồi xuống giường của con trai anh.

Anh không nhớ mình đã ngủ quên, nhưng khi tỉnh dậy anh thấy dễ chịu hơn hẳn so với cả mấy tuần lễ nay; anh đã có kiểu giấc ngủ nhờ những giấc mơ đẹp. Đó là giấc ngủ tuyệt nhất của anh kể từ cái đêm Harley đi khỏi nhà.

 

Lúc hai giờ sáng, họ có điện thoại. Max đã mong đợi giọng điệu Harley khác hơn, có thể là nhún nhường, nhưng nó vẫn vậy.

“Con đang trong nhà giam,” nó kể với Max. “Con sẽ ở đây ít nhất là tới sáng mai, khi thẩm phán tới.”

“Chuyện gì vậy?” Max hỏi.

“Con chả biết. Họ nói con có ma tuý trong xe.”

“Con có không?”

Một khoảnh lặng dài, rồi Max nhận ra chắc hẳn Harley đang đứng trong một căn phòng toàn là cảnh sát và có lẽ nó chưa bao giờ sợ hãi đến thế trong đời. “Đừng trả lời câu hỏi ấy,” anh nói. “Bố sẽ gọi luật sư.”

Thêm một khúc nghỉ và Harley nói, “Bố bảo Mẹ ngày mai tới bảo lãnh cho con ra.”

Đó là một mệnh lệnh. Max cảm thấy toàn bộ niềm thương xót trôi tuột khỏi lòng anh.

“Bố, bố nghe con nói không?”

Max vẫn không trả lời—anh đang nghĩ về thời điểm anh bị bắt ở College Station(8) vì lái xe khi đang say. Lúc đó anh hai mươi, lớn hơn Harley bây giờ hai tuổi, nhưng anh đã quá sợ đến mức không dám nghĩ tới việc gọi cho cha mình, không phải sợ bị phạt mà là sợ sẽ làm ông thất vọng. Thế là anh phải ở trong nhà giam cho tới khi các anh em trai anh kiếm đủ tiền để bảo lãnh cho anh.

“Bố?”

“Bố nghe rồi,” Max nói với con trai.

“Người ta nói con có thể gọi lại khi nào thẩm phán chỉ định mức bảo lãnh.”

Thêm một ngày nữa. Không có vẻ gì là dài lâu, và Lilli, trong sự ngạc nhiên của Max, đã đồng ý. Cô thấy hổ thẹn; như thể chính cô mới là người bị bắt. Cả hai đều thấy rõ ràng rằng một chút sợ hãi sẽ tốt cho con trai họ, rằng một cuộc giải cứu ngay tắp lự sẽ chỉ có hại chứ chẳng hay ho gì.

Khi Harley gọi sáng hôm sau, Max bảo nó rằng sẽ mất thêm một ngày để có đủ tiền bảo lãnh. Harley xin nói chuyện với mẹ nó. Mẹ xin lỗi, con yêu, cô bảo thằng bé. Chà, Harley nói với cô, con đoán là chuyện phải như vậy rồi. Max đồng thời vừa thấy tự hào lẫn cả cay đắng. Họ thuê một luật sư ở Quận Skyline (Quận Chân Trời), nhưng cả ngày dài Max cứ thấp thỏm biết đâu họ đã phạm phải sai lầm.

Những người giám thị tìm thấy Harley vào sáng hôm sau. Họ khẳng định thằng bé ngã cầu thang. Tất nhiên đó là dối trá. Harley đã to mồm với sai người, giám thị hoặc phạm nhân, hoặc có thể thằng bé đã chẳng làm gì sai cả. Có thể chỉ đơn giản là nó đã ở một nơi mà nó không nên có mặt.

 

Sau hôm Max ngủ trên giường Harley, anh ở lại cửa hàng đến khi muộn để xử lý cho xong việc giấy tờ, rồi khi anh về nhà, chẳng thấy bóng dáng Lilli đâu. Anh đi quanh tìm cô, từ phòng này qua phòng khác, nhưng chẳng có tờ giấy nhắn nào. Xe cô vẫn ở nhà, và không có dấu hiệu nào cho thấy cô đang bận gì đó. Gần đây cô dành nhiều thời gian với nhà Stockton. Mọi người kể chuyện về họ, làm tình tay ba và tay tư. Max không hoàn toàn tin mấy chuyện ấy, nhưng thực tế vẫn cho thấy rằng mỗi khi Lilli đi rồi về, cô hành xử như thể cô đã hút cần sa. Tom Stockton là một gã lông lá ngực to, Max tưởng tượng hắn thúc vào Lilli từ phía sau, thân thể to lớn của hắn đè lên vóc dáng nhỏ bé của cô. Max muốn phát bệnh luôn. Anh vào bếp và pha một ly rum với Coke, rồi anh lại thấy mình đứng trước cửa phòng Harley.

Cửa mở, Lilli ở đó, ngủ trên giường Harley. Cô hoàn toàn không tới chỗ nhà Stockton. Anh đứng một lúc lâu, nhìn cô thở; cô đang say ngủ. Giờ thì họ có chuyện này là điểm chung, anh nghĩ tới việc lên giường cùng cô nhưng rồi lại thôi.

 

Sáng hôm sau anh gặp cô trong bếp. Anh nhìn qua vai cô, ra ngoài sân. Hoa đang tiếp tục lan ra; bây giờ bạn có thể thấy màu hoa từ khoảng cách xa, và anh cố nhớ lại hương thơm ra sao.

“Hôm qua em nói chuyện với bác sĩ,” Lilli nói. “Em quên không kể với anh.”

“Mình không gặp nhau mà,” anh đáp, không hoàn toàn là sự thật.

“Ngày mai họ sẽ đánh thức thằng bé. Họ nói mình sắp đưa được thằng bé về nhà rồi.”

“Lúc nào?” anh hỏi.

“Lúc nào gì cơ?”

“Lúc nào thì họ đánh thức thằng bé dậy? Lúc nào thì chúng ta nên tới đó?”

“Em không hỏi.”

“Anh đồ rằng chúng ta phải gọi lại cho họ rồi.”

“Em xin lỗi,” cô nói.

“Họ nói gì nữa không?”

“Em nghĩ là không.”

“Chúng ta sẽ cần một y tá hay gì đó đại loại thế để theo dõi thằng bé chứ phải không?”

“Em không biết.”

“Anh sẽ gọi lại cho bác sĩ.”

“Vâng,” cô nói.

“Tin tốt đấy,” anh nói với cô. “Anh không hiểu không ổn ở đâu.”

“Em đoán là em đã lo rằng họ nên giữ thằng bé ở đó lâu hơn, có thể vậy. Em sợ có chuyện gì xảy ra nếu nó về nhà quá sớm, như kiểu công ty bảo hiểm đang cố tổng cổ nó khỏi đó trước khi nó sẵn sàng.”

“Bảo hiểm của mình tốt mà,” anh nói, nhưng anh thấy cô chẳng hề lắng nghe. Cô đang nhìn bóng phản chiếu của mình trên cửa kính.

“Chúng ta kết hôn quá sớm, Max ạ. Anh không bao giờ thấy thế sao?”

Max cảm thấy khinh bỉ thậm tệ tới nỗi anh khó có thể đứng đó mà nhìn cô. Vợ anh như thể đã trở thành một người đàn bà xa lạ mà anh gặp ở góc phố. Anh cảm thấy nếu không bao giờ gặp lại cô thì anh cũng chẳng bận tâm. Im lặng một lúc lâu trước khi anh nói, “Anh sẽ chăm sóc Harley.”

“Anh nói gì vậy?”

“Thằng bé có thể sống cùng anh. Anh sẽ không ở đây thêm nữa.”

“Max,” cô nói.

“Em có thể đi cùng anh, hoặc em có thể làm bất cứ điều gì mà em muốn, nhưng anh sẽ chăm sóc thằng bé.”

Anh ngạc nhiên khi mình nói vậy, cả Lilli cũng ngạc nhiên. Rõ ràng điều này khiến Lilli ngay lập tức mất phương hướng, anh có thể thấy cô phải vận động tâm trí để bắt kịp câu chuyện.

“Anh có muốn em đi cùng không?”

Anh có thể thấy mình cùng Joy Halloran, trong phòng ngủ của cô và cả những nơi khác—cô là kiểu người mà Lilli sẽ không bao giờ trở thành, và anh thấy mình xây dựng cuộc đời cùng cô, đó chỉ là một phiên bản sắc nét hơn, chân thực hơn của chính anh. Họ sẽ sống ở khu đồi phía bên kia Austin—gia đình Joy có một trang trại ở đó, cha cô có một bộ sưu tập máy bay; cô đã kể cho anh trong buổi chiều hôm đó. Max đã luôn hình dung bản thân mình ở một nơi như thế, không khí khô ráo, tầm nhìn bốn mươi dặm. Harley sẽ nghỉ học đại học. Rồi những viễn cảnh đó lần nữa đóng lại, và anh có thể thấy Lilli cô độc, sống cùng gia đình ở Huntsville. Mọi chuyện sẽ không dễ dàng như cô nghĩ. Không dễ dàng với anh, nhưng thậm chí sẽ khó khăn hơn với cô; cô sẽ không hiểu gì cả cho đến khi đã quá muộn.

“Có,” anh nói với cô. “Anh muốn em đi cùng anh.”

 

Sau khi xong việc tối hôm đó, anh mua đồ ăn Tàu ở một quán Lilli thích. Anh đã cảm thấy tươi sáng suốt cả ngày, mặc dù chẳng có gì ngoài mấy vị khách rắc rối, thể loại không thực sự đủ khả năng chi trả cho mấy cái xe đắt đỏ của họ. Thể loại mà sở hữu một cái xe như thế có ý nghĩa như một thành tựu lớn lao trong đời họ, thể loại mà dành cuối tuần để đánh bóng cái chắn bùn bằng sáp carnauba, lái xe đưa con cái đi dạo một chuyến dài, không kể với vợ rằng chỉ cần thêm một lần sửa chữa nặng đô nữa là đến nước phải bán xe. Ai đó có thể bảo họ đi chết đi, nhưng Max thấy thương hại họ. Tặng phụ tùng và làm miễn phí. Hôm nay anh không hề thấy phiền.

Đèn đóm tắt ngóm khắp cả khu Oaks khi anh về tới nhà; sự cố về điện gì đấy; thành phố lúc nào cũng cung không đáp ứng nổi cầu. Anh lấy đèn pin trong gara rồi mang túi đồ ăn vào bếp và thấy Lilli đang ngồi một mình trong gian ăn rộng rãi màu trắng, dùng bữa dưới ánh nến. Cô không trang điểm. Anh không thể nhớ nôi lần cuối cùng anh thấy cô để mặt mộc là lúc nào. Cô là một người đàn bà đẹp, hơn nhiều so với những gì Max xứng đáng. Anh biết điều đó ngay từ lần đầu gặp gỡ—đó là một ngày cuối mùa hạ, anh đang chuẩn bị trở về trường A. & M., nhưng anh nhận ra mình đang mắc sai lầm. Thế là anh quay lại bên cô. Đã hai mươi mốt năm trôi qua, nhưng vào khoảnh khắc này dường như với anh cảm xúc ấy chưa hề phai mờ; nó chỉ sâu nặng hơn, đa chiều hơn.

Nhưng, khi anh nhìn vào cô thêm lần nữa, có gì đó không ổn. Cô đang ăn đồ ăn thừa nguội ngắt. Ăn mà không có anh.

“Anh mang món Tàu về đây,” anh nói. Anh đặt cái túi lên chiếc bàn dài đủ chỗ cho mười hai người. Trong phòng này chẳng có gì là của anh—đồ nội thất, tranh ảnh trên tường. Có thể là tiền của anh thật, nhưng nó thuộc về vợ anh. “Anh đã nói là anh sẽ mua bữa tối mà.”

“Em không biết, Max. Điện phụt tắt và em đoán là em thấy đói bụng, em không chắc nữa.”

“Anh đã nói là anh sẽ mua món Tàu.”

“Em biết là anh đã nói thế. Em chỉ không chắc.”

Anh ngồi xuống đối diện cô.

“Em nghĩ là em muốn ăn một mình.”

Anh mang túi đồ ăn vào bếp, nhưng không đúng—phòng Harley ở ngay đó, bên kia bức tường. Anh đứng dậy và đi ra ngoài, qua cánh cửa kính lớn.

Trời tối đen, một đêm mát mẻ, trong lành, ngay cả đến đường chân trời Houston cũng tối om. Anh đi về phía cuối sân và ngồi trong đám cỏ. Một cảm giác thân quen—anh đã tưởng mình đang làm điều đúng đắn, chỉ để nhận ra rằng không phải.

Anh ngồi đó trong bóng tối, lắng nghe tiếng dế và tiếng chim đêm, một con chim đớp muỗi; cả thành phố không có ánh đèn, cũng chẳng có lấy một tiếng người. Đây có thể là hồi kết cho thế giới này. Khoảnh khắc cuối cùng. Cha anh nói các con kéo tấm rèm lên và Max nhìn các anh em mình; họ đều biết, và rồi cha anh ra đi, chỉ như vậy, ánh sáng của ông vụt tắt hệt như bất cứ tên sát nhân nào. Sinh học thuần tuý. Một thói quen hít thở. Harley sẽ chẳng khác gì, nghĩ đến đây, Max ngả lưng nằm xuống. Anh cảm thấy sương đọng trên khuôn mặt, phía trên cao là những vì sao, không thể đếm nổi—vũ trụ đen tối sẽ nuốt lấy tất cả những vì sao ấy, cả chính anh, tất cả mọi người mà anh quen biết.

Duy chỉ . . . anh không thực sự tin điều đó. Anh không thể giải thích tại sao; anh biết đó là sự thật, nhưng anh không đồng ý với nó. Đó là Lilli ngủ trên ghế bành ở cửa hàng khi anh phải làm việc thâu đêm. Đó là Harley bơi ở Hồ Livingston. Lần cuối họ đi, Max phải lánh đi vì một cơn bão đang tới, một cơn dông bắc lớn, nhưng Harley đã chèo ra giữa hồ để nó có thể nằm ngửa lên chứng kiến cơn bão thổi qua trên đầu mình. Nuôi dạy một đứa con trai như vậy, có ai mà không lo âu—anh không chắc mình đã làm thế nào. Những người đàn ông như vậy gây dựng cả đế chế, họ vượt đại dương, họ ghi danh vào lịch sử.

Với cuộc đời của mình, anh còn chưa đi được nửa đường, còn con trai anh mới chỉ bắt đầu. Anh nhận ra anh đang nhìn lên trời, những vì sao hiện rõ như tuổi trẻ của anh, còn ngôi nhà tối tăm của anh dường như thật xa lạ, một nơi từ giấc mơ đã lãng quên một nửa nào đó, một nơi anh đã tới để đi qua những ngày của mình. Sáng hôm sau, hay sáng hôm sau nữa, anh sẽ đi đón con trai anh. Anh có thể thấy cả hai thật rõ ràng, hai dáng hình trên một xa lộ xa xôi, trên yên ngựa của một chuyến hành trình không tên. Họ dễ dàng mang theo những gánh nặng của mình. Họ mới đó đã mờ xa dần khỏi tầm mắt.


(1) ND: Speed Chanel, kênh truyền hình về xe cộ ở Mỹ.

(2) ND: The National Network, kênh truyền hình ở Mỹ.

(3) ND: quy định trong các khu dân cư ở Mỹ về việc các hộ gia đình phải đảm bảo chăm sóc bãi cỏ để đảm bảo vệ sinh dịch tễ cũng như thẩm mỹ chung.

(4) ND: Frank Lloyd Wright (1867-1959), kiến trúc sư nổi tiếng người Mỹ.

(5) ND: các tạp chí kiến trúc phổ thông.

(6) ND: trường đại học Texas A. & M.

(7) ND: The Cure, tên một nhóm nhạc đến từ nước Anh.

(8) ND: College Station, thị trấn đại học ở bang Texas, là bản doanh của trường đại học Texas A. & M.

Copyright © 2010 by Philipp Meyer.

ThKh chuyển ngữ không có sự đồng ý của tác giả.

———-

ThKh – 2019

ThKh là một bút danh khác của ChuKim, một người viết tự do, sống và yêu tại một ngôi làng mang tên thành phố. Nếu có thể, hãy ủng hộ và khích lệ bằng cách đọc và chia sẻ những gì anh viết trong khả năng của bạn. Xin cảm ơn.

– natchukim.cogaihu@gmail.com –

PS: Tất cả nội dung trong blog này đều được tuyên bố quyền sở hữu và quyền tác giả về nội dung, ngoại trừ những bài sưu tầm có đề rõ. Mọi trích dẫn, đăng lại, vui lòng ghi rõ nguồn. 

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s