Truyện ngắn: Thuỷ quái – Téa Obreht

Téa Obreht (1985-) là nhà văn người Mỹ gốc Serbia. Bà được biết tới kể từ tiểu thuyết đầu tay The tiger’s wife (2011). Hiện Téa Obreht sống tại Ithata, New York.  

Téa Obreht (Grafilu - newyorker.com).jpg
Tranh: Grafilu – newyorker.com

‘Thuỷ quái’ (Blue water Djinn) là truyện ngắn của Téa Obreht được đăng trong tuyển tập 20 under 40 (2010) của tạp chí The New Yorker. 


Thuỷ quái

Khi thằng nhóc trèo khỏi giường và đi ra ngoài, mọi người đã đang tìm kiếm ông người Pháp, một vị khách của khách sạn, quần áo của ông ta được một ngư dân địa phương phát hiện trôi dạt vào cùng ngọn sóng mang theo đầy rong rêu. Buổi sáng nắng nóng chói chang, Jack đứng ở cổng căn nhà gỗ của mẹ nó, ngón chân ngập trong cát dưới bóng mát, quan sát đám các nhân viên khách sạn cứ đông dần đông dần lên ở phía cuối bãi biển. Nó có thể thấy bác Fawad, một ngư dân người Ethiopia, và ông Hafez, người giúp điều hành khách sạn khi mẹ Jack vắng mặt; nó có thể thấy những người phục vụ bể bơi mặc bộ đồng phục màu vàng, và những cứu hộ viên đeo kính râm. Vào thời điểm này, không hề có sự hoảng loạn. Trời hẵng còn sớm. Mặt trời rạch một đường trắng xoá trên mặt nước và nhảy múa trên những chiếc phao màu cam, xâu chúng lại như đồ trang sức dọc theo đường lượn của khu vịnh nhỏ, và trên thân con tàu đáy kính, mới vừa trở về sau tour ngắm hoàng hôn ở bãi Ras Um Sid(1). Khi con tàu tiến vào gần hơn, vượt qua rặng san hô nơi con tàu đắm toạ lạc, thằng nhóc có thể ngửi được, cái mùi đậm đặc, đắng ngắt của dầu máy. Nó dụi mắt, đôi mắt nó trĩu nặng vì thiếu ngủ, rồi đi xuống đường dốc nhập vào đám đông đang vây quanh quần áo của ông người Pháp. Tất cả mọi người đều đang nói về ông người Pháp. Họ nói, Có thể ông ấy đang đi bơi, có thể chúng ta sẽ tìm thấy ông ấy đang tắm nắng ở bên kia bến tàu, ông ấy chắc hẳn đã lại rời khỏi con tàu đáy kính, nhưng họ chỉ dám thì thào. Ban đầu, không ai để ý thấy Jack, nó thấy quặn cả bụng, như thể có thứ gì đó đang thúc mạnh phía dưới xương sườn thằng nhóc. Rồi bác Fawad đặt bàn tay thô ráp lên đầu Jack, và thằng nhóc cứ đứng đó, mái tóc vàng loà xoà trước mắt, cảm thấy sức nặng của bàn tay bác ngư dân và cả sức nặng của chính nó trên cát.

Téa Obreht - Blue water djinn (ảnh - "One Lonely Star, Alexandria" (1999) : The Third Line, Dubai : Yossi Milo Gallẻy, Nyc) - Youssef Nabil  .jpg
Ảnh: Youssef Nabil – “One Lonely Star, Alexandria” (1999) / The Third Line, Dubai / Yossi Milo Gallery, Nyc

Mấy cứu hộ viên người Ả Rập mang theo mấy cây gậy dài từ phòng giải trí và đang cẩn thận khều cái áo phông to tướng và cái quần dài của ông người Pháp khỏi chỗ rong biển rối nùi ở vùng nước nông. Bộ quần áo mềm oặt, treo lên trông như da thịt trên mấy cái cọc. Cái áo phông màu đỏ tươi, quần màu xanh lam. Jack nhìn mấy người cứu hộ viên trải rộng cái áo ra và hướng nó về phía sáng. Bọn họ đều gầy guộc, chân dài, và phải hai người mới kéo giãn được cái áo ra trong khi mấy người còn lại cười rộ lên. Ông Hafez, bận đồ trắng, nói họ tiếp tục công việc. Nước, trơn láng và lấp lánh, nhỏ xuống từ cổ áo và đọng lại ở những nếp gấp trên áo của ông người Pháp. Mọi người đều biết cái áo này của ai, nhưng dù sao một cứu hộ viên vẫn kiểm tra nhãn áo. Chẳng có tên tuổi gì hết. Cái quần rỗng túi của ông người Pháp thì khuyu mở tung cả.

Khi con thuyền đáy kính tiến vào gần hơn, vài ngư dân lội xuống nước và đợi nó tiến vào điểm neo đậu. Bác Fawad tới giúp họ. Jack cũng muốn giúp, nhưng mẹ nó đang bận đi dự hội thảo ở London, nó không được phép bơi. Thay vào đó, nó quan sát những con mòng biển quần tụ trên mép nước, sục sạo qua lớp cát để tìm bắt cua. Thằng nhóc có thể thấy rõ là ông người Pháp không có mặt trên tàu.

Trên khắp bãi biển, những du khách buổi sớm đầu tiên đang xuất hiện, mang theo khăm tắm và các loại bóng chơi trên biển, xô đựng cát và những chiếc ô kẻ sọc. Họ đi xuống từ các căn nhà gỗ của khách sạn, kẹp thảm nằm trên cát dưới cánh tay, da họ chưa gì đã đỏ ửng lên vì nóng. Đội quân bán hàng rong cũng xuất hiện, dựng các giá để cây cảnh và đồ trang sức, ngọc lam bóng loáng, mặt dây chuyền hình diều hâu, những cuộn giấy cói mà họ sẽ vẽ tên bạn lên đó bằng chữ tượng hình. Jack nhìn họ bày đồ nữ trang ngay hàng thẳng lối. Nó đã biết những người bán hàng rong ấy từ khi còn rất nhỏ, thi thoảng họ cho nó mấy miếng sáp ong, hay mấy hòn đá mà nó sẽ đập vỡ để lấy ra mấy mảnh pha lê màu tím nép mình bên trong như những viên kẹo, nhưng hôm nay nó không định ghé thăm họ. Nó đang mải nghĩ về bộ quần áo ướt nhẹp của ông người Pháp khi người ta buộc con tàu vào cái cầu cảng gỗ bé tẹo và đỡ du khách xuống—bọn trẻ ngái ngủ và mấy người phụ nữ mặc áo trắng trễ nải, một cô gái người Mỹ đội chiếc mũ màu cam bự chảng, và một người đàn ông đến từ Bulgaria da đang bong ra thành từng mảng lớn.

“Các anh có chở ông người Pháp không đấy?” Ông Hafez hỏi to.

Người thuyển trưởng nói, “Ý ông là—?” và xoè hai cánh tay ra phía trước bụng, rồi anh ta tiếp, “Không. Hôm nay không thấy ông ấy đến.” Người thuyền trưởng đội một cái mũ to màu trắng có hình mỏ neo màu đỏ và một cái áo phông có logo của khách sạn khâu màu vàng kim trên túi ngực trái. Anh ta cúi xuống nhặt lên cái túi da của anh ta và cái xô màu xanh mà anh ta đựng trứng luộc dùng để dụ cá sú mì ở rặng san hô, giờ nó trống không. “Tôi nghĩ ông ấy đã về nhà rồi,” anh ta nói, và trèo xuống khỏi thuyền. Ngộ nhỡ có thấy hình hài của ông người Pháp trong bộ quần áo đang nằm dài trên cát, anh ta cũng vờ như không nhận ra. Thay vào đó, anh ta mỉm cười với Jack từ trên cầu tàu và nói, “Một ngày nào đó em nhất định phải ra khơi, habibi(2) ạ. Ở bãi Ras có những con cá đuối to gấp đôi em luôn.”

“Chà,” ông Hafez tự nói với chính mình. Mọi người vây quanh ông trong im lặng, còn thằng nhóc chắp tay sau lưng và nhìn xuống chỗ cổ chân nó lún dần và biến mất vào trong cát, những vòng tròn xam xám bụi bặm khô đặc lại quanh chân nó. Với Jack, ông Hafez trông già vô cùng, già hơn nhiều so với mẹ nó—bây giờ còn già hơn cả bác Fawad, phần dưới khuôn mặt ông trông nặng nề và không còn sức sống. Jack nhớ trước đây đã từng một lần thấy ông ấy như vậy, vào mùa hè nằm ngoái, khi một gã trai trẻ thử tạo dáng chụp ảnh bằng cách thò nửa đầu vào miệng của thứ mà anh ta cho rằng là xác của một con cá mập báo, và con cá mập ngậm luôn đầu anh ta, thế là, bất chấp sáu ngư dân đã hợp sức bẩy lên từ phía cái mũi sặc máu của con vật, phải dùng cưa chỗ khớp hàm con cá mập để giải cứu anh trai trẻ, và anh ta vẫn mất một mắt. Ông Hafez xem đồng hồ và nhìn quanh khắp bãi biển. “Có thể,” ông nói với bác Fawad, “ông ta đi ra ngoài này đêm qua để bơi và bỏ lại quần áo trên bãi biển nên sóng cuốn nó đi.”

“Tôi chưa thấy ông ấy bơi bao giờ,” bác Fawad nói. Bác ngư dân đang mân mê một cái sẹo ở khuỷu tay xương xẩu của mình, một miếng da dài trắng bợt lồi lên trông như thể được mài nhẵn bằng giấy ráp.

Ông Hafez gỡ kính râm và dùng mu bàn tay quệt mồ hôi ở mắt. Rồi ông chạm vào lưng Jack và nói, “Cháu vào trong ăn sáng đi,” và, trong một khoảnh khắc, ý tưởng về trứng, bánh mỳ và quả chà là dùng cùng với nước xi rô làm thằng nhóc thấy dễ chịu hẳn, nhưng rồi bỗng có tiếng hét ở phía xa cuối bãi tắm. Một trong những cứu hộ viên đã phát hiện ra cái gì đó. Một lối đi nhỏ dọc theo bờ biển, nơi những vách đá cheo leo màu màng vạch một đường thẳng qua bãi cạn, bằng phẳng của rặng san hô, nước triều đã rút khỏi các vũng nhỏ, và, ở một trong những cái ao tơi xốp của lũ sao biển, người cứu hộ viên đã tìm thấy dép của ông người Pháp. Chỉ một chiếc. Thằng nhóc nhìn người cứu hộ viên trèo xuống từ rìa của vũng nhỏ và băng qua rặng san hô với chiếc dép trong tay. Chiếc dép màu xanh nõn chuối. Với Jack, trông nó như một vật báu vậy, giống như mấy thứ bác Fawad có thể tìm được trong lưới đánh cá trên thuyền của bác ấy, khi bác ấy kéo lên cái lưới nặng trĩu đầy những cá mú và cá mó hoặc cá bướm, quẫy tung, những tổn thất ngoài ý muốn cho rặng san hô.

Người cứu hộ viên đặt chiếc dép lên cát ở vị trí bàn chân trong bộ quần áo duỗi dài của ông người Pháp. Jack hơi chóng mặt vì thiếu ngủ. Những người tắm biển đầu tiên trong ngày đang xuống nước, mang mặt nạ bơi và xô cùng mấy mẩu bánh mì thuổng từ bữa sáng buffet cho đám cư dân của rặng san hô. Ba mươi foot ngoài khơi, những cái ống thở màu sáng từ mặt nạ lặn của họ quây tròn quanh bãi đá của rặng san hô. Lần đầu tiên trong vòng hai tuần, Jack không thấy ông người Pháp trong số đó, đứng sừng sững như một tảng đá trong bãi cạn, vặn mình lắc cái bụng khổng lồ sang cả hai phía để nhìn xuống nước, cặp kính xanh áp sát vào mặt ông ấy.

“Chúng ta phải thật chắc chắn trước khi gọi cứu hộ,” ông Hafez nói. “Thật chắc chắn.”

Một cứu hộ viên nói, “Biết đâu ông ấy đi tour thăm quan tu viện Thánh Catherine. Họ khởi hành từ sáng sớm nay.” Jack cố hình dung hình ảnh ông người Pháp—ngồi đó, như ông vẫn thường, hai tay khoanh lại, thẳng lưng, cái đầu hói nho nhỏ như một quả dưa cắm trên bờ vai xuôi—trên một chiếc xe bus đi qua sa mạc. Thằng nhóc ngày nào cũng thấy ông người Pháp ngồi như vậy dưới bóng ô trên bãi biển, chờ đợi con tàu đáy kính. Nó đã từng thấy thân hình thẳng đuỗn của ông người Pháp chiếm hết cả cái sàn tắm nắng trên thuyền đưa những người lặn biển ra bãi Ras, cái hình dáng vô dụng, lẹt đẹt theo đuôi, trông như con ki gỗ của ông người Pháp, người mà, giống thằng nhóc, không được phép bơi lội. Jack thấy khó mà tưởng tượng ra ông ấy đi thăm tu viện Thánh Catherine, gắng sức men theo con đường mòn khô cằn nứt nẻ lên tu viện. Nó gần như đã nói thành lời, nhưng rồi ông Hafez đáp, “Một phần của chuyến đó là ngồi trên lưng lạc dà,” thế là mọi người đều hiểu chuyện đó là bất khả thi, rằng ông người Pháp không tới đó.

Ông Hafez nói họ bắt buộc phải tìm triệt để ở sân vườn khách sạn—mà không được bỏ qua dù chỉ một thứ. Ông chia họ thành các nhóm đi tìm ở phòng đọc, khu massage, khu xông hơi, bất kì nơi nào mà ông người Pháp có thể đến—mặc dù không ai có thể nhớ ra họ đã thấy ông ấy ở đâu, trong mười bốn ngày ông ấy ở khách sạn, ngoại trừ bãi biển và phòng ăn buffet. Ông Hafez bảo trợ lý của mình gọi bộ đàm tới người tài xế của tour thăm tu viện Thánh Catherine.

Ông tự mình tới phòng của ông người Pháp. Jack đi theo ông. Lúc đầu, ông Hafez không để ý thấy thằng nhóc, đang đi ngay cạnh ông. Rồi ông quay sang nhìn nó và nói, “Cháu nên đi xem bữa sáng có gì luôn đi,” nhưng có vẻ như ông quên mất rằng thằng nhóc không thuộc về nơi đó như khi Jack cùng ông trên con đường lát gỗ đi ra bãi biển, ngang qua bể bơi, nơi mấy cô gái trẻ trung thơm mùi dầu dừa đang nằm phơi tấm lưng trần dưới mái tranh ngoài sân.

Jack chưa bao giờ vào phòng ông người Pháp, căn nhà gỗ cuối cùng ở khu vườn mé Tây của khách sạn. Một người lao công dọn phòng đang đứng trước cửa, hút thuốc lá. Trên sàn nhà, bên cạnh đôi xăng đan màu trắng của ông ta, có một cái khay lớn đựng toàn ly rượu trống trơn cùng dao và dĩa bẩn, một đống đĩa ăn, một vài lát chanh. Vài con ruồi đang đậu trên mấy lát chanh. Chẳng nói một lời, người lao công đưa chìa khoá cho ông Hafez để mở cửa. “Chào buổi sáng?” ông Hafez nói khi bước vào. “Chào buổi sáng, monsieur(3)?” Nhưng chẳng có hồi âm.

Rèm cửa phòng ông người Pháp đều kéo kín, bên trong tối om chỉ trừ ánh sáng từ tivi. Trên màn hình, một người phụ nữ đang đọc bản tin dự báo thời tiết bằng tiếng Ả Rập. Jack đứng ở cửa khi ông Hafez kéo rèm ra và mở cửa ra hiên để không khí tràn vào. Vẫn còn chút hi vọng trên gương mặt ông Hafez khi ông cẩn trọng nhìn ra ngoài về phía mấy cái ghế trốngvà rồi mở cửa vào phòng thay đồ, trong đó có một hàng áo sơ mi trắng treo ngay ngắn. Jack thấy mấy cái áo sơ mi trông cứ như áo choàng mỏng vậy.

Đôi giày cỡ bự của ông người Pháp xếp cạnh vali của ông ấy, cái vali đang để mở trên sàn nhà. Bên trong, Jack có thể thấy chiếc mũ rơm của ông người Pháp, khuất bên dưới chiếc mũ là một cái vỏ sò bự chảng cong vòng, rõ ràng là ông người Pháp định lấy luôn. Trên chiếc bàn con cạnh giường, một chồng sách. Vài cuốn chìa gáy về phía thằng nhóc, nên nó có thể thấy đó là sách về cá, ẩm thực, lịch sử của Suez(4). Jack nhích lên phía trước, xa khỏi cánh cửa. Ông Hafez đang trong phòng tắm. Ông kéo cái rèm khoang tắm qua một bên, và rồi nhìn đăm chiêu vào thùng rác phía dưới chậu rửa mặt. Ông quay trở lại phòng ngủ và dừng lại bên chiếc bàn con để nhặt xem một cái hộp nhựa nhỏ phía sau chồng sách. Đáy hộp trong suốt, và những viên thuốc đủ màu kêu xòng xọc bên trong.

Giường chưa được dọn, phủ đầy giấy. Ông Hafez cúi xuống xem xét, khi Jack tiến lại gần nó nhận ra đó là những trang từ quyển sổ phác thảo của ông người Pháp. Nó đã từng thấy những bức vẽ này trước đây: dưới cánh tay ông người Pháp hay bên dưới chiếc ô hay trên một tảng đá, được chặn bởi cái khăn tắm của ông ấy vào giờ ăn trưa. Những nét đậm bằng màu, ông người Pháp vẽ lại hình hài của những con cá mắc đầy trong lưới của bác Fawad mấy buổi sáng gần đây. Bất cứ thứ gì thu hoạch được từ buổi câu đêm—cá sơn đỏ hay cá mó, cá phèn mắt sữa chết trong cuộn dây thừng, cá sư tử hàm treo với mấy cái vây bị vặn xoắn—giờ nằm trải ra trong màu sắc dây phai trên giường của ông người Pháp. Jack nhận ra nét viền lớn vẽ con cá đuối tuần trước, bức tranh mà ông người Pháp vẽ trong ngày đầu tiên mà những con cá đuối quỷ ấy sải vây tiến vào bến cảng từ vùng Vịnh ấm áp, và bác Fawad bắt được một con và rạch toang nó ra trên bãi cạn như một cái phong bì. Trước tiên ông người Pháp vẽ nó từ phía trên, cái miệng có sừng của nó há ngoác ra chết lịm, rồi thêm một hình phác nho nhỏ bên cạnh—từng hàng từng hàng mang cá bàng bạc ông ấy vẽ sau khi bám theo ví dụ của Jack và đưa tay mình vào miệng con cá đuối để tự cảm nhận khoang trống bên trong. Jack nhớ xúc cảm trỗi dậy trong nó ngày hôm ấy, khi nó muốn đấm ông người Pháp, nhưng cũng đồng thời cảm thấy đáng tiếc cho ông ta, ngạc nhiên làm sao mà ông lại thở mạnh đến vậy khi mà ông cúi xuống để chạm vào con cá đuối. Trong mấy bức tranh, Jack nhận ra một trong những con cá hoàng đế, ông người Pháp vẽ sai hết cả màu cho đến khi Jack phải nhờ bác Fawad mang nó trở lại trong một cái xô để ông ấy có thể vẽ cho đúng.

“Nhưng bút chì đâu cả rồi?” ông Hafez nói khi nhặt lên từng tờ và nhìn xuống dưới. Jack không kể với ông.

Trong những tờ giấy rải rác trên giường là bức tranh vẽ con rùa mới ngày hôm qua, màu xanh lục, mạnh mẽ, cổ béo ịch.

 

Buổi sáng trước đó, ông người Pháp đứng trên bãi biển cùng mọi người, xem các ngư dân với con rùa. Nó bị mắc vào lưới của bác Fawad trong đêm, và nó quá nặng tới mức bác ấy không kéo nổi lưới và thay vào đó đành kéo nó đi trong nước, từ tốn, cẩn thận, cho đến khi tới được bờ biển và gọi người tới giúp sức.

Jack nghe tiếng bác Fawad và chạy tới xem mấy người đàn ông kéo con thuyền nhỏ vào vùng nước nông, rồi lôi con rùa lên khỏi mặt nước, cái lưới bám quanh cổ và miệng nó, đôi mắt nó tĩnh lặng và nghiêm trang trên cái đầu màu xanh như tờ giấy bạc. Họ vật ngửa nó ra, và cái mai kẻ một đường sâu hoắm trên bãi cát khi họ kéo nó lên triền dốc, cái bụng vàng-xanh của nó ướt át, mềm tới nỗi nhìn hơi tởm, mấy cái chân nó nhỏ nước như khăn tắm bên rìa mai. Con rùa đã ở cả đêm trong lưới, hớp không khí khi nào nó có cơ hội, và đã kiệt sức tới mức không vùng vẫy gì nổi khi họ dừng lại; nó nằm yên hai mắt nhắm nghiền khi bác Fawad lấy dao và cắt quanh chân nó chỗ lưới đang xiết vào da thịt.

Jack chạm vào bụng con rùa và lớp da thô ráp của mấy cái chân, lỗ chỗ sẹo. Khi mấy cái chân của nó được tự do, mọi người phải lật xuôi nó lại để gỡ đám rối nùi quanh cổ nó. Được ở đúng chiều, con rùa có vẻ nhận ra nó đang ở đâu, và, bất ngờ bừng tỉnh, vùng thoát về phía mặt nước, cày thân mình trên cát, thế là mọi người phải nằm đè lên nó để giữ nó yên, và thậm chí ngay cả với bốn người đè từ trên xuống, con rùa vẫn tiếp tục di chuyển.

Lúc này thì những người dậy sớm—ông người Pháp, những người Tây Ban Nha đi hưởng tuần trăng mật đang chuẩn bị cho một ngày chơi golf, một bà già Bồ Đào Nha và con chó của bà ta, những vũ công Hồi giáocủa buổi trình diễn tối qua, trở về sau một đêm chè chén ở khách sạn kế bên—đã xuất hiện, và đứng thành một nhóm nhỏ bên mép nước, quan sát con rùa kéo cả mấy người đàn ông, từng inch một, hướng về phía biển. Một trong các ngư dân, một thanh niên trẻ chưa từng bắt được rùa, đang cười ha hả. Bà già Bồ Đào Nha chụp một kiểu ảnh bằng cái máy ảnh nhỏ màu vàng. Jack không thích cái cách ông người Pháp nhìn con rùa. Có nét gì đó bất nhẫn và cô độc trên khuôn mặt ông người Pháp khi ông ấy nhìn vào những tạo vật đến từ mặt nước. Ông ta rõ ràng muốn chạm vào con rùa, nhưng cuộc vật lộn trên bãi biển biến điều đó trở nên bất khả thi.

Còn năm foot là tới mặt nước, con rùa ngã vật về phía trước vào trong cát, và trong một giây mấy người đàn ông ngừng la hét. Lúc ấy, Jack chạy lên, vẫn không ngừng nhìn ông người Pháp, và đặt tay nó lên đầu rùa. Bác Fawad đẩy thẳng bé, rất mạnh. “Cháu làm gì đấy?” bác nói. “Cháu bị làm sao vậy hả?” Khi thằng nhóc tự mình đứng dậy, bác Fawad cắt nốt mảnh lưới cuối cùng và bước lùi xa khỏi con rùa. Giờ thì Jack có thể thấy cái mai. Nó to khổng lồ và màu nâu, trông như một tấm bản đồ, và có một mảnh nhãn màu vàng trên đó, nó đã từng nhìn thấy trên những con rùa khác như vậy. Con rùa không cử động. Nó nằm trên cát, nhìn mọi người quanh nó bằng đôi mắt già nua, rất già.

“Nó sắp chết à?” bà người Bồ hỏi.

“Không, không, madam(5),” bác Fawad trả lời bằng tiếng Anh. “Rất mệt. Nghỉ ngơi.” Rồi bác vẽ một chuyển động vào không khí, mô tả cho bà ấy thấy cách con rùa trốn thoát thế nào. Bà người Bồ nhờ ông người Pháp chụp một bức ảnh bà ấy với con chó và con rùa. Bác Fawad bước ra khỏi khung hình.

“Trên lưng nó là cái gì vậy?” ông người Pháp hỏi, sau khi trao lại cho bà kia cái máy ảnh.

Bác Fawad tìm từ mất một lúc, và khi tìm không ra thì bác nói, “Cái đó là để tìm con rùa.” Bác tạo hình địa cầu bằng tay. “Di chuyển nhiều dặm lắm, rồi hàng năm quay lại để đẻ trứng. Hiểu không?” bác nói.

“Tôi không có ý hỏi cái thẻ,” ông người Pháp nói. Ông ta lấy ra quyển sổ phác thảo và bỏ mũ xuống, để lại một vết hằn đỏ quanh những lọn tóc trên trán. “Ý tôi là cái trên mai nó, vết nứt ấy.”

Lúc đó thằng nhóc mới nhìn thấy, và nó tự hỏi làm sao mà nó lại không nhận ra sớm hơn. Chỗ đỉnh mai, ngay bên cạnh cái cổ, lởm chởm và nứt toác, mở ra như một cái khe. Các cạnh sắc và gồ ghề, vành màu trắng. Bác Fawad cúi gần để nhìn cho rõ, và khi đứng thẳng dậy bác nói, “Cá mập.” Bác nói mà chẳng có chút sức thuyết phụ nào.

“Em đã nói với anh đó là do cá mập mà,” người phụ nữ Tây Ban Nha trẻ tuổi nói, lấy mũ vỗ vào chồng cô ta. “Em đã nói với anh là bọn họ nói dối khi họ bảo, ‘Ồ, không có cá mập, madam, ở đây không có cá mập.’ ”

Nhưng Jack biết, qua nụ cười bác Fawad dành cho nó, rằng cá mập chẳng liên quan gì ở đây cả, hoàn toàn không. Nó biết qua cách bác Fawad phủi tay và nhìn ra biển và rồi quay lại nhìn nó, khi ông người Pháp bắt đầu vẽ con rùa, và bà người Bồ hỏi về trứng rùa, còn con rùa nhúc nhích trở lại và trườn xuống nước, khởi động cơ thể như một cái động cơ khổng lồ, rồi bơi khỏi đó.

 

Vượt qua con đê chắn sóng, bên ngoài đó mặt biển trong trẻo và sáng rỡ như băng, là con tàu kẹt vỡ ở đảo san hô nhiều năm trước, những con sóng quất mình lên những mỏm đá ở mép cong gồ ghề bên mạn tây của ngọn hải đăng. Đó là một con tàu cũ, gỉ hoen gỉ hoét thành màu xám lục, một chiếc pháo hạm Hải quân, và nó nằm nghiêng hông trông như cái xác bị mổ bụng của một con cá quái vật, những con mắt bình thản làm từ cửa kính của nó bị vỡ vụn và đong đầy bóng tối.

Với Jack, con tàu là tận cùng của thế giới, nó toạ lạc ở đó, trên rìa biên kiến thức của thằng nhóc, từ thưở thằng nhóc mới bắt đầu biết ghi nhớ. Thằng nhóc biết những con tàu khác đi xa hơn thế, xa mãi ngoài biển khơi. Nhưng, với Jack, chỉ có con tàu này, ngoài ra không còn gì khác, và nó biết mọi người không bơi tới chỗ con tàu hay lặn gần đó. Họ không được phép; có những dấu hiệu mách bảo họ như vậy, và các cứu hộ viên sẽ quát lên với những người bơi tới quá gần. Những người bơi bèn quay trở lại mà chẳng biết tại sao. Nhưng Jack biết. Bác Fawad đã kể cho nó mọi chuyện về con tàu, đó là nhà của thuỷ quái.

Bác Fawad kể với thằng nhóc về những đêm canh khuya trên biển, thứ âm nhạc kì quái của con tàu khi trăng lên cao. Sự kì lạ của những xác cá chết đập lên bờ đá, những cái mai rùa rời, nguyên cả những bộ hàm và bộ da bị sóng xô tới. “Quá dễ để nói ‘cá mập,’ habibi ạ,” bác Fawad nói. “Quá dễ để nói rất nhiều thứ không phải sự thật khi chúng ta sợ hãi.”

Bác Fawad kể cho Jack về những ngón tay nhọn hoắt dài thượt, và những thanh âm nghe như tiếng mưa khi chạm vào mặt nước, những thanh âm sấm sét trong màn đêm, kéo những con tàu lại từ vùng nước sâu.Jack biết về những con mắt ẩm ướt và những cái miệng xướng ca, về những bàn tay có màng và những chiếc lược san hô chải trên mái tóc rối bù thô kệch như tảo biển. Nó biết về những thuỷ thủ đã sa vào lưới tình và bơi ra khơi không bao giờ trở lại, về những con thuyền bị lật úp, về những chiếc cốc bằng sọ người mà thuỷ quái giữ trong những hang động dưới nước của chúng như kỉ vật về những người đàn ông đã từng yêu chúng.

Nó giữ chặt thằng nhóc, cái xác tàu, bởi những bí mật u tối của nó, những hang ổ gỉ sét và những đầm phá kim loại của nó. Nó nghĩ về chuyện này khi trăng nhô lên khỏi mặt nước phía sau rặng san hô, nghĩ tới nước biển tràn đầy khoang tàu lạnh lẽo, những bức tường đắp gù lên toàn cá dơi bạc cao kịch trần nơi lũ hà vảy cứng sinh sống. Nó nghĩ về thuỷ quái: răng của chúng, tay của chúng, chúng nhìn thấy gì dưới đó trong bóng tối sâu thẳm. Nó đã thấy ánh sáng quanh con tàu vào ban đêm, ánh xanh lục của những ngọn đuốc cháy dưới nước, và nó tưởng tượng chúng bay lượn qua những ô cửa bị nước bào mòn, miệng chúng đỏ ngầu thịt người, cổ tay chúng đeo vòng rong biển, ca hát, đan ánh trăng vào trong mái tóc.

 

Đó là giờ ăn trưa khi Jack đi theo ông Hafez quay trở lại bãi biển. Ông Hafez mang theo những bức vẽ của ông người Pháp. Trời chiều nóng hơn so với dự báo của người phụ nữ trên tivi trong phòng ông người Pháp, và mặt nước thì lặng không ngờ. Ngọn gió từ đêm qua vẫn chưa quay trờ lại, và mặt trời lừ mắt một tia chết chóc khiến cho cả vịnh lâm vào cảnh choáng váng.

Vẫn không ai thấy ông người Pháp, nên ông Hafez báo cảnh sát. Những người thuộc đội tìm kiếm đợi cảnh sát trên bãi biển, và người đầu bếp của nhà hàng, biết chuyện đang xảy ra, gửi cho họ bữa trưa đựng trong hộp, mấy cô gái trẻ làm việc trong khách sạn phụ trách mang ra. Mấy anh chàng ngồi lên ghế trên hiên tránh khỏi ánh mặt trời và chuyện trò về sóng biển, về cảnh sát trưởng, người họ không ưa cho lắm, bởi hắn luôn bắt phạt họ, và rồi họ bàn về trận bóng đá tuần tới với đội của khách sạn kế bên, và về lần này họ sẽ thắng ra sao, vì họ có một cứu hộ viên mới, một gã phù thuỷ đích thực. Jack đứng đó cầm hộp đồ ăn trưa và nghe họ nói chuyện cho tới khi nó thấy bác Fawad xoay con thuyền nhỏ về hướng bãi cạn gần đê chắn sóng, và rồi nó đi tới và ngồi xuống cùng bác Fawad trong bóng râm của con thuyền. Bác Fawad ăn cá sống vào bữa trưa, và hôm nay bác ấy không sẵn lòng kể chuyện. Jack ngồi với hộp đồ ăn trưa đặt trên đầu gối, cho tới khi bác Fawad mở ra cho nó và nhón một miếng khoai tây chiên, rồi hỏi sao nó không ăn. Jack nói nó không biết, và bác Fawad đặt một tay lên vai nó và để đó một lúc.

Jack ngồi giữa trời nóng, đói và mệt, dạ dày nó thắt lấy xương sườn. Mùi khoay tây chiên làm nó phát ốm, nó đưa cả hộp cho bác Fawad và nằm xuống mặt cát. Nó có thể thấy toàn cảnh ra phía bãi biển chỗ đặt bộ quần áo của ông người Pháp. Nó hẳn đã ngủ thiếp đi, vì bỗng đâu có tiếng hét dưới bãi biển, khi nó đứng dậy và nhớ ra mình đang ở đâu thì các cứu hộ viên đều đã xuống nước, họ đã tìm thấy thêm thứ gì đó. Bác Fawad đang ở chỗ họ. Jack không muốn tới đó xem, nhưng nó chạy qua vùng cát nóng rẫy tới triền ướt và đứng lại.

“Cái gì vậy?” ai đó hỏi. Các cứu hộ viên đang vây quanh cái gì đó nhỏ nhắn nổi trên mặt nước. Jack tới gần thêm. Nó ra tới chỗ nước ngập tới mắt cá chân, và rồi lại lội ra thêm chút nữa, chỉ vài foot, cho tới khi nó đứng trên chỗ cứng của rặng san hô, nước dập dìu vỗ vào đùi nó. Thằng nhóc thấy bác Fawad với lấy thứ đang nổi trên mặt nước, tia sáng phản xạ làm thằng nhóc chói mắt. Khi nó nhìn được trở lại, nó thấy bác Fawad đang cầm cái hộp bút chì bằng thép của ông người Pháp. Bác ấy dốc ngược nó lên và lắc mạnh, nước chảy ra tong tỏng. Mấy cái bút chì kêu lọc xọc bên trong.

“Này,” một cứu hộ viên nói với bác Fawad, chỉ tay về phía Jack. “Nó đang tới.”

Bác Fawad quay một vòng và thấy thằng nhóc đang đứng trên mặt nước, bác nói, “Đi chỗ khác ngay. Lên trên kia, cháu có hiểu không? Đợi các bác.”

Rồi Jack rời khỏi đó và ngồi trên cát ướt cho tới khi cảnh sát trưởng, Abdul al-Basri, tới; anh ta tới một mình, mặc bộ đồng phục màu xanh lục. Thằng nhóc dùng mũi dao bấm cậy vỏ sò bám dưới đáy con thuyền mộc, trong lúc mọi người đưa cho cảnh sát trưởng quần áo và dép của ông người Pháp, cái hộp bút chì ướt, mấy bức vẽ trong phòng ông ta. Ông Hafez nói chuyện một lúc lâu, rồi ông trở nên ủ dột và ngồi xuống một chiếc ghế xếp, hai tay ôm đầu cho tới khi một cứu hộ viên mang cho ông một ly nước chanh.

Viên cảnh sát trưởng nhìn sắp khắp bãi biển, rồi ông ấy tới chỗ chiếc thuyền mộc nói chuyện với bác Fawad. Ông ấy lắc đầu, và bác Fawad, người bắt đầu chuẩn bị lưới cho chuyến ra khơi đêm, chẳng nói lấy một lời.

“Chúng tôi sẽ xem,” Abdul al-Basri nói.

“Ở đâu?” bác Fawad hỏi.

“Đảo Pharaoh, và cả bãi Dahab nữa,” anh ta trả lời. “Nhưng với tình hình hiện tại—”

“Anh không cần giải thích tình hình với tôi đâu,” bác Fawad nói.

Viên cảnh sát trưởng lật qua các bản vẽ của ông người Pháp. Bộ ria to tướng và mái tóc dày khiến anh ta phải lấy mu bàn tay gạt ra khỏi loà xoà trước mắt, và chiếc kính râm tròn, gọng vàng to quá khổ khuôn mặt. Anh ta đeo đồng hồ vàng cho hợp với kính mắt.

“Cũng khá tốt đấy,” anh ta nói với bác Fawad.

“Không tốt tới mức tôi có thể đồng ý với anh nếu tôi không đồ rằng ông ấy chết rồi,” người ngư dân đáp, xộc thẳng vào vấn đề.

“Đủ tốt mà,” Abdul al-Basri nói, anh ta cuộn các bản vẽ lại. “Nhưng không đủ nhiều để có thể hi vọng.” Anh ta nhìn về phía mặt nước, ngón chân khẽ cựa quậy, hơi ngẩng đầu lên để có thể nhìn qua đáy cặp mắt kính, sáng sủa hơn một chút. “Tầm này thì có thể nghĩ tới cá mập,” anh ta nói. “Hoặc là một cái chân vịt”

Bác Fawad khẽ cử động tay, và viên cảnh sát trưởng nhìn thằng nhóc.

“Xin thứ lỗi,” anh ta nói với bác Fawad, bác Fawad gật đầu và tiếp tục gỡ lưới.

“Sẽ tìm được ông ta thôi,” Abdul al-Basri cuối cùng cũng nói.

“Lẽ ra ông ấy đừng nên làm vậy,” bác Fawad nói. Hai người bắt tay và viên cảnh sát trưởng bỏ đi.

Jack ngồi duỗi chân, đắp từng nắm cát quanh ống chân mình. Bác Fawad cười với nó, miệng bác ngậm đầy lưới rối cục. Rồi bác ấy nhìn xuống chân thằng nhóc và hỏi, “Đầu gối cháu làm sao vậy?”

 

Đêm trước đó, Jack không ngủ được. Trên chiếc giường xếp cạnh cửa số, nó nhìn đăm đăm lên trần thạch cao gắn nẹp, lắng nghe tiếng thở than của cơn gió ngoài kia, và cả thanh âm của sự vắng mặt của mẹ nó—không có tiếng loạt xoạt của giấy tờ hay tiếng leng keng của mấy cốc cà phê, không có cánh tủ rượu nào trượt qua trượt lại. Một con thằn lằn đốm hồm có đôi mắt to đang trườn lên bức tường phía đối diện, lớp da nó ướt nhầy và trong suốt. Jack quan sát nó chậm rãi bò lên, rồi tiếng ho của thằng nhóc làm con thằn lằn chạy vọt lên xà nhà và lớp mái phía trên. Mấy cái dầm nhà kêu kẽo kẹt như một con tàu vậy. Chiếc chăn thật ngột ngạt, Jack xoay xở rồi đá tung nó đi. Cái xác tàu ở đảo san hô nằm một góc trong suy tưởng của nó, luôn luôn như vậy mỗi khi nó cô đơn, kể từ khi mẹ nó bắt gặp nó ngồi trong chỗ cạn ở đầm lầy ngập mặn và nói với nó, “Đó là điều con muốn phải không—chết như thế này hả? Chết chìm, mất xác luôn? Bị ăn thịt hay xé xác thành từng mảnh—con muốn thế phải không?” hoàn toàn không mắng mỏ, không hề to tiếng lấy một chữ, và rồi ngày hôm sau bác Fawad kể cho nó câu chuyện về con tàu và thuỷ quái.

Thằng nhóc nằm, chân rúc trong chăn, vẫn không sao ngủ được.

Ngoài kia, đêm thật lạnh. Những vì sao sắc nét, rõ rệt nằm phẳng mặt trên nền trời. Khi nó bước ra ngoài căn nhà gỗ, dưới chân nó là cát ẩm, vẫn tiếp tục bốc hơi bởi lượng nhiệt của ngày dài. Nó chạy xuống đụn cát, những mảnh vụn gỗ trôi dạt lên bờ đâm vào ngón chân nó, và khi nó chạm tới mép cát ướt, nó dừng lại lấy hơi.

Đang khi con nước cao, những đợt sóng dâng lên nuốt bớt bãi biển. Chúng rút đi cũng như khi tấp lên, những cuộn nước bạc trắng bung ra, vỡ tan trên đá và cát, quăng từng tảng rong biển lên bờ. Jack cảm thấy nhịp cộng hưởng bùng nổ của sóng biển miên man trong xương mình, nó đứng yên đó chứng kiến triền cát để lộ ra những cư dân của nó, đạo quân cua tí hon tràn ra ngoài. Vượt ra khỏi đê chắn sóng, nó có thể thấy ngọn hải đăng trên đảo san hô đang quét chùm ánh sáng vàng thành một vòng tròn quanh khúc cua của rặng san hô, hình dáng con tàu bị đục khỏi đêm đen.

Bãi biển vắng tanh và xa lạ, những đụn cán chuyển thành màu trắng, biến dạng và trườn đi trong bóng tối. Gió tựa mình vào những cây chà là. Jack nhìn ra phía dải ánh sáng đang quay tròn trên đảo san hô. Màn đen như một cái miệng quẩn quanh nó.

Biển âm vang một khúc buồn bã thê lương. Đó là âm điệu trầm thấp, một thanh âm mà thằng nhóc chưa bao giờ nghe được từ biển, tĩnh tại và bình lặng. Nó đi xuống chỗ biển đi qua bãi đá và đống vỏ sò bị đẩy dạt lên, và ngồi xuống, thả chân mình vào bọt nước. Nó đang ngồi như vậy khi nó thấy điều đó, một cái dép màu xanh to bự đã được rửa sạch và mắc kẹt dưới một tảng đá mòn, cát vương quanh nó khi làn nước xô tới xô lui. Thằng nhóc đứng dậy và kéo cái dép ra, nó nhìn cái dép, sáng rõ và ướt nhẹp trong tay nó. Nó đã từng thấy chiếc dép này đâu đó rồi, nó nghĩ. Lúc ấy, âm thanh bỗng ồn ào hơn, một tiếng kêu ồm ồm, như tiếng hú, Jack cầm chiếc dép trong tay và nhìn vào bóng tối chờ đợi thuỷ quái.

Trên những con sóng ngoài xa, trong những ngọn đồi đen ngòm dốc dựng của nước, cái gì đó to lớn và mờ ảo đang bồng bềnh ẩn hiện trước tầm mắt. Ban đầu thằng nhóc cho rằng đó là một cái phao hay một con thuyền bị bung neo, nhưng rồi cái thứ mờ ảo ấy cưỡi lên đầu một ngọn sóng lớn, và đột ngột nó thấy chúng. Giờ thì nó đã có thể thấy chúng. Đó là chúng—chính chúng tạo ra âm thanh ấy, cưỡi sóng, cả một đàn trong làn nước kêu gọi thằng nhóc, cười với nó từ cái xác tàu—nó sợ tới mức chân tay nó nặng chịch và xuội lơ, và rồi những con sóng đang lên từ xa chừng như sắp chìa tay ra chạm vào nó, mà nó vẫn không sao nhúc nhích nổi. Nó muốn nhắm mắt lại để không còn phải nhìn thấy chúng nữa, để nó không bị mù, như bác Fawad đã dặn, nhưng thực tế ngay thời khắc này đang bóp nghẹt thằng nhóc.

Một con sóng rít lên trên bãi biển, bọt nước cuốn thành từng vòng quanh cổ chân thằng nhóc, kéo nó lún sâu vào trong cát. Nó suýt ngã, phải vung vẩy tay để lấy lại thăng bằng. Khi nó nhìn lên, cái thứ ở trong làn nước chừng như đã trở nên rất xa xăm, hư ảo hơn, tròn trịa, kềnh càng. Khác biệt. Giọng nói theo gió nghe như một từ.

Jack vùng chạy, dốc toàn lực về phía bãi cạn và đê chắn sóng. Ngực nó căng phồng lên, quả tim quá lớn để nhét trong đó, không khí thì chạm tới đâu đó ở giữa miệng và phổi thằng nhóc. Nó hộc tốc trèo lên gờ tường hẹp tí, bị thuỷ triều làm ướt nhẹp trơn trượt, cùng lúc những sinh vật tí hin chạy tán loạn sau từng sải bước của thằng nhóc. Nó vẫn giữ chiếc dép trong tay, đá làm xước chân nó. Nó vấp, ngã, rách đầu gối, nhưng nó gắng đứng dậy và lại tiếp tục chạy, biển cả đập từng nhịp quanh mắt cá chân. Đoạn cuối, nơi những tảng đá lao mình vào bóng tối, nó dừng lại.

Đó là ông người Pháp—giờ thì nó có thể thấy. Ông người Pháp trần truồng, to lớn, trắng trẻo và trần truồng, đang ngồi trên những con sóng như thể đang ở trên kiệu. Ngồi im như tượng, hai tay đặt trong lòng, bồng bềnh lên xuống như một cái cột mốc phao. Ông người Pháp chậm rãi quay đầu từ bên này sang bên kia khi ngồi đó, nhìn sâu xuống lòng biển, còn Jack đứng với chiếc dép ôm chặt trước ngực. Nó có thể thấy ông người Pháp đang cầm vài tờ giấy, hộp bút chì của ông ấy, giữ tất cả trong lòng như thể đang ngồi trong lớp học. Rồi ông ta ngẩng đầu lên và thấy Jack, và ông ấy vẫy vẫy hai cánh tay nung núc thịt của mình.

Jack nhìn chằm chằm, rồi nó thấy mình vẫy lại. Nó giơ cao chiếc dép và vẫy, ông người Pháp lại vẫy lại. Lần này ông ấy vẫy mạnh hơn, và gào thét gì đó. Jack không nghe được, không rõ là từ gì.

Con thuỷ quái mang ông người Pháp đi xa dần, Jack nhận ra. Nhưng chuyện này không giống như những gì bác Fawad đã kể. Đây không phải một cuộc vật lộn; không có bàn tay có màng nào kéo ông ta xuống, giữ ông ta dưới nước. Ông người Pháp ngồi như một vị pha-ra-ông mập ù vĩ đại trên những con sóng, để mặc chúng kéo ông ta đi bằng những cánh tay trần trụi màu xanh lam. Ông ta dường như chẳng bận tâm, như Jack, chúng đưa ông ta đi đâu. Jack muốn biết nơi nào. Jack muốn biết tại sao.

Ông người Pháp lại hét lên. Lần này Jack nghe thấy, duy chỉ một tiếng. Cứu.

Cứu, ông người Pháp kêu cứu, và, đột nhiên, Jack nhận thấy ông người Pháp đang bị quăng quật lăn lộn trên mặt nước. Jack đứng như trời trồng trên tảng đá, nó không cử động nổi. Nó không được phép bơi, và nó cũng không thể kịp thời chạy ngược về khách sạn để gọi người giúp.

Nó đứng đó lâu thật lâu, nghe ông người Pháp tru lên và chứng kiến ông ta chiến đấu với dòng nước cuồn cuộn cuốn quanh mình và tràn vào khắp mũi miệng ông ta. Dòng nước quá mạnh, một dòng nước cuốn sắc lẻm chảy ngang qua đảo san hô, băng qua con tàu ma, qua cả chân trời, và người đàn ông mập mạp chiến đấu với nó, từng đòn tay, ăn miếng trả miếng, nhưng ông ấy không sao áp chế được nó.

Rồi ông ấy mất hút xuống dưới, Jack sững sờ. Khi ông ta xuất hiện trở lại, ông ta đã ở quá xa, trở nên giống như một cái chai khổng lồ màu trắng, nhấp nhô như chẳng còn chút trọng lượng nào nơi dòng nước.

 

Ba ngày sau khi ông người Pháp mất tích, người ta tìm thấy ông ta. Ông ta bập bềnh, theo như Abdul al-Basri đoán, trên biển, trong Vịnh Aqaba—đi quá đảo Tiran và hố xanh Dahab và rừng tảo bẹ nơi cung cấp thức ă cho lũ cá mập voi, qua cả bốn tuyến hải trình du thuyền và một dàn khoan dầu, cho tới cuối cùng cái xác trương lên của ông ta dừng lại nghỉ ngơi ở một cái phao màu cam ngay bên ngoài bãi biển Nuweiba. Ở đó, cánh tay ông người Pháp mắc vào một sợi dây thừng, ông ta nằm úp mặt xuống nước, mấy con mòng biển đậu trên lưng và rỉa thịt ông ta.

Jack đi xuống bãi biển xem người ta đưa ông ta vào. Đó là một buổi sáng oi nóng, ẩm ướt, mũi tàu cảnh sát đặc quánh từng mảng gỉ sét khi nó rẽ nước mà đi. Bác Fawad bơi ra ngoài, vai nhô lên khỏi mặt nước, để giúp cảnh sát hạ ông người Pháp xuống một cái cáng, rất nhẹ nhàng, đưa ông ta lên bờ. Jack đứng ở chỗ nước nông, áo nó bê bết mồ hôi. Khi họ đi qua nó, thằng nhóc nhìn ông người Pháp, được bọc từ đầu tới chân bằng vải vàng, buộc thắt ở hai đầu như một gói xúc xích cỡ bự, mùi hôi thối của nước muối bốc mùi ướt nhễu khắp người ông ta. Thằng nhóc hình dung ra xác chết trương lên màu xanh, răng của loài cá chó chích như chích một quả bóng bay, càng cua, miệng của đá mút đá, hàng nghìn thứ lướt qua đã điên cuồng cắn xe thịt da và làm xì hơi ông ta từng inch từng inch cho tới khi ông ta rách rưới như hình ảnh về một tấm lưới tạo thành bởi các hồ thuỷ triều.

Jack đứng ở chỗ nước nông, đái, cho tới khi bác Fawad kéo nó đi.

Ông Hafez gọi báo tin cho mẹ thằng nhóc, và, từ London, cô ấy gợi ý họ tổ chức canh thức cầu nguyện cho người quá cố trong khi đợi gia đình ông người Pháp tới nhận xác. Ông người Pháp có một người em trai, Jack nghe thấy ở khách sạn như thế, ông này làm việc ở một gara, sẽ tới nhận xác. Ông Hafez đã đề nghị cho ông ấy nghỉ lại miễn phí.

Về buổi lễ canh thức, họ thắp nến và mời một linh mục từ nhà thờ Thánh Catherine, một người đàn ông tới đọc những đoạn trong Kinh thánh trước một cây thánh giá mà họ chôn gần nơi tìm thấy đồ đạc của ông người Pháp. Đêm xuống và vị linh mục nói những điều mà Jack không hiểu, mùi mật ong êm dịu của khói và hương hoa lan toả khắp trong không khí trên sân cho tới khi nó đậm đặc tới nỗi Jack không hít thở nổi thêm tí nào vào phổi. Vài du khách của khách sạn mặc đồ đen tới viếng. Bà già người Bồ Đào Nha cũng ở đây, mặc một cái áo len màu xanh lục đã bạc màu. Bà ấy cầm một miếng cá, trong suốt buổi lễ bà ấy cho con chó ăn từng chút một, bà ấy kẹp dây nó trong cái nách ướt nhẹp của mình. Ông người Pháp không ở đó; ông ấy đã đc khâm liệm, xịt nước hoa, bọc trong vải mới, quàn trong ngăn chứa thịt đông lạnh của khách sạn, ướp đầy đá xung quanh.

Khi những ngọn nến cháy tàn, bác Fawad đi ra ngoài kéo lưới, Jack đi theo bác ấy và nhìn bác ấy đặt xô và cái gậy vào đáy thuyền, cùng vài chai nước và một nồi nhỏ thịt dê hầm. Jack ước gì bác Fawad hỏi nó điều chi đó, nhưng ông già chẳng nói nói lời nào. Thằng nhóc cố giúp đẩy con thuyền xuống nước, nhưng bác Fawad xua nó đi, và rồi nó ngồi trên bãi biển, xem người ngư dân cô độc trên con thuyền, nhịp đảo cánh tay khi chèo thuyền đưa bác ấy tới ranh giới đê chắn sóng, qua những con sống tháp và chìm dần vào màn đêm. Khi bác ấy khuất dạng, Jack trở vào phòng nó và lấy ra chiếc dép thất lạc của ông người Pháp mà nó cất dưới gầm giường. Nó sẽ đời bác Fawab trên bãi biển, nó nhủ thầm, khi trời sáng nó sẽ kể cho bác già tất cả mọi chuyện.

Jack tự đào một cái hố trên cát cho mình và nằm ngửa, bầu trời vây đè quanh nó như một cái bát lật úp.

Khi thằng nhóc tỉnh dậy, không gian thinh lặng. Nó nghĩ nó đã nghe thấy tiếng mẹ gọi tên nó, tìm nó, nhưng rồi nó đứng dậy và nhớ ra mẹ đang ở xa, mẹ ở London, và ông người Pháp đã chết. Chiếc dép của người đàn ông quá cố nằm trên tay nó.

Khi nó nhìn quanh, mặt nước đã không còn. Ban đầu, nó nghĩ giấc ngủ đã chơi nó một vố, và nó dụi mắt nhưng cảnh tượng biển cả biến đâu mất sạch vẫn nguyên đó. Nó có thể nghe thấy biển, từ đâu đó xa xăm, rất xa. Thuỷ triều đã kéo con nước ra xa như kéo lưới, bỏ lại phía sau thân hình tái nhợt, khúc khuỷu của rặng san hô, trắng và trống rỗng và cứng ngắc dưới ánh trăng. Jack đã sống cả đời mình trên bãi biển này, nhưng nó chưa bao giờ thấy thuỷ triều xuống thấp dường ấy. Giờ nó có thể thấy mặt nước, khi nó cố gắng nhìn. Bể nước đang đấm đá túi bụi vào các diện đảo san hô hướng ra biển, mặt sau của đảo cất tiếng háttrong khoang bụng thép của con tàu.

Bước đầu tiên ra ngoài, Jack nhận thấy rặng san hô rất trơn. Rêu cỏ, mềm như lụa, đã mọc đầy trên những tảng đá sống. Khắp quanh thằng nhóc là những tháp san hô nhỏ bé, những vật thể màu xám biết hít thở. Nước rút đi kéo theo đám sao biển khỏi chỗ bám của chúng, bỏ lại chúng phơi tấm lưng đỏ thô mộc trên mặt cát, vươn tìm nơi trú ẩn. Bọn cầu gai đi cùng nhau thành cụm, mấy cái gai toả sáng lấp lánh. Hai mươi foot từ những con hẻm nhỏ của rặng san hô, mở ra cả một khu rừng dưới mặt nước. Cỏ dài hơn ở đây, dày hơn, và khi bước qua chúng, đôi chân trần của Jack chạm vào thân hình im lìmcủa lũ cá bướm, những thiên thần của vương quốc. Một con cá sư tử giương mấy cái lông cứng của nó về phía thằng nhóc từ một chỗ lõm trên tảng đá. Thằng nhóc đang bước trên bề mặt xốp của rặng san hô, hàng triệu hốc trú ngụ và mạng lưới đường hầm to nhỏ với những con quái vật tí hon ẩn trốn bên trong.

Đảo san hô thì lại khác. Đá ở đó sắc hơn, và nó bị xước chân khi trèo lên, hướng về phía con tàu, về phía mặt nước. Về hướng thuỷ quái. Muối làm vết xước của nó phát xót. Con tàu bám vào rìa của đảo san hô như một cái kẹp hoen gỉ, mạn sườn thép của nó rạch đầy những vệt sáng. Sau lưng nó, biển cả đang thở, chậm rãi trở lại qua bãi đá.

Khi nó tới thân tàu, nó đặt chiếc dép của ông người Pháp giữa những ngón chân và đu mình lên cho tới khi đầu nó lọt qua một ô cửa sổ gỉ sét. Đầu tiên, nó chẳng thấy gì. Bên trong con tàu tối đen, mênh mông hẳn lên cùng làn nước tối tăm. Nhưng rồi mắt nó quen với ánh trăng soi qua một cơ số mây. Những tia sáng chiếu qua những lỗ hổng gai góc bằng kim loại và trượt trên mặt nước xanh lục bên trong.

Khi thằng nhóc nhìn thấy thứ ấy, nó hơn cả những gì thằng nhóc mong đợi. Nó lên xuống, không trọng lượng và chậm rãi, lướt qua cái vỏ nứt nẻ của con tàu, duyên dáng hơn bất kì điều gì mà thằng nhóc từng chứng kiến, ngay cả khi nó đã ở trên bãi biển chứng kiến chúng đến và đi hàng năm trời. Nó bơi lội, co ép, xuống đáy tàu, cái đầu nhọn như mỏ chim của nó phóng tới chỗ những vết nứt quá nhỏ để nó có thể chui ra, mắc kẹt trong cái bể thuỷ triều bằng kim loại này, trên rìa vực sâu. Mặt nước thở dài, vỗ quanh cái máng thép, và Jack bắt gặp một cái nhìn thoáng qua trên con mắt đen của nó, lớp vỏ hình cầu của nó, khi nó quay lại và lặn xuống thêm lần nữa, cố gắng đẩy thân mình ra ngoài, vào lòng biển sâu thẳm.


(1) ND: bãi biển du lịch ở Ai Cập.

(2) ND: từ  tiếng Ả Rập, có nghĩa là ‘cưng’.

(3) ND: từ tiếng Pháp, có nghĩa là ‘ông’.

(4) ND: địa danh ở Ai Cập, nổi tiếng với kênh đào Suez.

(5) ND: từ tiếng Pháp, có nghĩa là ‘bà’.

Copyright © 2010 by Téa Obreht.

ThKh chuyển ngữ không có sự đồng ý của tác giả.

———-

ThKh – 2019

ThKh là một bút danh khác của ChuKim, một người viết tự do, sống và yêu tại một ngôi làng mang tên thành phố. Nếu có thể, hãy ủng hộ và khích lệ bằng cách đọc và chia sẻ những gì anh viết trong khả năng của bạn. Xin cảm ơn.

– natchukim.cogaihu@gmail.com –

PS: Tất cả nội dung trong blog này đều được tuyên bố quyền sở hữu và quyền tác giả về nội dung, ngoại trừ những bài sưu tầm có đề rõ. Mọi trích dẫn, đăng lại, vui lòng ghi rõ nguồn. 

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s