Truyện ngắn: Đời sống thứ hai – Daniel Alarcón

Daniel Alarcón (1977-) là nhà văn người Mỹ gốc Peru. Ông đã xuất bản các tập truyện ngắn War by candlelight (2005), The king is always above the people (2017), cùng các tiểu thuyết City of clowns (2003), Lost city radio (2007), At night we walk in circles (2013).

Daniel Alarcón (Grafilu - newyorker.com).jpg
Minh hoạ: Grafilu – newyorker.com

‘Đời sống thứ hai’ (Second lives) là truyện ngắn của Daniel Alarcón được đăng trong tuyển tập 20 under 40 (2010) của tạp chí The New Yorker. 


Đời sống thứ hai

Bố mẹ tôi, với tầm nhìn đáng ngưỡng mộ, đã sinh đứa con đầu lòng khi họ đang hưởng học bổng ở Hoa Kỳ. Mẹ tôi học về y tế cộng đồng, còn bố tôi thì học khoa học thư viện. Có một đứa con Mỹ, theo như mẹ tôi từng nói, giống như là gửi tiền vào ngân hàng vậy. Họ sống gần trung tâm thành phố Baltimore, ở khu vực bệnh viện mà mẹ tôi theo học, trong một khu dân cư với những căn nhà xập xệ xếp thành hàng. Baltimore đã sa sút, thảm hại, mẹ tôi nói. Mùa đông thì lạnh, mùa hè thì như xông hơi, một thành phố bị chia rẽ dữ dội, đầy rẫy những người da trắng sợ sệt và những người da đen giận dữ. Nước Mỹ, những ngày ấy, đã vạch áo cho người xem lưng—đất nước hùng mạnh nhất thế giới tự gây chiến với chính mình trên đường phố, trong các trường đại học, ở miền Nam, ở Việt Nam, ở thủ đô ngay gần đó. Còn bố mẹ tôi thì bắt đầu cố có con: trong những đêm xuân, khi họ khiến cho căn phòng có mùi mặt đất, những đêm hè, khi cảm tưởng thành phố giống như một đầm lầy, những đêm thu, ngủ thiếp đi trên ga trải giường, những đêm đông, khi căn phòng rừng rực lửa tình. Họ không phải vợ chồng son, chính xác là thế, nhưng Baltimore đã hồi sinh họ, làm cho việc sánh đôi của họ trở nên điều gì đó không thể thiếu được, điều gì đó đầy đồng điệu.

03. Daniel Alarcón - Second Lives (ảnh - Nubar Alexanian - newyorker.com).jpg
Ảnh – Nubar Alexanian – newyorker.com

Với những nỗ lực của mình, họ được tưởng thưởng bằng một đứa con trai, họ đặt tên là Francisco. Họ sống ở quận nghèo nhất cả nước lúc bấy giờ, và một khi đã làm xong giấy khai sinh, bố mẹ tôi sẽ nằm trong danh sách được nhận sữa công thức, giao tận cửa nhà mỗi sáng thứ hai hàng tuần. Họ lấy làm kinh ngạc, và sau đó họ biết rằng rất nhiều bác sĩ ngoại quốc ở bệnh viện cũng nhận được lợi ích như thế, dù một vài người thậm chí còn chưa có con. Đó là một khoản hối lộ bẫm đấy, bố tôi nói, chính phủ khẩn khoản với những cư dân nghèo khổ của họ: Làm ơn, làm ơn đừng bạo loạn! Baltimore được trang hoàng bằng những lời nhắc nhở về cuộc hỗn loạn dân sự gần nhất: cả một khối cửa hàng mặt tiền bị thiêu rụi, một ngôi nhà bị sập mái sau một trận bão tuyết không người ở mà cửa nẻo phải bịt kín lại bởi các tấm gỗ. Sáng nào cũng vậy, vỉa hè vương đầy cửa kính ô tô vỡ vụn, nhưng mảnh thuỷ tinh hạt ngô sáng lấp lánh như kim cương dưới ánh nắng trong veo. Không ai dùng tiền ở các cửa hàng trong khu dân cư, chỉ dùng phiếu mua hàng; và, thay vì lũ chim, bầu trời được tô điểm bởi túi ni lông bay phất phơ trong gió. Nhưng chẳng hề chi, vì bố mẹ tôi hạnh phúc. Họ đang yêu và họ có một đứa con trai xinh đẹp, ảnh của nó được dán vào một cái hộ chiếu màu xanh lam của Thế giới Thứ nhất.

Thời kì Mỹ của họ không kéo dài. Họ lẽ ra nên sinh thêm một đứa con nữa—họ lẽ ra nên sinh tôi—nếu như không hết hạn thị thực. Vào thời điểm mẹ tôi hết hạn thai sản chăm Fracisco, ở quê nhà xảy ra một cuộc đảo chính, và chính quyền quân sự lên nắm quyền không mấy thân thiện với Tổng thống Johnson cho lắm. Bố mẹ tôi bị yêu cầu phải gia hạn giấy tờ mười tám tháng một lần, và năm đó, trong nỗi sửng sốt tột độ, họ bị từ chối. Kháng cáo, người ta nói với họ, chỉ có thể đệ đơn từ quê nhà họ. Bệnh viện đại học viết một lá thư thay mặt mẹ tôi, nhưng văn bản đầy ý nghĩa ấy biến mất tăm trong tủ hồ sơ của một công chức nào đó ở ngoại ô Virginia, và chuyện sớm trở nên rõ ràng là sẽ chẳng thể làm gì được. Không chấp nhận bị trục xuất—thật hạ thấp phẩm giá làm sao!—bố mẹ tôi chủ động rời khỏi đất nước ấy.

Và rồi nhãn quan của họ thay đổi, trở lại với gia đình, bè bạn, những nơi chốn họ từng biết, và những thứ mà họ quên mất rằng họ từng biết. Họ mua một căn nhà ở ngoại ô thủ đô, nơi tôi khôn lớn, một nơi vốn từng tách biệt đã hoàn toàn bị sự phát triển của thành phố nuốt chửng. Tôi đoán họ đã không còn cảm xúc xưa cũ Baltimore hồi nào, vì mãi bảy năm sau tôi mới ra đời, một cục thịt đỏ hỏn, khóc lóc, một sinh vật lùn xủn, nhỏ con ngay cả so với hồi đó. Không có hộ chiếu xanh lam nào cho tôi, nhưng họ vẫn tự an ủi bản thân bằng cách đặt cho tôi một cái tên Anglo, là Nelson, tên này hồi đó rất thịnh hành. Cuối cùng, tôi có hộ chiếu Thế giới Thứ Ba, màu rượu vang đỏ đổ tràn, nhưng nó chỉ là thứ để trưng ra thôi. Tôi vẫn chưa có dịp nào dùng hộ chiếu cả.

Francisco, tất nhiên, té ngay khi có cơ hội. Đó là tháng một, năm 1987, tình hình rất ảm đạm, và ra đi là điều hợp lý nhất. Tôi mười tuổi; ý tưởng là anh ấy sẽ giúp tôi có thị thực và tôi sẽ sang cùng anh ngay khi tôi học xong phổ thông. Cả nhà tôi đến tiễn anh ở phi trường, chụp một tấm ảnh bắt buộc ở trước bảng giờ các chuyến đi, và vẫy tay chào khi anh ấy đi qua cổng kiểm tra an ninh. Anh ấy hứa sẽ viết thư. Anh ấy hứa sẽ gọi điện. Anh ấy biến mất trong nhà ga, rồi chúng tôi đi cầu thang lên tới cái nhà hàng nhờn mỡ ngay phía trên chỗ lấy hành lý kí gửi, nơi chúng tôi ngồi ngay bên cửa sổ, chờ đợi một cái máy bay trông có vẻ như là của anh trai tôi cất cánh. Bố tôi uống cafe, hà hơi lên mắt kính và lau cho bóng lên bằng chỗ nếp gấp của áo sơ mi. Mẹ tôi vẽ một cây cọ lên một tờ giấy ăn, cau mặt. Tôi buồn ngủ, gục đầu trên bàn, và khi tôi thức dậy, người trông coi đang lau sàn nhà bên cạnh chúng tôi, tự hỏi, có lẽ, không biết liệu chúng tôi có định đi về không.

 

Anh trai tôi đến sống cùng gia đình Villanueva, bạn cũ của bố mẹ tôi từ thời ở Baltimore, họ định cư ở Birmingham, bang Alabama. Lá thư đầu tiên của anh ấy dài ba trang viết tay, bắt đầu bằng việc miêu tả mùa đông ở miền Nam Hoa Kỳ. Năm đó, trời Alabama đổ mưa không ngớt cho tới tận giữa tháng ba, một khúc dạo đầu sũng nước mở đường cho một mùa xuân còn ướt át hơn. Với Francisco, không quen với kiểu thời tiết này, những cơn dông tố thật quá đỗi ấn tượng. Thỉnh thoảng lại có đường dây bị quật đổ, và đôi khi mất điện là chuyện hiển nhiên. Trong bóng tối quen thuộc này, Francisco viết, lần đầu tiên anh ấy thấy nhớ nhà.

Nửa sau của lá thư mô tả rõ hơn về cuộc sống thường nhật ở gia đình Villanueva. Nơi họ sống không hẳn là một khu dân cư mà đúng hơn là tuyển tập các căn nhà ngẫu nhiên đều hướng mặt về cùng một con phố. Lũ trẻ được phép chơi ở sân sau hay lối lái xe vào nhà, nhưng tuyệt không phải là sân trước. Không ai có thể lý giải tại sao, nhưng đơn giản là không được. Mọi người chỉ di chuyển bằng xe hơi; đi bộ là bị coi thường, cộng đồng chỉ chấp nhận trẻ con đi bộ, có thể, nếu chúng dắt chó đi kèm. Gia đình Villanuava không nuôi thú cưng. Thật ra cũng chẳng có chỗ nào quanh đó mà đi. Một trạm xăng hai trụ bơm nằm cách đó một dặm trên Quốc lộ 31; điểm thu hút của nó gồm một điện thoại trả tiền và một giá bày tạp chí.

Con nhà Villanueva, Marisa và Jack, lần lượt mười lăm và mười tuổi, trông đã thấy là chúng không nói tiếng Tây Ban Nha. Ngôn ngữ này không làm chúng hứng thú, và bố chúng, người nhấn mạnh với anh trai tôi rằng hãy gọi ông ấy là chú Julio chứ không phải ông Villanueva, coi đó là thất bại lớn nhất của chú ấy trên cương vị làm cha mẹ. Đó là lỗi của chú ấy, chú ấy thừa nhận với Fracisco, vì đã cưới một phụ nữ Mỹ. Tổng thể mà nói, mọi chuyện đều tốt. Nói tiếng Anh với bọn trẻ nhà Villanueva, ban đầu thì hơi thử thách, giúp anh trai tôi học tiếng nhanh hơn. Ở trường, không ai nói tiếng Tây Ban Nha, kể cả thầy Señora Rickerts, ông thầy người Tây Ban Nha thân thiện và tốt bụng. Francisco không học cùng Marisa, như ban đầu đã dự định rõ ràng. Chị ấy học ở một trường tư đắt đỏ, nơi Francisco không đủ điều kiện tài chính ghi danh, nên thay vào đó gia đình Villanueva cho anh ấy học ở Berry, một trường trung học công lập, với bọn nhà quê. Từ cuối cùng ấy, Francisco giải thích, đó là một từ thô lỗ tương đương với campesinohay cholo, nó chỉ hướng tới người da trắng ở nông thôn. Anh ấy học nó từ chị Marisa, và được bà Villanueva khuyên là không nên dùng từ đó nếu anh ấy còn muốn kết bạn. Bố tôi thấy phần này đọc rất hóm hỉnh. Đáng chú ý làm sao, bố nói, con gái nhà Villanueva không nói tiếng Tây Ban Nha nhưng bằng cách nào đó lại nhập khẩu chủ nghĩa giai cấp của cha nó tới Bắc Mỹ! Thật éo le, bố tôi ghi chú lại, rằng con trai ông nên học tập tinh đoàn kết vô sản ngay dưới thắt lưng đế quốc!

Bố mẹ tôi đọc đi đọc lại lá thứ trên bàn ăn, lần lượt cười rồi chìm vào im lặng lo lắng. Trong mấy tháng đầu, tôi nhớ rằng họ đã băn khoăn thành tiếng rằng liệu họ có phạm sai lầm khi gửi anh ấy đi không. Đó là ý tưởng của ai? Và Birmingham là ở đâu cơ chứ? Đó là một thành phố hay một thị trấn? Một ngôi trường kiểu gì mà lại tên là Berry?

Họ viết thư hồi âm, giục Francisco gửi ảnh. Một tháng trôi qua, và lá thư kế tiếp có kèm theo duy một bức ảnh. Chúng tôi thấy Francisco cầm dù và mặc áo mưa màu vàng, đứng kế bên hòm thư ở trước cửa nhà Villanueva, một cuộn mây nặng chịch màu tím trên cao. Sân trước dốc đến quái đản, và Francisco đứng trên một cái mép xiên kì cục. Anh ấy béo lên—bạn có thể thấy rõ ở cằm anh ấy—còn tóc thì mọc dài ra. Khuôn mặt nó đang thay đổi, mẹ tôi nói. Thằng bé đang lớn.

Trong lá thư thứ ba, những cơn mưa đông đã trở thành mưa xuân, tức là vẫn thế, chỉ có ấm hơn lên. Bão tố loang ra như những vết mực băng qua bầu trời. Trong những ngày nắng sau cơn mưa, khu rừng phía sau khuôn viên nhà Villanueva trông như thể tắm tưới trong ánh sáng. Mọi người nói rằng đó là một năm ẩm ướt khác thường. Francisco không quan tâm—anh ấy mê tít thời tiết này. Những chuyện khác mới khiến anh ấy phiền lòng. Mùa xuân năm ấy, Francisco thất vọng tràn trề vì đã rất nỗ lực trong đội bóng đá trường Trung học Berry, và ba trận liền phải ngồi trên ghế dự bị, chứng kiến mọi chuyện diễn ra mà không có mình góp sức. Anh ấy bỏ luôn để phản đối, và, thật đáng ngạc nhiên, chẳng ai năn nỉ anh ấy quay lại. Họ còn chẳng buồn nhận ra. Người Mỹ, anh ấy viết, chẳng hiểu gì về bộ môn này cả. Vấn đề sau đó không được nhắc tới nữa.

Trong lá thư thứ tư, thời tiết đã thay đổi; gió nhẹ, miên man dễ chịu bị chấm dứt ngay lập tức và sau đó là những ngày nóng nực bất ngờ. Năm học sắp kết thúc. Anh ấy không còn phàn nàn gì về trường Berry và các bạn học của mình, những người nói thổ ngữ làm anh ấy chỉ hiểu lơ mơ. Thay vào đó, anh ấy dường như đã ổn định cuộc sống. Mỗi tuần, Francisco đều tới lớp tiếng Tây Ban Nha và hướng dẫn các bài tập nói chuyện với các học viên người Mỹ, và vài người trong số đó đã chọn anh ấy làm giáo viên hướng dẫn lâu dài. Một du học sinh trao đổi từ Mexico City năm ngoái học ở trường Berry, quyến rũ bọn con gái Alabama và làm đảo lộn sâu sắc định kiến vốn có—cậu ta không mặc áo choàng lồng đầu, ví dụ chẳng hạn, và thực lòng đam mê nhạc punk. Cậu ta cũng để lại một di sản văn hoá dân gian những lời chửi bậy: panocha, no manches, và pinche guey. Francisco viết rằng anh ấy cân nhắc trách nhiệm của mình phải dạy cho những người da trắng nói tiếng Anh tội nghiệp ấy cách chửi bậy có phẩm giá, và điều này, theo như những gì anh ấy kể, là kiến thức ngôn ngữ duy nhất mà họ thực sự thèm khát. Anh ấy chỉ cho họ những từ quan trọng, kiểu như mierda, culo, và pendejo, trong khi đó giới thiệu cho những học viên giỏi hơn cách sử dụng gần như vô tận từ huevo(huevónhasta las huevashueveohuevearse hueveó la huevada). Bố mẹ tôi rất tự hào: “Con trai chúng ta dạy học,” họ nói. Những bức ảnh gửi kèm với lá thư chụp ở gần hồ Logan Martin, gia đình Villanueva có một căn nhà nghỉ cuối tuần ở đó. Mặt trời phản chiếu lấp lánh trên mặt nước, những bộ áo tắm treo thẳng hàng, chơi ném đĩa Frisbee chân trần trên bãi cỏ mới cắt. Vào mùa hè, Francisco có thể học lướt sóng.

Đó là lá thứ đầu tiên mà anh ấy quên không hỏi thăm mọi người trong nhà.

Năm đó—năm duy nhất mà anh ấy viết thư đều đặn cho chúng tôi—những bức ảnh phần lớn chỉ có mình Francisco. Thỉnh thoảng, anh ấy chụp với gia đình Villanueva: chú Julio, vợ chú ấy, cô Heather, và hai đứa con tóc đen, da ngăm ngăm của họ, trông mấy đứa này thì quả là chúng nó nên biết nói chút gì tiếng Tây Ban Nha. Một lần, Francisco gửi tấm ảnh nhà thi đấu thể thao của trường Berry, chẳng có gì đáng chú ý ngoài kích thước. Cả trường trung học, anh ấy viết, sẽ sớm bị san bằng và thay thế bởi một tổ hợp lớn hơn ở xa ngoài vùng ngoại ô. Mọi người đều háo hứng chờ mong, nhưng anh ấy sẽ không ở đó để chứng kiến. Anh ấy không định ở lại Alabama; về điểm này thì anh ấy rất rõ ràng.

Chúng tôi cuối cùng cũng có một tấm ảnh vài người bạn Mỹ của Francisco sau vài tháng đầu, và có lẽ điều này đã cho chúng tôi manh mối về khao khát muốn chuyển đi của anh ấy. Khi ở nhà, Francisco luôn là một phần của đám đông nổi bật, tâm điểm của một nhóm bạn thất thường, sôi nổi lúc nào cũng khoái rắc rối, âm nhạc và bọn con gái. Ở trường Berry, anh ấy ở bên lề của mọi chuyện, một thành viên của mấy đứa gầy gò bị bỏ lơ, hân hoan vì tìm thấy nhau trong hành lang đông đúc, lạnh nhạt của ngôi trường công lập rộng lớn này. Trong ảnh: một cậu người Hàn Quốc tên Jai, một thằng nhóc tóc đỏ tên là Anders, nó đéo nẹp cổ, và một đứa trẻ da đen yếu đuối tên Leon, cầm một chồng sách và trông hoàn toàn lạc lõng.

 

Francisco không hỏi thăm chúng tôi thì cũng tốt thôi. Bố mẹ tôi có thể không sao giải thích nổi. Hoặc có thể là họ không muốn giải thích. Một ngàn chín trăm chín mươi bảy là năm đình công của công chức nhà nước, chuyện này đặc biệt ảnh hưởng đến gia đình tôi, vì bố tôi làm việc ở Thư viện Quốc gia còn mẹ tôi làm ở Bộ Y tế. Bắt đầu từ tháng năm, tầm ấy Francisco đang học lướt ván. Đã có những lời đồn u ám về việc đổi tiền để thay thế cho đồng tiền sắp sửa bị mất giá vì lạm phát gia tăng. Mấy chuyện kinh khủng ấy chung tay thổi bay khoản tiết kiệm vốn đã cạn dần của chúng tôi. Cơn cuồng nộ của chiến tranh đè nặng trên đầu đất nước. Người lớn nói chuyện chính trị như thể đang nói về một cơn trọng bệnh trầm kha mà không thuốc nào chữa nổi. Cuộc bầu cử tổng thống đang diễn ra; không ai biết ai sẽ đắc cử, nhưng chẳng có phương án nào ổn cả. Bố tôi sụt cân và rụng tóc nhanh đến đáng sợ, sự căng thẳng đang bào mòn con người ông.

Thư từ chúng tôi gửi đến Hoa Kỳ không kèm ảnh, một nhượng bộ nho nhỏ cho tính sĩ diện của bố tôi trong những tháng phải nộp thuế. Họ cũng không đả động đến thực tế rằng Francisco phải đi học trường công lập vì học phí ở trường của Marisa đơn giản là vượt quá khả năng của chúng tôi. Hoặc chuyện bố mẹ tôi đã viết thư cho ông Villanueva xin khất tiền nhà và tiền ăn hàng tháng của anh ấy. Chắc chắn là bố mẹ tôi không kể cho Francisco rằng họ đã thấy xấu hổ ra sao khi phải làm vậy. Tôi ngờ rằng họ còn chẳng kể cho anh ấy chuyện họ sợ sẽ mất việc, và đang trao đổi với một luật sư về việc lấy quyền cư trú cho cả nhà để cùng nhau tới đó với anh ấy như một gia đình. Ở nhà, bố mẹ tôi nói về mấy vấn đề ngay trước mặt tôi (cứ như là tôi không ở đó vậy) nhưng lại không nhắc tới với anh tôi. Tại sao phải làm thằng bé lo lắng? Cước điện thoại quá đắt để lãng phí thời gian cho những chuyện không vui, với lại chẳng phải nó đã quá bận rồi hay sao, học tiếng Anh và dành những buổi chiều để nhảy từ bến tàu của gia đình Villanueva xuống làn nước tươi mát hồ Logan Martin?

 

Phần lớn tuổi thơ của tôi, hàng xóm bên kia đường là một cặp vợ chồng thân thiện, bác Alejandro và bác Luz. Họ già hơn bố mẹ tôi một chút, những người hàng xóm hiếm hoi không có con, không có chút khái niệm nào về những thứ bọn trẻ con thích. Họ vẫn thường ghé chơi, thường mang quà gì đó cho anh tôi và tôi—một cuộn dây nhảy, một cái chong chóng, đại loại thế.

Bác Alejandro có hai tai to và một nụ cười quái quái. Bác ấy mặc vét tối màu và thích nói chuyện chính trị đến tối muộn. Bác ấy là người tốt, bố tôi có lần nói với tôi như vậy, sự tử tế là điều không thể xem nhẹ, nhưng khi đề cập tới thế giới quan—bố nói một cách khá nghiêm nghị—”chúng ta đơn giản là không đồng ý với bác ấy.” Đến giờ tôi vẫn không chắc điều đó có nghĩa rằng bác Alejandro là kẻ phản động hay người cấp tiến. Đúng là những lúc rối ren. Bác Alejandro làm việc quá giờ dài hơi, hàng tháng trời mới lại ghé chơi, trong khi bác Luz vẫn thường tới tán gẫu với mẹ tôi hay chơi với anh em tôi. Và khi cả bố lẫn mẹ tôi đều bận việc muộn, Francisco và tôi đôi khi ở bên nhà bác ấy hàng giờ liền, say sưa chơi tú lơ khơ theo luật mà ba chúng tôi cùng nhau tự nghĩ ra, hoặc nghe bác Luz kể những câu chuyện đen tối, hồi hộp mà bác ấy ưa thích. Dường như trong gia đình bác ấy, những câu chuyện phiêu lưu táo bạo này có vẻ được rút tỉa nhiều từ những bộ phim cao bồi Hollywood, với những vụ bắt cóc ngoạn mục, những món nợ cờ bạc giải quyết bằng đấu dao, hoặc những hành trình ảm đạm dài đằng đẵng qua địa hình núi non khó quên. Cách bác Luz nói cho thấy rõ là bác ấy chẳng biết mình sắp nói gì tiếp. Không phải là bác ấy bịa chuyện, nghiêm túc mà nói—chỉ là những thực tế đó với bác ấy chỉ đơn thuần là điểm khởi đầu cho câu chuyện.

Bác Luz chế lại tất cả những trò mà chúng tôi chơi, không bao giờ xin lỗi, còn chúng tôi cũng chẳng mấy bận tâm việc để bác ấy thắng, dù là chơi tú hay đô-mi-nô hay trốn tìm; thực ra, chẳng có cảm giác nhường nhịn tí nào cả. Anh trai tôi, người vẫn thường chủ động giữ khoảng cách với tôi và tất cả những gì dưới tuổi dậy thì, chùn bước trước bác ấy, trở thành, cứ như là phép màu, một phiên bản hiền lảnh tử tế và trong sáng hơn của chính anh.

Bác Luz thường để chúng tôi xem hoạt hình một tiếng đồng hồ trong lúc bác ấy nghỉ ngơi trên trường kỉ, một tay vắt lên mặt. Chúng tôi nghĩ bác ấy ngủ, mệt mỏi vì chơi thắng nhiều quá, nhưng hễ mỗi lần tới bản tin thì bác Luz sẽ bật dậy như một tia chớp, che mắt chúng tôi lại, và bắt chúng tôi lấy tay bịt tai. Thời sự những ngày này không dành cho trẻ con, bác ấy luôn nói vậy, và tôi tin lời bác. Nhưng rồi sau đó, khi tôi mở mắt ra và chớp chớp mắt tràn trề hi vọng, chờ hoạt hình tiếp tục phát, Francisco sẽ nói, “Mày thấy không, thằng em? Đó là lý do vì sao tao sẽ ra đi.”

 

Không lâu sau khi Francisco đi, bác Alejandro chuyển đi. Chuyện này xảy ra mà gần như không ai nhận thấy, dù sự thiếu vắng những tình tiết cụ thể sẽ sớm bị áp đảo bởi sức mạnh suy diễn hợp lực của những người hàng xóm: bác Alejandro bỏ đi với cô thư kí của bác ấy, với người giúp việc, với con gái của một trong những đối tác kinh doanh. Cô nhân tình, dù là ai đi chăng nữa, có bầu, hoặc biết đâu cô ta đã có con riêng, mà bác Alejandro đã đồng ý chăm sóc. Nghe có vẻ như cô ta trẻ hơn bác Luz nhiều, rằng bác Alejandro muốn, sau chừng ấy năm, được làm cha. Có vài người nghĩ rằng sự biến mất đột ngột của bác ấy có liên quan nhiều hơn đến chính trị, nhưng bố tôi gạt giả thiết ấy đi.

Vài tuần trôi qua cho tới khi bác Alejandro tới nhà tôi khi tối muộn một ngày nọ. Bác ấy muốn nói chuyện với cha tôi, riêng tư. Họ đóng cửa ở trong bếp với một chai pisco, và khi họ trở ra, vài giờ sau, rõ ràng là bác Alejandro vừa khóc. Đôi mắt bác ấy sưng húp còn hai cánh tay buông thõng bên hông. Mẹ tôi và tôi đang ở trong phòng khách. Tôi lẽ ra đang phải làm bài tập về nhà, nhưng tôi thực sự muốn xem chuyện gì sẽ xảy ra. Chẳng có gì. Bác Alejandro gật đầu ngượng ngùng với chúng tôi, trong khi cha tôi đứng cạnh bác ấy, chai pisco tron tay. Họ còn chưa khui nắp.

Ngày hôm sau, mẹ tôi làm rõ mọi chuyện một tí. Hoặc là cố gắng làm rõ. “Một vụ ngoại tình,” mẹ nói, “là khi một người đàn ông cặp vớimột người phụ nữ không phải vợ ông ta. Con hiểu không, Nelson?”

Chắc chắn là tôi có, hoặc ít nhất là tôi nghĩ tôi có. “Vậy còn một người phụ nữ cặp với một người đàn ông không phải chồng cô ta ạ?”

Mẹ tôi gật đầu. “Cũng thế luôn.”

Tôi có câu hỏi khác. “Cặp với”? Điều gì đó trong cách mẹ tôi nói cụm từ này cảnh báo tôi rằng đó là một ẩn dụ.

Và mẹ thở dài, nhắm mắt lại một lúc. Mẹ hình như đang nghĩ khá kĩ về những gì mẹ có thể nói, và tôi chờ đợi, căng thẳng, có thể nín cả thở. Mẹ tôi xoa đầu tôi. Thật là phức tạp, cuối cùng mẹ nói, nhưng có một điều tôi cần nhận thức, một điều tôi nên suy nghĩ và học hỏi ngay bây giờ, kể cả tôi vẫn còn quá nhỏ để hiểu được. Liệu tôi có muốn biết không? “Nó liên quan tới niềm kiêu hãnh của phụ nữ,” mẹ nói, và đợi những từ ngữ đánh đố ấy đọng lại. Nhưng không. Nó hoàn toàn mờ mịt, bí ẩn một cách thú vị. Vụ ngoại tình của bác Alejandro khác với những người khác, mẹ nói. Đúng, bác ấy bỏ bác Luz, và, đúng, thế là đủ tệ rồi. Quá tệ. Nhưng một người phụ nữ luôn kiêu hãnh, và ở một độ tuổi nhất định thì niềm kiêu hãnh này nhuốm màu nghi ngờ bản thân. “Phụ nữ già đi,” mẹ tôi nói với tôi, “và phụ nữ đồ rằng mình không còn xinh đẹp nữa.” Nhân tình mới của bác Alejandro già hơn bác Luz tới mười tuổi. Đó là những gì bác ấy thú nhận với bố tôi tối hôm trước. Một người đàn bà trẻ hơn thì còn dễ hiểu, thậm chí đúng như mong đợi, đằng này—đây không phải là kiểu xúc phạm và bác Luz có thể dễ dàng vượt qua.

Nhìn mắt mẹ tôi nheo lại, tôi biết chuyện này thực sự nghiêm trọng.

“Nếu bố con mà có làm gì như thế với mẹ, con nên gọi cảnh sát, vì sẽ có người bị đau. Con hiểu không?”

Tôi nói với mẹ là tôi có, khuôn mặt mẹ giãn ra thành một nụ cười.

“O. K., vậy thì, đi đi,” mẹ tôi nói. “Đi chơi hay gì đó đi.”

Những ngày sau khi Francisco chuyển đi, “đi chơi” thành ra mang ý nghĩa rất cụ thể: đi về ngồi trong phòng con, vẽ và sáng tác truyện đi. Tôi có thể dành hàng giờ như vậy, và tôi vẫn thường xuyên làm. Các kịch bản của tôi được xây dựng công phu, phần lớn là những ảo tưởng báo thù phi bạo lực, trong đó tôi (hay nhân vật mà tôi thủ vai) không có vẻ gì sẽ ở trong tình thế phải bao dung cho cuộc đời của đứa nhóc đã liên tục bắt nạt tôi. Lòng biết ơn của đứa đầu gấu sẽ được tô điểm bằng nỗi hổ thẹn, tự nhiên, và sự nhân từ của (nhân vật) tôi sẽ huỷ hoại hình ảnh tự thân của đầu gấu. Tôi thực hiện đi thực hiện lại bối cảnh này, không biết mệt mỏi là gì, đạt được khoái cảm từ việc xây dựng những nghịch cảnh không thể đảo ngược này.

Anh trai tôi đi rồi, căn phòng chúng tôi từng chung nhau đâm ra to hẳn lên, rộng rãi và sang trọng hơn lúc trước nhiều. Tôi đã trải qua cả đời mình ở đó, đã cam chịu mà không phàn nàn gì những mong muốn của anh tôi về các vấn đề trang trí, sắp đặt, âm nhạc, và ánh sáng. Ngay trước khi anh ấy rời đi, anh ấy nhe răng ra cảnh cáo tôi, đáng sợ theo cách mà chỉ mấy thằng anh mới làm được, không được đụng vào cái gì. Phòng trường hợp anh ấy quay về. Nếu tôi thay đổi bất kì thứ gì, Francisco nói, anh ấy sẽ biết.

“Bằng cách nào?” Tôi hỏi. “Làm sao anh biết được?”

Anh ấy quàng một tay qua người tôi, xiết quanh cổ tôi bằng sự tàn bạo vốn có mà anh ấy vẫn thường nhắm vào tôi. Tôi cảm thấy mặt mình chuyển sang màu đỏ; tôi bất lực. Ở tuổi lên mười và mười tám, chúng tôi về bản chất là hai giống loài khác nhau. Tôi sẽ không gặp lại anh ấy cho tới khi chúng tôi đều trở thành người lớn, những người đàn ông hoàn toàn trưởng thành đầy đủ khả năng bạo lực thật sự. Giả sử tôi mà biết thế, tôi có thể đã cố gắng trân trọng khoảnh khắc này, nhưng thay vào đó tôi lại cứ khiêu khích, thở hổn hển và cố mà hỏi thêm lần nữa, “Ừ, nhưng mà làm sao anh biết được?”

Francisco, hoặc những phiên bản của anh ấy, xuất hiện trong nhiều tác phẩm đầu đời của tôi.

Tôi viết lại lời mẹ tôi nói về niềm kiêu hãnh của người phụ nữ, và khi ở một mình với bố, tôi quyết định hỏi bố chuyện đó. Tôi không dám chắc mình diễn tả đầy đủ sắc thái, nhưng tôi truyền tài cuộc chuyện trò với mẹ bằng hết khả năng mình, kể cả thông tình tiết cuối cùng về cảnh sát.

“Mẹ nói thế á?” bố hỏi.

Tôi gật đầu, và bố tôi, thay vì làm sáng tỏ tình hình, chỉ cười. Đó là một tràng cười phá ra, sặc sụa, chảy cả nước mắt.

“Sao ạ?” Tôi hỏi. “Con nói gì à?” Nhưng bố không trả lời tôi, và, cuối cùng, khi bố lấy lại được sự nghiêm túc, bố ôm tôi rất chặt.

“Mẹ con là một người phụ nữ nguy hiểm,” bố nói, và tôi đủ lớn để hiểu rằng khi bố nói “nguy hiểm” có nghĩa là bố đang khen mẹ.

Trong khi ấy, bác Luz đóng rèm và hiếm khi ra khỏi nhà. Bác Alejandro chẳng bao giờ trở lại.

 

Vài tháng sau, chúng tôi được biết bác Luz đang lên kế hoạch đi du lịch Hoa Kỳ, tới thăm một người em họ của bác ấy ở Florida. Đang độ tháng sáu, khi cuộc đình công vẫn tiếp diễn, và bố mẹ tôi bắt đầu cảm nhận sâu sắc hơn sự căng thẳng. Chúng tôi hoạ hoằn mới thấy bác Luz trong mấy tuần kể từ lần bác Alejandro xuất hiện, nhưng bác Luz vẫn thường được nhắc tới, luôn luôn bằng giọng thương hại. Chắc chắn, cuộc chuyện trò vòng lại lời của mẹ tôi về cảnh sát, và bố tôi trêu mẹ chuyện đó, cho tới khi họ cùng cười. Tôi cũng cười thầm, để khỏi bị ra rìa.

Chuyến đi của bác Luz không thể đúng lúc hơn được. Nó được lên lịch cho tháng bảy, ba bốn tuần gì đó trước sinh nhật Francisco, lần sinh nhật xa nhà đầu tiên của anh ấy. Mẹ tôi muốn gửi cho Francisco một món quà, một vật kỉ niệm thôi, để anh ấy biết rằng chúng tôi nghĩ về anh ấy. Sau khi cân nhắc, mẹ mua cho anh ấy một cái cà vạt màu lam sẫm thêu logo của Thư viện QUốc gia. Bố tôi chấp thuận, nói rằng nó sẽ giúp anh ấy kiếm được việc làm tốt. Đó là một câu đùa, thật vậy; chúng tôi biết Francisco không ưa gì những công việc mà anh ấy có thể cần tới cà vạt. Cả ba chúng tôi kí vào một tấm thiệp; riêng phần mình, bố tôi viết một lá thư dài, tất cả được gói bọc chỉ chờ gửi đi. Một cách tự nhiên, không có cuộc nói chuyện vào về vấn đề tin tưởng dịch vụ bưu điện địa phương ở chỗ chúng tôi cho việc này, hay cho bất kì chuyện gì, thật vậy. Chúng tôi sẽ nhờ bác Luz xách tay và gửi nó qua hộp thư ở Mỹ. Có thể, mẹ tôi nói, bác Luz thậm chí còn trao tận tay được cơ, lịch trình của bác ấy nên có một chuyến ghé qua Alabama, và, cho tới khi bác ấy trở lại—kể cho chúng tôi nghe bác ấy thấy Francisco thế nào, suy nghĩ của bác ấy về triển vọng của anh ấy ở Hoa Kỳ ra sao.

Một chiều Chủ nhật, mẹ con tôi băng qua đường và gõ cửa nhà bác Luz. Bác ấy có vẻ ngạc nhiên khi thấy chúng tôi, và một chút bối rối, nhưng đồng thời vẫn ra dấu cho chúng tôi vào nhà. Ngay lập tức, chúng tôi bắt gặp vấn đề: không có chỗ nào để ngồi. Thời điểm nào đó trong vài tháng vừa rồi, phần lớn đồ đạc đã bị chuyển đi, và căn phòng, giờ trống một nửa, dường như thật cô đơn và buồn bã. Trong số mấy cái ghế còn sót lại, không có hai cái nào quay mặt vào nhau. Chúng tôi chậm rãi bước vào phòng khách, một cái TV nhỏ an toạ một cách kì quặc trên một cái ghế gỗ. Bác Luz gầy hơn so với trong trí nhớ của tôi, trầm lặng; bác ấy có vẻ như đã loạng choạng bước không chút ưu tư về phía tuổi già, như thể bác ấy chỉ mất có vài tuần để bù đắp cho mười năm tuổi đời chênh lệchvới người tình mới của bác Alejandro. Tóc bác ấy phai thành từng lọn màu vàng xám—bác ấy ngừng nhuộm tóc, sau đó mẹ tôi giải thích—còn da của bác ấy đã chuyển sang một cái gì đó xanh xao kém khoẻ mạnh. Mắt bác ấy, ngay cả trong ánh sáng tù mù, loang loáng và đờ đẫn. Bác Luz nói tôi đặt cái TV xuống sàn nhà.

“Để đâu ạ?” Tôi hỏi.

“Ôi, Nelson,” bác ấy nói. “Đâu cũng được.”

Tôi đặt nó cạnh chiếc ghế, bác Luz ra hiệu cho tôi ngồi lên đó.Tôi nhìn mẹ tôi cho chắc ăn. Mẹ gật đầu, và thế là ba người chúng tôi ngồi xuống, tạo thành một vòng tròn không mấy thân mật.

Bác Luz và mẹ tôi từng bước thực hiện các thủ tục của một chuyến thăm hỏi văn minh: những câu hỏi không nhạy cảm, chuyện phiếm chung chung, những câu chữ và cử chỉ thường thức nhằm lấp đầy không gian hơn là truyền đạt ý nào cụ thể. Tôi nghe chuyện mà thấy mẹ tôi với bác Luz không mấy gần gũi. Họ nói gượng gạo về một vũ trụ nhỏ những sự kiện chẳng ảnh hưởng tới cả hai: cuộc sống mờ ảo của xóm giềng, những người họ cùng biết nhưng không mấy quan tâm. Mẹ tôi có vẻ kiên quyết không đả động tới gia đình tôi, tới bố tôi, tới anh trai tôi, hay kể cả tôi. Thật là quá ư tử tế, như thể chủ đề gia đình mà được nhắc tới thì sẽ xúc phạm đến người chủ nhà đương cơn đau buồn của chúng tôi. Trạng thái căng thẳng giữ cho ngôn từ tiếp tục tuôn trào thật đáng ngạc nhiên, và tôi tự hỏi cần duy trì tình trạng này bao lâu nữa thì có thể đi tới điểm mấu chốt của cuộc thăm viếng, món quà cho Francisco. Mười phút? Hai mươi phút? Cả tiếng đồng hồ?

Bác Luz, khi nói, khi lắng nghe, nhìn quanh khắp phòng như thể đang tìm kiếm một ai đó không hề có mặt. Dễ đoán thấy một ai đó chính là bác Alejandro, nhưng tôi hiểu ra bằng bản năng rằng đó không phải vấn đề. Có rất nhiều người ở trong phòng cùng chúng tôi, dường như thế, một cộng đồng mà mẹ tôi và tôi không thể nhìn thấy: chủ yếu là những tay chơi trong cuộc đời bác Luz, những người không biết bác ấy trong nhiều giai đoạn thời thơ ấu, tuổi dậy thì, và tuổi trưởng thành, những khoảnh khắc của hạnh phúc, đổi thay, mong ngóng. Của ưu tư và sợ hãi. Dường như đối với tôi, bắc Luz đang tự hỏi, Làm sao mà mình lại đến được đây? Làm sao mà chuyện này lại xảy ra? Hoặc có thể, Những người này đang làm gì trong nhà mình, giờ đây họ phải nghĩ về mình? Và tất cả những gì bác ấy có thể làm là không hỏi to thành tiếng những câu ấy. Bác ấy đang nghiến răng, ép mình phải chịu đựng cuộc chuyện trò với mẹ tôi, một cuộc trao đổi giả tạo chẳng về điều gì, hi vọng sớm được quay lại với đoạn hội thoại quan trọng hơn còn dang dở với người khác, tuyển tập ánh nhìn lơ lửng của những kẻ quan sát. Tất nhiên, đó là giả thuyết của tôi. Mắt bác Luz đánh sang phía gần đó, vào khoảng không có vẻ trống trải ngay phía sau và chung quanh chúng tôi. Về phía cửa sổ, xuống sàn nhà, hướng lên trần.

Đến thời điểm, mẹ tôi lấy gói quà bọc đầy vẻ hội hè cho Francisco từ trong túi ra. Mẹ đưa cho bác Luz, bác nhận mà chẳng nói gì mấy. Tôi bị lỡ mấy phần đối thoại ở đoạn này, thay vào đó chỉ tập trung vào giây phút làm nên sự thay đổi trên nét mặt bác Luz: một nếp nhăn sắc nét ở khoé miệng bác ấy, hay đôi mắt bác ấy chớp liên hồi. Mẹ tôi giải thích đó là quà cho Francisco, rằng sắp tới sinh nhật anh ấy, thằng chúng tôi ngại nhờ vả nhưng chúng tôi hi vọng là không phiền gì. Liệu bác ấy có thể đem đi được không?

Bác Luz ngồi, vai xuôi, cổ cong xuống. Món quà đang ở trong lòng bác, qua ánh mắt mệt mỏi của bác ấy bạn có thể nghĩ rằng nó quả có một sức nặng đáng kể.

Tôi không chắc lắm làm sao mà tôi biết, nhưng tôi biết: bác ấy sẽ từ chối.

“Cái gì vậy?” Bác Luz nói.

Mẹ tôi mìm cười ngây thơ; mẹ chưa hiểu chuyện gì đang xảy ra.

“Một cái cà vạt.”

Đôi mắt bác Luz lại lơ đễnh, dõi theo một hại bụi nhỏ bé, hay hình ảnh đang biến mất của một người bạn cũ. Bác ấy xấu hổ vì bị người ta nhìn thấy trong cảnh này, và bác ấy sắp sửa xả lên đầu chúng tôi.

“Cô ổn chứ?” bác Luz hỏi.

“Chúng em ổn,” mẹ tôi trả lời. “Chúng em nhớ Francisco, hẳn rồi, nhưng chúng em ổn.”

“Còn vụ đình công?”

Nhắc tới chuyện này, mặt mẹ tôi tối sầm lại. Bố mẹ tôi đi trên đường dành riêng do những người đình công thiết lập để tới chỗ làm năm ngày một tuần, mệt mỏi vì nó, và, dĩ nhiên, có những mối đe doạ bạo lực tức thì, từ phía cảnh sát, từ những thành phần cấp tiến hơn trong công đoàn của họ. Bố mẹ tôi nói chuyện đó mỗi tối, đá qua đá lại trên bàn ăn, và sau đó, khi tôi buồn ngủ, tôi nghe thấy tiếng thì thầm lo âu vọng lên từ phòng ngủ của bố mẹ.

“Chúng em đang thích nghi,” mẹ tôi trả lời. “Chúa phù hộ, nó sẽ sớm qua thôi.”

Bác Luz gật đầu, với tay về phía bàn cafe. Bác ấy kéo ngăn kéo và lấy ra một cái dao rọc giấy. Chúng tôi nhìn, không biết chính xác thì bác ấy định làm gì, bác ấy vẫn nói liên tục, giữ nhịp chuyện không rời, một màn độc thoại về sự suy thoái đạo đức trong nước, về thế hệ mới sống không mục đích, và sự thiếu tôn trọng đến giật mình tới những quy chuẩn xã hội đã được thiết lập từ thời kì chúng ta còn là thuộc địa của Đế quốc Tây Ban Nha. Một thuộc địa? Đế quốc? Tôi nhìn mẹ cầu cứu, nhưng mẹ tôi cũng ngây ra chẳng kém gì tôi. Giọng bác Luz phảng phất nỗi buồn, một hơi thở tàn lụi, như thể những lời ấy tự bản thân là một phần của lời nguyện cầu hay than thở khẽ khàng mà bác ấy chẳng muốn chia sẻ với chúng tôi. Cùng lúc, tay bác ấy đi một đường chuyển động hoàn toàn hiệu quả cũng kì dị như bài diễn văn của bác: bác ấy giữ gói quà, và, không hề dừng phát biểu, dùng con dao rọc giấy cắt cái nơ màu đỏ mẹ tôi thắt. Nó rớt thảm hại xuống sàn nhà đầy bụi.

“Ôi!” mẹ tôi kêu lên.

Hệt như bác Luz vừa cắt vào người mẹ.

Rồi, bằng cạnh của con dao rọc giấy, bác ấy lột lớp băng dính trong mẹ tôi dán lên giấy bọc. Tờ giấy trượt xuống sàn, hạ cánh kế bên chân bác Luz. Bác ấy dùng cạnh giầy đá nó đi. Tay bác tiếp tục chuyển động.

“Thời buổi này chẳng tin được ai. Thay đổi quá nhiều so với khi tôi còn con gái. Tôi biết chúng ta là hàng xóm—thị trấn này bé xíu. Khi một thằng nhóc lảng vảng, bố tôi sẽ hỏi cậu ta là con ai, và đó là tất cả những gì bố mẹ tôi cần biết. Nếu họ không chấp nhận gia đình cậu ta, họ sẽ cử một người đầy tớ đến nói chuyện với cậu ta. Để đuổi cậu ra đi, cô hiểu chứ. Tôi chứng kiến tất cả từ cửa sổ phòng mình. Hồi ấy tôi rất xinh xắn.”

“Em chắc chắn chị rất xinh,” mẹ tôi nói, giọng mẹ đứt quãng, không giấu nổi mối quan ngại của mình cho món quà của Francisco. Cái hộp đã mở, tờ giấy mỏng màu trắng bị xé ra vứt lung tung, và cái cà vạt lủng lẳng trên đầu gối bác Luz, mũi cà vạt lẹt quẹt trên sàn nhà. Bác Luz mở tấm thiệp có chữ kí của chúng tôi, và mở lá thư của cha tôi trong lòng, nheo mắt nhìn dòng chữ viết tay như đang giải mã lời nhắn bí mật nào vậy.

“Có gì không ổn sao?” mẹ tôi hỏi.

Bác Luz không trả lời. Thay vào đó, bác ấy giơ cái cà vạt lên bằng một tay, rồi lấy ngón cái và ngón trỏ rà cẩn thận theo đường may, sờ nhẹ theo chiều dài mảnh vải. Bác ấy đã kiểm tra xong cái hộp và lớp bọc lót. Bác ấy đang tìm gì vậy?

Mẹ tôi nhìn trong lo lắng. “Chị đang tìm gì vậy? Có vấn đề gì sao?”

“Các người quê ở đâu?” bác Luz hỏi.

“Dạ?”

“Miền Bắc, miền Nam, miền Trung? Vùng núi, rừng? Chúng ta biết về nhau đến đâu, thật đấy, Monica? Tôi có biết cô làm gì không? Gia đình cô làm gì? Còn cái liên hiệp mà cô là thành viên, cái đang gây rối ở trung tâm thành phố? Cô kì vọng tôi sẽ lên máy bay đi Mỹ với một cái gói mà tôi không buồn kiểm tra ư? Nếu có chất gây nghiện ở trong thì sao? Nếu đó là cocainethì sao?”

Mẹ tôi sửng sốt. Sững sờ tột độ.

“Liệu tôi phải rũ tù ở Mỹ vì gia đình nghèo hèn của cô muốn đánh bạc bằng cuộc đời tôi sao?”

Mắt bác Luz mở to, mắt bác ấy trợn tròn, nhìn chằm chằm chúng tôi.

Mẹ tôi đứng phắt dậy, giật cái cà vạt và thư của cha tôi khỏi tay bác Luz. Tôi cúi xuống nhạt cái hộp, giấy bọc, và cái nơ, nhưng mẹ tôi kéo tay tôi. Mặt mẹ trở thành màu đỏ nhợt nhạt không tự nhiên.

“Bỏ đấy.”

Bác Luz trở lại như xưa, trong không gian cô độc mà bác ấy đã mắc kẹt hàng tháng trời. “Tôi nói gì sai à?” bác ấy hỏi, nhưng câu hỏi không dành cho chúng tôi.

Những căn phòng trống mờ nhoà đi khi chúng tôi rời khỏi đó. Trên đường ra, tôi cố tình đá một cái ghế, nhìn vào biểu hiện của mẹ tôi, tôi biết mẹ hoàn toàn không bận tâm.

 

Ngày hôm đó trôi qua và mẹ tôi vẫn ở trong tâm trạng bế tắc, tồi tệ. Hàng xóm vốn luôn hào hứng buôn chuyện, giờ quay sang xì xào về chúng tôi. Chúng tôi định gửi hàng cấm đến Mỹ, mọi người nói vậy. Ma tuý. Định lợi dụng một bà già khốn khổ với trái tim tan nát.

Đó là sự sỉ nhục mà chúng tôi phải chịu đựng vì lợi ích của Francisco. Chưa hết. Francisco rời khỏi Birmingham tháng mười năm đó, về sau chúng tôi mới biết tại sao: một buổi chiều Marisa bùng học lớp ôn thi S.A.T., và bà Villanueva về nhà sớm, phát hiện chúng đang sờ soạng nhau ở phòng TV tầng dưới. Đối với tôi, khía cạnh đáng kinh ngạc nhất trong chuyện này không nghi ngờ gì chính là việc gia đình Villanueva có một phòng xem TV ở tầng dưới. Phần còn lại của giai thoại—kể cả dấu hiệu dâm dục—khó mà sánh với được chi tiết đáng chú ý này. Bà Villanueva cho anh trai tôi một giờ đồng hồ để thu dọn đồ đạc. Đến khi chồng bác ấy về đến nhà, Francisco đã bị thả tới trước cửa nhà bạn Jai của anh ấy, vĩnh viễn bị trục xuất khỏi đời sống Mỹ ngăn nắp của gia đình Villanueva.

Hàng tháng sau khi anh ấy vượt qua chuyện này, chúng tôi vẫn tiếp tục gửi tiền cho nhà Villanueva để thanh toán nốt khoản nợ. Bố tôi gửi vài lá thư dài tới người bạn cũ Julio, xin lỗi vì hành vi của con trai mình, nhưng không có hồi âm, và, cuối cùng, bố buông xuôi khỏi việc cố gắng hành xử cho đúng. Tình bạn không bao giờ được hàn gắn, phải thôi, nhưng mà, ừ nhỉ, làm sao mà làm được? Hai người đàn ông gặp nhau từ những năm bảy mươi và chỉ gặp lại có hai lần suốt từ đó. Tình cảm dành cho nhau mà họ cảm nhận được là một cấu trúc gần như hoàn toàn chỉ có trên lý thuyết, dựa trên những kí ức xưa cũ về những trải nghiệm cùng nhau—không như giữa tôi với anh trai tôi, tôi đoán vậy. Một phần hoài niệm phai mờ, một phần niềm tin.

Francisco không bao giờ nỗ lực vào đại học, như cha mẹ tôi đã kì vọng. Anh ấy nhanh chóng chuyển tới Knoxville, nới anh bạn Leon của anh ấy theo học đại học Tennessee(1). Nhưng ngay sau khi chúng tôi nhận được một lá thư từ St. Louis (kèm theo một tấm ảnh Cổng vòm miền Tây(2)), và rồi một lá khác từ thành phố Kansas (cùng một tấm ảnh chụp ở bãi đỗ xe của một khu nướng thịt công cộng ngoài trời). Sự di chuyển liên tục của Francisco gây khó khăn cho bố mẹ tôi khi thực hiện thủ tục xin quyền công dân, mặc dù ở một thời điểm nào đó, tôi hình dung, họ hẳn phải nói với anh ấy kế hoạch của họ và hoàn cảnh của chúng tôi đang trở nên tuyệt vọng đến thế nào. Có lẽ anh ấy không hiểu. Hoặc có lẽ anh ấy không tiện nghĩ về chuyện này. Có lẽ điều anh ấy mong hơn hết thảy là quên đi bản quán của mình, bỏ lại tất cả mọi rắc rối và những mơ ước cháy bỏng ấy lại phía sau và trở thành điều mà hộ chiếu của anh ấy luôn nói về anh ấy: một người Mỹ.

 

Ngày nay mọi người nói nhiều về thực tế ảo, đời sống thứ hai, đại diện kĩ thuật số. Dĩ nhiên đó là khái niệm mà tôi hoàn toàn thông thạo. Mặc dù không phải chuyên gia gì sất và cũng không hứng thú lắm với máy vi tính, tôi hiểu nó một cách hoàn hảo; nếu không bàn về mặt kĩ thuật, thì nội dung cảm xúc phía sau những thứ được gọi là tiến bộ này dường như trực quan đến chân thực với tôi. Tôi sẽ nói một cách đơn giản: tôi dành tuổi dậy thì của mình chuẩn bị và thậm chí hiến dâng bản thân mình cho một đời sống tưởng tượng. Khi cha mẹ tôi xếp hàng chờ đợi ở Đại sứ quán Mỹ, tìm hiểu tất cả các đạo luật vầ quy định có liên quan để đảm bảo cho tôi được duyệt, tôi đặt mình bên cạnh anh trai tôi trong mỗi bức ảnh của anh ấy. Tôi theo sau anh ấy trong chuyến đi dọc nước Mỹ, luôn cố gắng quên đi tôi thực sự đang ở đâu.

Anh ấy sửa xe đạp ở ngoại ô Detroit; làm nhân viên chào khách tại siêu thị Wal-Mart ở Dubuque, bang Iowa; vận chuyển đồ nội thất ở Galveston, bang Texas; cắt cỏ sân golf phía rìa Santa Fe. Ở nhà, tôi đọc Kerouac và Faulkner, nghe Michael Jackson và Bestie Boys, tò mò tìm hiểu những phong tục Mỹ như lễ Halloween, lễ Tạ ơn, và trận Super Bowl. Tôi đưa ra ý kiến về nhiều vấn đề nan giải tầm cỡ quốc gia của nước Mỹ, những chuyện có vẻ giật gân, phù phiếm đến đẹp đẽ: đồng tính nam trong quân đội, một vị Tổng thống gặp rắc rối vì một cú thổi kèn.

Anh trai tôi bước sang tuổi hai mươi mốt ở Reno, bang Nevada, đánh bạc thua sạch đồng lương ít ỏi anh ấy kiếm được bằng việc dọn bàn ở một chuỗi nhà hàng Ý. Có thể nói anh ấy đang hạnh phúc. Đó là năm 1990. Anh ấy bây giờ là Frank, và đã rũ bỏ bất kì giọng phát âm miền Nam nào mà anh ấy có thể đã học được trong những tháng đầu tiên là thành viên chính thức của gia đình Villanueva.

Sáu tháng trôi qua, và chúng tôi được biết anh ấy đã bỏ lướt sóng để chuyển sang trượt tuyết; anh ấy đang làm việc ở một khu resort trượt tuyết ở núi Rockies, và gửi ảnh về, những bức ảnh panorama ánh sáng phản chiếu rực rỡ qua tuyết. Thật là cuốn hút và cực kì mang hơi thở nước ngoài. Anh ấy dành một trang để tả về tuyết—tuyết khô, tuyết ướt, tuyết nhân tạo, bụi tuyết—và tôi học được rằng mọi người có thể bị cháy nắng trong mùa đông vì ánh nắng phản chiếu. Tôi chưa bao giờ đoán được điều này là sự thật, mặc dù khi nhìn nhận lại thì nó có vẻ khá rõ ràng, và chỉ riêng thế thôi cũng đủ để làm tôi suy sụp. Còn điều gì mà tất cả mọi người đều dễ dàng nhận thấy mà tôi thì không? Còn những bài học nào, tôi tự hỏi, tôi bị tước đoạt ngay trong lúc này?

 

Ở trường, môn yêu thích của tôi là địa lý. Không chỉ riêng mình tôi, tôi nên nói thế. Tôi đồ rằng bất cứ người trẻ thuộc thế hệ nào cũng từng nhìn vào bản đồ thế giới với niềm khao khát hoà lẫn mạnh mẽ với sự băn khoăn; chúng tôi như những tù nhân bị cám dỗ bởi những lối thoát tiềm năng. Ngay cả thầy giáo của chúng tôi cũng cảm thấy như vậy; khi thầy đem bản đồ từ tủ chứa tới và treo nó lên bảng, có một tiếng thở dài nghe rõ mồn một từ dưới lớp. Chúng tôi bị mê hoặc bởi những điều khả thi; chúng tôi giả định các nước khác đều thịnh vượng hơn nước mình, an toàn hơn nước mình, và ở tỉ lệ này thì nước nào cũng trông như ở gần đến mức trêu ngươi. Tấm bản đồ được chuyền tay như báo khiêu dâm, và nếu bạn có cơ hội được ngồi xem nó một mình chỉ trong chốc lát thôi thì bạn có thể xem như mình đã gặp may. Khi đứng trước bản đồ Hoa Kỳ, trong tâm chí mình, tôi chấm từng điểm xuyên qua lục địa, những điểm đánh dấu nơi anh trai tôi đã từng sống và những thị trấn anh ấy từng đi qua trên đường tới nơi khác.

Tất nhiên, tôi không phải đứa duy nhất có người thân ở nước ngoài; có những ngày mà tất cả mọi người đều cố gắng bỏ đi. Những ông anh trai của chúng tôi xin học bổng ở những lĩnh vực mà họ không thích, chỉ để có cơ hội gia hạn thị thực ở những thành phố xa xôi giá lạnh. Những bà chị gái của chúng tôi cưới khách du lịch hoặc chuyển tới châu Âu làm việc trông trẻ. Chúng tôi là một đất nước bận rộn mải phát minh ra ông bà tổ tiên người Pháp, làm sai lệch giấy tờ tiếng Tây Ban Nha, mua chuộc các công chứng viên để làm giấy khai sinh giả từ các nước Slavic chẳng có gì tốt đẹp hơn nước chúng tôi. Gia phả được kiểm tra kĩ lưỡng—có người tổ tiên nào để khai thác không, ai đó với cái họ kì cục, nghe như tiếng nước ngoài ấy? Một tội phạm chiến tranh Đức Quốc xã nào đó trong quá khứ đen tối của gia đình bạn? Quá may mắn! Soạn đồ đi, các con—chúng ta sẽ tới Đức! Đó đơn giản là tinh thần thời đại. Những đứa trẻ người Nhật hướng về Tokyo, những đứa trẻ Do Thái hướng về Israel. Một cụ già Bồ Đào Nha ở rịt trong nhà, chẳng nói được câu nào mạch lạc suốt mười lăm năm, được trưng dụng và đưa tới kiến nghị ở Đại sứ quán; đột nhiên tất cả các cháu của cụ ấy chuyển tới Lisbon.

Cuộc đình công của công chức nhà nước không kéo dài vô tận. Nó kết thúc, hệt như tất cả mọi thứ kết thúc trong những ngày ấy, với một giải pháp khó chịu và tạm bợ: tất cả mọi người cắt giảm tiền lương nhưng không bị sa thải ngay lập tức, sự ngờ vực và đề phòng nổi lên ở tất cả các bên. Bố tôi đã tham gia cuộc biểu tình đỉnh điểm, khi một ngân hàng ở khu trung tâm cũ bị người của chính phủ thiêu rụi và hàng tá người biểu tình bị đánh đập và bắt giam. Bố tôi bị dính hơi cay và bị bắn bằng đạn cao su, và bố, như mười ngàn người khác, chạy trốn bạo lực như một kẻ điên, chạy hết tốc lực qua những con phố hỗn loạn của thủ đô, một miếng giẻ ướt bị ở mũi và miệng. Đó là, sau đó bố kể với tôi, khoảnh khắc mà bố nhận ra mình không còn trẻ nữa.

Cuộc bầu cử trong sợ hãi diễn ra và kết thúc; khủng hoảng càng trầm trọng. Vị Tổng thống mới tư nhân hoá mọi thứ, bán đất nước đi thành từng miếng từng miếng và chia nhỏ lợi ích ra cho bằng hữu của ông ta. Thoả thuận đình chiến đạt được vào cuối cuộc đình công bị phá vỡ, và trong năm kế tiếp, hàng ngàn người lao động, trong đó có cả mẹ tôi, thình lình bị mất việc. Mẹ tôi thất nghiệp hàng tháng trời. Giá cả leo thang, tiền tệ đổ vỡ, bạo lực lan tràn, và thế giới của chúng tôi trở nên rất nhỏ bé và rất bấp bênh. Chúng tôi chờ đợi trong hàng dài người chờ nhận thực phẩm, mang theo những chồng tiền giấy lớn đến không thể tin nổi, điều đã trở thành yêu cầu bắt buộc cho ngay cả giao dịch nhỏ nhất. Mọi người nói ít đi; người lạ không tin nhau. Phố xá, ngay cả trong giờ cao điểm buổi sáng, vẫn vắng vẻ đến khó chịu đối với họ. Chúng tôi nghe đài trong bóng tối và xuất hiện mỗi buổi sáng đầy sợ sệt, tìm hiểu xem bi kịch nào đã xảy tới với chúng tôi trong đêm.

Những cảm xúc này bây giờ nói thì khá là lạ lẫm, giống như một cổ vật bị cướp bóc từ một ngôi mộ cổ, một công cụ hình dáng kì lạ mà chẳng ai lý giải được công năng của nó. Nhưng quay lại hồi ấy, đi qua thành phố ảm đạm, đáng sợ, tôi luôn nghĩ về anh trai mình. Tôi mười tuổi, tôi mười một tuổi, không tự do nhưng đầy hi vọng; tôi mười ba tuổi, tôi mười bốn tuổi, và anh trai tôi đã trốn thoát. Mười lăm, mười sáu tuổi: chờ đợi điều gì đó xảy ra, đọc mê muội về một nơi mà tôi sẽ không bao giờ tự mình nhìn thấy, bằng một thứ ngôn ngữ tôi sẽ chẳng bao giờ thực sự cần. Hai mươi, hai mươi mốt tuổi: những thất bại nhỏ, mỗi lần làm nhục một mặc khải, lại thêm chứng tỏ rằng cuộc sống thực sự của tôi là ở nơi khác. Hai mươi lăm, hai mươi sáu: một nhận thức rõ rệt rằng tình trạng là công dân của Thế giới Thứ ba của tôi là lâu dài.

Và Fancisco không phải trải qua tất cả những điều này. Như một sự trừng phạt, tôi bắt đầu cố gắng quên anh ấy đi: tiếng cười của anh ấy, chiều cao của anh ấy so với tôi, nội dung của những cuộc chuyện trò mà chúng tôi nói với nhau sau khi tắt đèn, trước khi chúng tôi chìm vào giác ngủ.

Đương nhiên là tôi không bao giờ làm được.


(1) ND: University of Tennessee.

(2): ND: Gateway Arch, một cổng vòm hình parabol làm bằng thép không gỉ tại St. Louis, Missouri, Hoa Kỳ.

Copyright © 2010 by Daniel Alarcón.

ThKh chuyển ngữ không có sự đồng ý của tác giả.

———-

ThKh – 2019

ThKh là một bút danh khác của ChuKim, một người viết tự do, sống và yêu tại một ngôi làng mang tên thành phố. Nếu có thể, hãy ủng hộ và khích lệ bằng cách đọc và chia sẻ những gì anh viết trong khả năng của bạn. Xin cảm ơn.

– natchukim.cogaihu@gmail.com –

PS: Tất cả nội dung trong blog này đều được tuyên bố quyền sở hữu và quyền tác giả về nội dung, ngoại trừ những bài sưu tầm có đề rõ. Mọi trích dẫn, đăng lại, vui lòng ghi rõ nguồn. 

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s