Truyện ngắn: Anh em sinh đôi – C. E. Morgan

C. E. Morgan (1976-) là nhà văn người Mỹ. Bà đã xuất bản các tiểu thuyết All the living (2009) và The psorts of kings (2016). Bà hiện sống và làm việc tại bang Kentucky.

C. E. Morgan (Grafilu - newyorker.com).jpg
Minh hoạ: Grafilu – newyorker.com

‘Anh em sinh đôi’ (Twins) là truyện ngắn của C. E. Morgan được đăng trong tuyển tập 20 under 40 (2010) của tạp chí The New Yorker. 


Anh em sinh đôi

Thằng nhóc và đứa anh em sinh đôi của nó lớn lên trên những khu phố ở Northside, trong một thung lũng ngột ngạt,bị ô nhiễm bởi công nghiệp, nằm giữa khoảng từ khu đồi đại họchướng về phía Đông Nam và khu dân cư hướng về phía Bắc, đồi College,thật ra chẳng có trường đại học nào ở đó, ngoại trừ cái tên của nó, chỉ có những căn nhà màu trắng khiêm nhường ẩn hiện giữa vùng ngoại ô màu trắng. College Hill phá cách cả thung lũng, một ngón tay chỉ ra ngoài lòng bàn tay, hướng về phía Bắc, phía ngoài thành phố. Mẹ của thằng nhóc, Marie, là người đầu tiên trong gia đình tìm cách rời khỏi Over-the-Rhine(1) với tấm bằng phổ thông và bằng cao đẳng, cô dự định trở thành giáo viên—dạy dỗ lũ trẻ như dạy con của cô vậy—cho đến khi cô bị bệnh.  Cô không ốm đau gì khi chúng còn nhỏ. Cô cao ráo, dáng , chân nhỏ, ngực bự; cô để tóc xoăn tự nhiên buộc trong một cái khăn cuộn màu trắng. Son môi màu mận lẫn một lớp Vaseline phía trên. Hai thằng nhóc tựa đầu lên người cô, mỗi đứa gối lên một bên vú, và nhìn nhau qua khoảng cách ngực của cô, mỗi đứa lại nghĩ mình phe tốt hay xấu, tuỳ lúc.

C. E. Morgan - Twins.jpg
Minh hoạ: Mark Ulriksen – newyorker.com

Nhắc lại, khu thung lũng: Họ sống trong thung lũng, cách bờ sông bốn dặm, và mỗi khi nước dâng lên, như hồi năm 1884 và thêm cả năm 1937, con sông xám chảy qua huyết mạch thành phố và gây ngập khắp trái tim của Northside. Những người giàu sống ở khu Seven Hills tại Cincinati, khi trận lụt tới, họ nhìn xuống từ những quả đồi của họ, lấy đó làm phiền muộn lắm.

Ngay phía Tây khu dân cư của họ, nhà máy Harrogate hoạt động ngày đêm, không ngừng ra lò xà phòng, hạt nhân khuấy, clorua, silicat, sunfat, và, từ xưa xửa xừa xưa, mỡ lợn, cho tới khi khói bốc lên và hoạ thành một cái nắp đậy màu nhôm bay lơ lửng trên trời, làm cho thị trấn Mill Creek trở nên ảm đạm ngay cả trong những ngày trong lành nhất. Xe hơi luồn lách chạy qua làn sương khói trong buổi chiều mờ ảo, đi qua cầu cạn từ trung tâm thành phố và xuyên qua thung lũng tẻ ngắt trên đường tới ngoại ô. Thỉnh thoảng, mặt trời bẻ gãy những vết bẩn trong không khí, và tạo thành hàng trăm ngàn cầu vồng. Màu kem, màu hoa hồng, màu dưa cam, màu hồng cưới, màu trắng. Điều đầu tiên xuất hiện trong đầu Allmon khi chiếm được một khoảnh trời tí hin cho mình: Con muốn ăn nó.

Trong thung lũng, bệnh hen suyễn hoành hành, cả hai thằng nhóc đều khốn khổ vì bệnh này khi chúng còn bé, người chúng xoắn cả lại vì những cơn ho khi chúng đi dạo buổi tối xuống Đại lộ Hamilton. Mọi người trên phố nhận ra hai thằng nhóc, thấy chúng không hợp với những mảnh đất bỏ hoang và những cửa tiệm mặt tiền, khuôn mặt chúng ửng đỏ trong luồng sáng ô nhiễm, những lọn màu đồng-sulfit ánh lên trên mái tóc chúng. Chúng nắm chặt tay mẹ. Chưa ai từng nói cô xinh đẹp, nhưng cô trẻ và như thế tự nó đã là một kiểu đẹp. Những người lái xe về phía Bắc thi thoảng trong giây lát, tơ tưởng về mẹ của họ, về cái nắm tay của bàn tay khô nẻ ngát hương đã từng chở che cho họ. Những người khác thì nghĩ , gái da đen đẻ con sớm thật, khi Marie và các con trai cô đi bộ về phía Nam tới Phố Spring và Trace, khu nhà có căn hộ đầu tiên của họ, nơi đầu tiên mà lũ nhóc gọi là nhà.

Hai thằng nhóc sống trong một toà nhà ba tầng, có cửa ra hướng về phía Trace, nên khi chúng đứng ở sảnh nhìn ra ngoài qua lớp cửa kính, chúng chứng kiến cuộc bạo động của khu dân cư kế bên tràn qua. Bóng đổ của những con chim di cư bị nuốt chửng trong bóng của mấy chiếc xe hơi. Những khuôn mặt khác nhau của lũ con trai tuổi dậy thì, những người phụ nữ già cả ngồi xe đẩy, người cảnh sát hay nói chuyện với mẹ chúng khi cô quét đầu thuốc lá và lá rụng trên bậc thềm nhà mỗi sáng. Cô được giảm mười đô-la tiền thuê nhà cho việc này. Khi xong việc, cô đôi lúc tựa vào cán chổi, ở bên kia lớp kính lụa gợn sóng, chơi trò nói chuyện với hai thằng nhóc; chúng chẳng nghe thấy gì, chỉ nhìn thấy miệng mẹ mình chuyển động. Cô làm cử chỉ mặt, chúng làm cử chỉ mặt, và chỉ khi một trong hai thằng làm mặt báo động, rằng sắp khóc tới nơi rồi—thường đó là Allmon—cô sẽ mở cửa và trở vào trong.

Ở tầng trên, trong căn chúng cư một trăm năm tuổi, trần nhà khá cao, những cánh cửa kính vát kiểu Pháp dẫn tới một cái ban công hình bán nguyệt nhìn xuống phố, nhưng mẹ chúng dùng băng dính giữ cửa đóng—ổ khoá đã hỏng từ năm nảo năm nào. Chẳng có ai tới sửa. Hầu hết mọi đêm họ đều ngủ ở một cái đệm trên sàn phòng khách, vậy nên, khi chúng thức giấc trong làn ánh sáng trong vắt đáng kinh ngạc của buổi sớm chảy trôi qua mấy cái cửa sổ lớn, họ thức dậy như một gia đình.

Trong toà chúng cư này, mùa hè ập tới như một thảm hoạ Ai Cập. Marie kéo rèm để che bớt cái nóng kinh người. Cô cởi váy và đi lại quanh căn hộ trong độc mỗi chiếc quần lót, và khi cho hai thằng nhóc bú, cô đơn giản là ngồi khoanh chân trên sàn nhà như một vị Phật còm cõi, khổ hạnh, mỗi nhóc một bên đùi. Mấy cái cây cảnh rủ xuống trong không khí tối om, tấm rèm che nắng chẳng nhúc nhích lấy một inch. Hai thằng nhóc bị nóng tới phát ban, cô hạ nhiệt cho chúng bằng kem và hôn lên hai cái đầu mướt mồ hôi. Thi thoảng cô khóc khi chúng khóc vì những trận ho. Đây là các con của cô—cô ghì sát chúng vào người mình bất chấp cái nóng. Rồi khi chúng thiếp ngủ, cô khẽ hát một bài hát êm ái, rằng “Khẽ chào nhau, con đừng khóc, hãy ngủ đi, bé con ơi. Khi thức dậy con sẽ có những chú ngựa con xinh đẹp, đen và hồng, lốm đốm và xám, nài ngựa và sáu chú ngựa con, dịu êm.”

Thỉnh thoảng có một người đàn ông trong căn hộ. Anh ta là người da trắng, anh ta đến rồi đi.

 

Hai thằng nhóc sống trong căn hộ đầu tiên ấy cho tới năm 1984, khi mà, chúng mới vừa có nhận thức về đời mình, khi chúng bắt đầu biết mình là Allmon và Mickey, thì họ chuyển đi. Họ chuyển đi vì người đàn ông da trắng càng ngày càng ít xuất hiện, và khi anh ta đến thì thế nào cũng có cãi nhau. Anh ta không cao lắm—thấp hơn mẹ chúng—nhưng anh ta đẹp mã, có hàng ria mép màu nâu đỏ như một con cá ịn phía trên môi và một hộp đựng thuốc lá bằng bạc trong túi quần sau của anh ta tạo thành các gờ trắng trên chiếc quần jean. Nếu chúng mà đụng vào cái gói thuốc lá hình chữ nhật đó, anh ta sẽ đánh vào tay chúng, nói, “Coi chừng đấy.” Anh ta giống như khoang tắm khôvậy; nằm dựa vào người ông ấy sẽ thấy trống rỗng và hẳn rồi, sạch sẽ. Mẹ chúng đặt mấy cái gạt tàn thuỷ tinh màu xanh lá khắp nhà để khi tới thì anh ta chỉ việc với qua đầu lũ trẻ để tìm và gảy đầu thuốc lên mép thuỷ tinh. Chúng hỏi, “Bố đã đi đâu thế?” Và anh ta nói, “Bắc và Nam South Carolina, Georgia, Florida. Bố dành hai ngày ở đảo Lady’s Island. Các con biết ở đó có gì không?” Chúng không biết. “Các cô nàng (Ladies)!” Anh cười, chúng cười. “Và bố đi St. Augustine. Các con biết ở đó có gì không? Toàn những thứ mà các con chả biết quái gì cả.” Chúng ngủ trong lòng ông, nhưng trước khi tâm trí chúng chìm vào cơn ngủ, đứa ra sau chỉ ba phút, Allmon, quan sát bố nó, người đàn ông này như một tượng đài vậy: ngực làm bằng đá cẩm thạch, mái tóc dài sẫm màu, mũi ngắn, môi mỏng, mắt màu xanh lục. Và giọng nói của một miền nào đó. Bố nó nói, “Các con là những đứa trẻ kì lạ.”

Anh ta luôn đến thăm mà không báo trước, và bây giờ cả những tấm séc cũng vậy, trở nên thất thường, rồi mấy cái hộp bắt đầu chất đầy ở giữa phòng khách. Những cái nồi không quai được đóng gói, sau đó đến mấy cái chậu trồng cây lô hội và cây chua me và rất nhiều giày nhỏ tin hin trở của hai thằng nhóc, còn mẹ chúng thì ngồi trên chiếc trường kỷ kẻ sọc, hai tay ôm đầu, ngón tay đan sâu vào mái tóc. Allmon bám lấy đùi mẹ. “Mẹ ơi, mẹ, sao thế ạ?” “Không sao cả.” “Mẹ, sao thế ạ?” “Không sao, mẹ không biết.” Rồi cô ngước lên, mắt cô ghim chặt vào thằng nhóc với sự hung dữ mà thằng nhóc chưa hề biết sợ. “Mẹ không thể để mất thêm ai được nữa. Mẹ không thể tự mình làm được chuyện này.”

Rời khỏi căn hộ chúng cư của họ trên phố Trace, hộ xuôi xuống bảy con phố kịch về phía Nam của khu dân cư, khu cuối nghèo hơn, chỗ cái cầu cạn băng qua con rạch nước thải chảy từ Mill Creek tới Knowlton’s Corner, một cái ngã năm, nơi mà thương mại đã trở nên sôi độngtừ một trăm năm mươi năm trước đến nỗi mà vào ngày Chủ Nhật nào đám đông cũng tràn ra vỉa hè và những người đi mua sắm buộc phải đi bộ dưới lòng đường khi họ lướt qua quầy bán thịt, quầy văn phòng phẩm, quầy tạp hoá, người thợ mộc đóng quan tài, nhà thuốc, mọi tâm hồn đều vai kề vai. Khi thành phố phát triển, người dân chuyển lên phía Bắc, lên đồi, và đầu phía Nam của khu dân cư chỉ còn những người lao động da trắng nghèo, rồi sự trộn lẫn diễn ra, rồi chủ yếu là người da đen, và thành phố coi Knowlton’s Corner chỉ còn là một nơi thuộc về dĩ vãng. Giao lộ giờ đây héo mòn và cũ kĩ như một chiếc bánh xe gỗ, các đỉnh bánh xe lấm tấm đầy những mẩu kính vỡ, mẩu tàn thuốc và dầu loang, trung tâm bánh xe thì trở thành nơi đóng đô của một tiệm quần áo rách rưới, một cây xăng, một cửa hàng hamburger White Castle, và một tiệm tạp hoá Garvey’s. Mẹ lũ nhóc thuê một căn hộ hai phòng bên trên cửa hàng Garvey’s, chỗ này nhỏ, ồn ào chói tai những âm thanh mà mấy thằng nhóc sẽ liên hệ với cuộc sống: tiếng rên rỉ quái đản của còi báo động, giọng gọi nhau của đàn ông, những chiếc xe buýt Metro đi qua phố, chó sủa, trẻ con nô đùa la hét. Vào tháng bảy, hai thằng nhóc nhìn xuống từ cửa sổ khoang phòng đua ra và hú lên sung sướng khi thấy đoàn diễu hành Ngày Quốc khánh đi qua. Mùa đông, tuyết chuyển sang màu xám như tàn thuốc lá khi chạm xuống mặt đường. Và trong căn hộ, Allmon hỏi, “Bố sắp về ạ?” Còn mẹ nó cứ nói, “Ừ, con ạ.” Nó đã học cách chờ đợi trước khi nó hiểu chờ đợi là gì, học cách mong muốn trước khi nó biết từ ngữ để nói ra mình muốn gì.

Rồi tới một ngày, như thể là kết quả sự chờ đợi mong ngóng của thằng nhóc chứ chẳng phải tình huống phải như vậy, bố nó lại xuất hiện và bế cả hai đứa—mỗi tay một đứa—rồi quẳng chúng lên ghế sau của một chiếc Valiant màu vàng rồi lái xe đưa chúng tới chỗ nào đó trong thành phố mà Allmon chẳng bao giờ định vị lại cho chính xác nổi. Đâu đó trên khu đồi đại họcquanh Fairview, cùng khung cảnh con sông rộng mở trước mắt. Allmon sau đó không nhớ rằng nó đã bám vào cái tay cầm crôm ở xe, khóc đòi mẹ, bố nó kéo nó đi, nói, “Ôi giời ơi, đừng có làm ra vẻ như bố sắp giết mày nữa,” trong khi Mickey chẳng khóc tẹo nào, lúc nãy đã chạy lên trước về phía khu rừng, đế đôi giày màu đỏ của nó sáng lấp lánh. Bố chúng đưa Allmon đi qua một cái hàng rào lưới thép mắt cá, băng qua một đường hầm thấp đầy cây dại và gai, Allmon sụt sịt trên vai bố nó miết, bố nó nói, “Yên nào! Mày không muốn thấy chỗ bố thường đến chơi khi bố còn nhỏ à? Hồi ấy bố ở đây vui lắm.” Rồi, khi họ tới đài quan sát rải rác hoá thạch, “Mickey, lùi mẹ mày lại khỏi mép ngay!” Mickey vội thối lui khỏi chỗ măng đá, còn Allmon thì bám chặt lấy cổ bố như một chú gấu con bám lấy thân cây.

“Bố đã ở đây trong hai năm trung học, thay vì ở Toldeo,” bố chúng nói. “Bọn bố thường hút thuốc ở đây và đéo ai dám làm phiền, chúng mày biết tại sao không? Bởi chúng mày cặp kè với bọn da đen, đéo ai dám ho he luôn. Nói ít hiểu nhiều. Bọn bố hay làm mấy trò điên điên ở đây. Nhìn kìa—một con tàu chạy hơi nước.” Bố nắm cằm Allmon trong tay và xoay đầu nó về phía khoảng không. “Nhìn kìa,” bố nó nhắc lại, và nó nhìn, tất cả những gì nó nhớ được là dòng sông trông như một con rắn, hầu như chẳng có thành phố nào cả—nhưng quả là một thành phố!Một bà hoàng trỗi dậy từ bảy ngọn đồi bên dòng Tiber của bà ta, tạo thành hình cung tròn của chiếc vương miện. Một khung cảnh đô thị lổn nhổn những sắt thép, gạch và thuỷ tinh, cùng sự rực cháy rạng rỡ xua tan màn đên của nó, xa hơn nữa, nỗi băn khoăn, biên độ lịch sử của Kentucky, âm giới ấy.Đây là Cincinnati—thủ phủ của thịt lợn, thành phố Mỹ thực sự đầu tiên—ngổn ngang trước mắt của hai thằng nhóc dưới sự bảo bọc nhất thời của tay Mike Shaughnessy, tài xế xe tải,  một gã Sở Khanh nửa mùa, đầy con rơi con vãi, một tay hậu duệ của dân Ailen nghèo mạt, hồi đi học thì mang tiếng là thằng Ailen chết tiệt chó đẻ. Người đàn ông mà mẹ chúng không may đã phải lòng—kết thúc và bắt đầu và ở lưng chừng câu chuyện. Hai đứa nhóc, một đứa da tối màu và một đứa thì da sáng, nhìn xuống về phía thành phố và dòng sông màu nâu dường như quá sâu quá rộng cho chúng bơi lội nhưng mà, ờ, trẻ con mà, thì cứ bơi lội thôi.

 

Linh cảm đầu tiên: Cô xoay thằng bé quanh một cung rộng trong giây lát thằng bé thả lỏng người, nhẹ bẫng trong không khí, không lên cũng không xuống mà hoàn toàn ngưng đọng, chưa bị trọng lực đè nén, và, ngay khi thằng bé ngã xuống, đôi tay cô như chiếc nôi ấp lấy cơ thể nó, giọng cô cất lên, “Bé con da đen của mẹ.”

Thứ hai: Một bà già truyền đạt một bí mật.

Họ nắm tay nhau đi bộ về phía Đại lộ Hamilton, Marie ở giữa, hai đứa nhóc ở hai bên, tung tăng theo gót mẹ. Nghi lễ mùa hè của ba mẹ con là vậy, họ đi kiếm những buổi bán đồ cũ ít ỏi trong khu dân cư. Hôm nay họ cần tìm vài cái xoong mới thay cho mấy cái cũ đã bị mất quai cầm từ lâu rồi. Nhưng, khi đi bộ, Marie mường tượng các con cô sẽ trở thành những người đàn ông thế nào; cô đọc cho chúng nghe số mệnh của mình.

“Trong quả cầu tiên tri,” cô nói, “Mẹ thấy mẹ sẽ trở thành một cô giáo. Mẹ sẽ sớm quay lại trường học thôi và lấy một tấm bằng. Mickey, mẹ nghĩ con sẽ là một . . . ngôi sao truyền hình, vì Chúa biết con thích được chú ý.”

“Còn con?” Allmon hỏi, nhìn lên mẹ nó.

“Ừm,” cô tìm ý.

“Một tài xế xe tải!”

“Như bố con ấy hả?”

“Vâng.”

Họ đi qua các quán bar trong khu nơi những khách chơi buổi lưng chừng sáng nheo mắt tựa mình lên các khung cửa với cái chai màu hổ phách trên tay. Các nhà thờ ở đây hẵng còn đương khoá cửa, những toà chúng cư cửa sổ mở tung để lấy thoáng, người ta phơi quần áo như treo mấy lá cờ nhăn nheo. Phụ nữ dựa lên bậu cửa sổ, hút thuốc bên những hàng dây phơi quần áo, lơ đãng vẫy tay với mấy thằng nhóc, buồn tẻ. Mickey nhiệt tình vẫy chào lại tới điên dại.

Marie lắc lắc đầu. “Lúc nào cũng phải à ơi.” Rồi: “Chỗ làm bây giờ của mẹ đấy,” và, vẫn nắm chặt tay, cô chỉ về phía tầng một của toà nhà từng một thời có hiệu thuốc của người Đức.

“Một cô giáo,” Mickey nói.

“Một nhân viên lễ tân,” cô nói, “cho nha sĩ. Một nha sĩ khoan những lỗ cũ to bự trong răng của con.”

“Mẹ không phải cô giáo à?”

Cô do dự, như thể cố quyết định xem phải phản ứng ra sao. Rồi một nụ cười bừng nở trên khuôn mặt cô. “Có buổi bán đồ cũ trên sân nhà ở kia kìa!” Họ lách qua dòng xe để băng qua vỉa hè bên kia đường, trên bãi cỏ mới nhú để rải rác quần áo đủ màu—áo sơ mi, mấy bộ đồ áo liền quần, váy vải tơ nhân tạo in hoạ tiết. Một bà già ngồi trên cái ghế xếp mây nhựa, khuôn mặt đầy vẻ suy tàn của sự sống. Phía sau, một ngôi nhà khổng lồ đang tựa vào lưng bà ta, thời gian đã bào mòn vẻ kì vĩ của nó, giờ đây, tuổi già của nó đi cùng nếp sơn bong và bám đen sạm, nó oằn xuống thấy rõ từ lớp mái vá víu cho tới hàng hiên trước nhà. Khi Marie tiến lại gần cùng hai thằng nhóc, bà già đứng dậy, hoặc là cố đứng dậy, nhưng lưng bà ấy bị còng, và bà ta nghiêng mình về phía trước đúng như một mụ phù thuỷ khi bà ta nhìn chằm chằm vào họ như là nhìn vào những ngọn cỏ mùa xuân mới vừa hé nhú, khuôn mặt lộ vẻ quan tâm. Tóc bà ta tết lệch một bên, bên còn lại để mặc tóc xoã thành lọn, như thể bà ta, vì lý do nào đó, đã bỏ cuộc giữa chừng.

“Chào bác,” mẹ chúng nói. “Trời hôm nay có vẻ nóng đấy nhỉ.”

“Ừ-ừmm,” bà già nói.

“Làm cháu muốn ngồi máy lạnh quá,” Marie nói, tự khép ngón tay làm quạt phẩy qua khuôn mặt.

“Ở đây lúc nào chả nóng,” bà già nói và làm một cử chỉ hờ hững qua vai hướng về ngôi nhà đổ nát, nhưng bà không ngoái lại phía ngồi nhà; đầu tiên bà nhìn xuống Allmon, rồi nhích lên tới Mickey.

“Vâng. Bác sống ở đây lâu rồi ạ?”

Thay vì trả lời, bà già lại nói, “Con cô đấy à?”

Marie không cần dõi theo ngón tay cong queo đang chỉ vào Allmon. “Vâng.”

“Đứa còn lại là người ta gửi trông à?”

Marie khựng lại một thoáng, rồi nhìn xuống Mickey. Một nụ cười cẩn trọng không lan tới mắt cô. “Không, nó cũng là con cháu luôn.”

“Ha!” bà già cười, nhưng, khi Marie không hưởng ứng, bà ta nhanh chóng nhìn hết Mickey tới Allmon, như thể cố gắng quan sát cả hai thằng cùng một lúc, và rồi bà ta nói, “Làm sao mà cô lại có một đứa con da trắng và một đứa con da đen bằng tuổi nhau vậy?”

“Sinh đôi ạ,” Marie khẽ nói.

“Ôi đời nào! Thật hả?” Bà già vừa kêu vừa cười, cặp lông mày luộm thuộm của bà ta nhếch lên nhếch xuống. “Cô đùa tôi à? Lại đây, lại đây, lại đây nào.” Và bà ta tiến về phía trước xuôi theo triền cỏ dốc, bước ngay lên mớ quần áo bà ta trải ra đó, đầu bà ta chỉ mấp mé ngang vai, và khi bà ta nói, “Tôi chửa bao giờ thấy chuyện gì như thế này cả!” Allmon kéo tay mẹ nó lại mạnh tới nỗi mẹ nó phải rít lên, “Au! Allmon, thôi!” Nó vẫn cứ làm.

“Chúng nó không lường được chúng nó khoẻ đến thế nào đâu,” bà già nói. Giờ thì còng mình về phía họ: “Chẳng có gì mà phải sợ cả. Bà không làm cháu đau đâu.”

“Nào,” Marie khẽ nói, siết tay, nhưng không lùi bước, nên hai thằng nhóc mắc kẹt luôn trước lời phán xét mà ngay cả chúng nó cũng cảm thấy sắp ập tới.

Đôi mắt thấu thị của bà già soi chiếu hai thằng nhóc khi bà ta đánh giá chúng; đầu tiên là Allmon, đứa quay lại và tựa trán vào mé đùi mềm mại phía ngoài của mẹ nó, rồi tới lượt Mickey, đứa chỉ nhìn chằm chằm vào mặt bà bằng vẻ cởi mở kì lạ như đón chào.

Bà già nói, “Nhóc da trắng này có mái tóc đẹp đấy.”

Lúc này, Allmon ngẩng mặt lên khỏi chân mẹ nó, và nhìn chăm chú qua mẹ về anh nó. Nó nhìn mái tóc, rủ mềm mại và gọn gàng trước quầng trán màu kem. Màu đen, nhưng chạm vào lông mày Mickey chỉ hơi gợn sóng, như thể chính tay mẹ nó đã chăm chút thành như thế. Rồi, bằng những cử động nhỏ nhất, Allmon quay mặt về phía đùi mẹ nó, để nó không phải nhìn mẹ khi bà già nói, “Ôi, cháu gái, cháu biết là bác sẽ hỏi mà,” nhưng nó cảm thấy mẹ gồng cứng cả chân lại. “Cháu làm chuyện đó với một anh chàng da trắng và một người anh em da màu cùng lúc à?”

Ban đầu, Marie chẳng nhúc nhích cũng chẳng nói năng gì, và Allmon cảm nhận mẹ nó tê liệt trong thoáng chốc lát, rồi nó giật mình thảng thốt khi mẹ nó biết họ phải đi hướng nào, quay đầu, và bắt đầu lôi hai thằng nhóc xuống vỉa hè về hướng cũ. Cô kéo chúng mạnh tới nỗi Allmon bắt đầu rên rỉ.

“Khồng? Bác không tọc mạch gì các con cháu cả!” bà già gọi sau lưng họ. “Lũ trẻ rất đáng yêu! Quay lại đi! Quay lại đi!” Bà ta cười khoái trá và quan sát dáng vẻ của cô gái trẻ khi cô thoái lui, chiếc váy vải batik của cô phấp phới, dép nảy tanh tách, mỗi tay kéo một thằng nhóc, ríu chân hết bước này tới bước kia, đứa da đen khóc như con gái, còn đứa da trắng thì ngoái nhìn với đôi mắt đen sâu thẳm.

Họ đi qua góc phố và một nửa dãy nhà, rồi Marie dừng phắt lại và thả Mickey ra để có thể thô bạo quệt nước mắt cho Allmon bằng vạt váy của cô, đôi mắt cô lấp lánh sự phản kháng. Cô nói, “Nín đi, Allmon. Mạnh mẽ lên. Mạnh mẽ lên nào.”

Sau lưng cô, Mickey nói, “Ai thế ạ?”

Mẹ nó lờ nó đi nên nó đấm vào chân cô một cái.

“Ai thế ạ?” nó hỏi lại.

“Chẳng ai cả, Mickey! Mẹ không biết!” Cô quay ngoắt lại nhìn nó. “Làm sao mà mẹ biết được hả?”

“Chẳng ai cả,” nó nói. “Bà ấy tên Chẳng Ai Cả.”

Marie chẳng hiểu gì mất một lúc. Rồi cô phá ra cười dữ dội tới nỗi cô thả Allmon ra và đứng thẳng lên, tay chống lên bờ hông rộng của mình và ngửa đầu ra sau. Mickey cười khi thấy mẹ nó cười trong khi Allmon, vẫn đang khóc, với lên người mẹ nó, thầm thì “Bế, bế”để mẹ nó quay lại.

 

Phía sau toà nhà, xuyên qua buồng thang ẩm thấp, là nơi Marie gọi là khu vườn xi măng, khoảng sân của họ,khoảng rỗng trung tâm ở giữa những toà chúng cư đã gần trăm tuổi đã tạo hình nên sân chơi của khối nhà. Các toà nhà vươn cao bốn mươi feet ở tất cả các mặt và tạo thành một vùng râm mát cho lũ trẻ trong khu dân cư nô đùa vào mùa hè. Một con chó giống Rottweiler bị xích nằm trường kỳ một góc, gác cái cằm màu caramel của nó lên hai chân trước mà ngáy. Sáng sáng bọn con gái ùa ra từ các toà nhà—một đứa lúc nào cũng trèo ra ngoài từ cửa sổ phòng bếp nhà nó—rồi chúng nó cãi nhau và nhảy nhót và hò hét và chơi nhảy dây cho tới khi mặt trời ban trưa hun nền xi măng thành một cái chảo rán. Rồi chúng túm tụm dưới một cái lanh-tô cửavà mút mấy cái kem cam Popsicle mua từ một ô cửa sổcho tới khi bóng râm hai giờ chiều đổ xiên qua sân chơi, và cuộc vui lại tiếp tục.

Trong cặp sinh đôi thì Mickey là đứa đầu tiên ra ngoài thám hiểm, trong khi Allmon cứ cảnh giác không chớp mắt từ cửa sổ phòng bếp trong nhà, ở tầng hai. Nó quan sát nửa còn lại của mình chạy trên nền xi măng nứt nẻ, nhìn bọn con gái tụ tập quanh thằng kia như bầy ong mật, quây lấy nó trong đám đông cho tới khi nó biến mất khỏi tầm mắt. Khi Mickey quay lại mười phút sau, hai má nó màu hồng, tóc nó rối nùi còn hai mắt nó thì đầm đìa những điều hư hỏng. Lần kế đó, Allmon đi cùng thằng anh. Nhưng ngay khi chúng thò mặt vào chỗ râm mát của toà nhà nó ở, một cảm giác phòng thủ xâm chiếm lấy nó đột ngột và thật chết điếng tới nỗi nó chỉ đơn giản đứng đó trên bậc đá, bấu chặt lấy khuôn cửa, nheo mắt nhìn đám con gái qua hàng mi. Chúng nó không nhận ra, nhảy nhót ý ới trong khi một con bé chân vòng kiềng chen lên trước, hai tay nó đậu lên cái hông gầy guộc, vòng hạt cườm của nó nảy lên nảy xuống kêu lách cách. Khi thằng nhóc quan sát, một nắm nhỏ giấy bạc rơi ra và hai hạt cườm lăn lông lốc xoay tròn trên nền xi măng.

“Tóc mày! Tóc mày!” bọn con gái gào lên, con bé đang nhảy bèn vọt ra khỏi phới lồng, hai tay ôm đầu, và rồi nó phát hiện ra thằng nhóc. Đôi mắt nó loé lên hứng khởi, và, với hai ngón tay véo chặt bím tóc, nó ré lên, “Hai thằng Oreo!”

“Hai thằng Oreo!” Bảy đứa con gái, một bầy vịt giời, tất cả nhễ nhại mồ hôi, bừng sáng và hồ hởi chen lấn, chọc vào người Mickey trong khi Allmon co rúm lại trong tư thế chân tay xoắn quẩy, nhưng con bé làm mất hạt cườm tiến lại gần nó, mỉm cười và vỗ lên đầu nó cứ như nó là một chú chó đáng yêu không bằng.

“Nhóc này mặt nó cứ như ông già,” con bé nói khi xem xét cặp lông mày rậm kì quặc, xương gò má góc cạnh, đôi má hóp.

“Danelle, sao lúc nào mày cũng nói chuyện như người da trắng quá vậy?”

“Tao không!” con bé khóc, tổn thương, vùng vằng.

“Có, mày có!” đồng thanh.

“Danelle muốn thành da trắng!”

“Tao không!”

“Mày có!”

“Tao muốn có em bé giống như bọn mày vậy,” một đứa con gái khác ngắt lời, bước lên trước, lờ đi sự trêu chọc. Con bé này là thủ lĩnh cao lớn bất thành văn của cả bọn và lời nói của nó chặn đứng cuộc cãi vã. Nó vẫn giữ đầu của sợi dây nhảy trong tay.

“Tao không phải em bé,” Mickey nói, hai má ửng đỏ giận dữ.

“Em bé!”

“Em bé!”

“Em bé!”

“Làm sao mà mày lại là da trắng nếu mày có mẹ da đen được?” một đứa nói.

“Tao không phải da trắng!” Mickey hét lên, xoay người tìm đứa phát ngôn.

“Đồ da trắng!”

“Bố mày da trắng à?”

Giữa những cánh tay, cẳng chân và những cái đẩu ngẩng lên ấy, đôi mắt Mickey tìm được Allmon, và nó nói, dõng dạc, như một lời thách thức, “Bố tao da đen.”

Con bé coi Allmon như thú cưng nheo mắt. “Bố mày có thật là da đen không?” nó hỏi, nhưng Allmon, dưới ảnh hưởng bởi bàn tay con bé, chỉ có thể ngước lên nhìn nó trong sự kính yêu tới đau lòng.

“Nhảy đi, nhảy đi!” một con bé mếu máo, và cả lũ cùng đồng thanh hô rồi chúng tổ chức lại đội hình và lại quay cái dây đơn và Mickey nhảy, hai đầu gối be bé của nó nhún lên nhún xuống, hai tay nó dang ra, khuôn mặt nhợt nhạt của nó bừng bừng tập trung.

“Đôi, đôi!” Cái dây thứ hai nhập vòng và Mickey nhảy từ chân này sang chân kia và đám con gái vỗ tay theo nhịp đôi chuẩn bị cất giọng hát khi ngón chân của Mickey vướng vào dây khiến nó bị bầm lung tung cả lên. Trong một lúc, đám con gái vây lấy nó nó, hò hét và hôn vào mặt nó, nằm đè lên nó, nó phải cào cấu cắn xé để thoát ra khỏi cái đám vô ý thức ấy, cảm giác hơi tội lỗi khi nó đứng lên và sẵn sàng bỏ chạy.

Allmon vẫn đang quan sát, Allmon đã sẵn sàng, và cho tới khi bọn con gái lại lần nữa hô, “Nhảy, nhảy!” thì lần này tới lượt nó bước lên phía trước—một chàng trai nhỏ đầy cơ bắp trong cái áo lót rách bét màu trắng, tóc nó bồng lên, mắt nó nhíu lại phía dưới lông mày. Môi thằng nhóc khẽ cười nhẹ tới mức không thể nhẹ hơn. Con bé đứng gần nó vỗ nhẹ lên giữa xương bả vai nó. “Nhóc này muốn nhảy!” con bé nói.

“Cho nó nhảy!” Và rồi thằng nhóc nhảy nhẹ nhàng trong vòng dây đơn, nó có thể nhìn đứa quay dây đang há hốc mồm sau mỗi vòng xoay, cái lưỡi hồng của con bé ấy rõ mồn một phía sau hàm răng sún. Nó nhìn thẳng vào mắt con bé, còn con bé thì nhìn vào mắt nó mỗi khi quay dây bằng tất cả sự tập trung cao độ.

“Tôi thích cafe, tôi thích trà,” chúng hát, “Tôi thích anh em Oreo nhảy với tôi! Nhảy dây!” Cả hai sợi dây đều đang quất. Allmon nhảy dồn dập và chơi xoay vòng hai lần, nó được reo hò vang dội, nó quả là giỏi hơn Mickey nhiều, vì nó đã đứng xem từ cửa sổ, quan sát đám con gái, ghi nhớ các thao tác chân của chúng. Bóng mây lướt qua sân chơi và đứa quay dây ngước nhìn, và khi cái cằm của nó ngẩng lên, Allmon nhận định chuyển động xuống thấp của sợi dây và giả vờ nhảy sai và bị ngã huỵch một cái và một tiếng “Ối!” giả tạo, rồi nó lộn mình nằm ngửa chờ đón, hai tay dang rộng.

Chúng vây lấy thằng nhóc. Chúng nằm đè người lên thằng nhóc và lấy tay chạm vào mặt nó, hôn nó. Hơi thở của chúng thật nóng còn miệng chúng thì dính dấp. Đôi cánh của chúng đập nhẹ vào thằng nhóc và nó cười lớn, những đám mây bay nhanh dọc theo sân xi măng đổ bóng lớn như những chiếc máy bay.

“Tên mày là gì?”

“Allmon.”

“Almond, Almond, Almond!”

Chúng hôn miệng thằng nhóc.

“Mickey!” Giọng mẹ gọi chúng nó. “Allmon!”

Bọn con gái nhảy lùi lại khỏi thân hình bẹp dí của thằng nhóc và Marie xuất hiện, nhoài người khỏi cửa sổ bếp, gọi xuống, “Đừng có làm phiền con tao!” Bọn con gái nhìn quanh sân, một đứa trong bọn trả lời, “Đâu có ai làm phiền ai đâu ạ,” và Marie nhoài ra còn xa hơn, “Đâu nằm đè lên con tao, hả? Thằng bé mới năm tuổi! Đừng có đụng tay vào người nó!” Vài đứa cười gượng. Rồi Marie hét lên, “Lũ kền kền!,” và bọn con gái cứ thế bỏ đi, tản ra như dây điện cắm vào từng toà chúng cư của tụi nó, nhưng, khi Allmon trông lên về phía mặt trời nơi mẹ nó đang nhìn xuống, mẹ nó mỉm cười. “Lên nhà đi,” cô nói. “Mẹ có tin tốt cho các con đây.” Khi Allmon mới ngồi dậy, vẫn còn cảm nhận được sức nặng của bọn con gái trên người nó, Mickey đã lên tới giữa cầu thang.

“Đoán xem nào?” Marie cúi xuống tầm mắt của bọn nhỏ khi chúng nó thở hổn hển chạy vào trong căn hộ.

“Sao ạ!” bọn nó thét lên.

“Đây là một điều ngạc nhiên! Đoán xem nào?” Cô kéo chúng lại, cười toe toét với đứa này, rồi đứa kia. Lúm đồng tiên của cô sâu tới mức nhét vừa một ngón tay trẻ con. Máu Allmon dâng lên; nó quá phấn khởi, nó nhảy lò cò một chân với vẻ mặt đau đớn, bàn tay nó như sắp rời ra khỏi cổ tay tới nơi.

“Bố sắp tới thăm và chúng ta sẽ tới lễ hội hoá trang Northside!”

“Aaaaa!” họ cùng rú lên và rơi nước mắt trong căn hộ, ôm ấp nhau từ trường kỉ tới ghế đơn rồi giường ngủ. Một cái cây đổ nhào, và Mickey trở nên nóng quá đà, nó ấn Allmon xuống giường, giáng nắm đấm của nó lên người thằng em. Marie chạy tới, quăng sấp mình xuống, hai tay mỗi tay vung lên một thằng, tách hai thằng đang thở hổn hển ra, giữ chúng lại.

“Giờ thì nói chuyện nghiêm túc nào,” cô bảo.

“Au,” Mickey kêu lên, cố vùng thoát.

“Nghiêm túc lại ngay,” cô nói, chúng nó vẫn thế. “Nào, các con biết bao lâu rồi bố mới tới không hả? Ôi, Chúa ơi,” cô nói. “Lâu vô cùng. Nhưng bố đang quay lại. Bố đang quay lại. Nên mẹ xin các con đấy. Allmon, Mickey, mẹ các con đang van xin các con đấy. Các con phải cố ngoan vào, bởi—“

Allmon nhìn mặt cô trở nên nghiêm trọng.

“—bởi mẹ cần gia đình này,” cô nói, chỉ hơn thì thầm chút xíu. “Sẽ không có gì là thật nếu thiếu người ấy. Vậy nên mẹ chỉ nói là các con hãy ngoan. Nếu chúng ta thực sự ổn, biết đâu sẽ làm cho bố ở lại một thời gian.” Cô ngả đầu xuống giường giữa hai thằng nhóc và đặt lòng bàn tay lên trán chúng. “Hãy ngoan nhất nhé!”

“Vâng!” Mickey khóc và tụt khỏi giường, văng mình quanh khung cửa. “Con ngoan nhất!” họ nghe thấy nó kêu.

Allmon và Marie nằm đó, lắng nghe tiếng thở của nhau. Rồi thằng con nói, “Con nhớ Bố,” và, khi Marie xoay người nằm nghiêng để nhìn nó, sự chân thậttrên khuôn mặt nó và cái hi vọng mong manh mà cô thấy trên đó khiến tim cô ngừng đập. “Mẹ cũng vậy,” cô nói.

 

Đôi lần thằng nhóc thức bở với tiếng còi báo động kinh khủng bắt đầu lặp lại liên hồi, những vệt xanh đỏ nháng lên trên tường phòng ngủ. Những đêm khác, tiếng hét làm nó không ngủ nổi: cặp đôi tầng trên, hoặc gia đình ở bên kia vườn xi măng, trên tầng ba. Mùa hè thì tệ nhất. Cửa sổ mở, tiếng hét là một thứ gì đó rất cụ thể, tựa như một cơn gió nóng trong phòng vậy—nó mơ về bọn phù thuỷ—cho đến khi nó bật khóc, toáng lên át đi tất cả, “Mẹee!”

Mẹ ở đó. “Allmon.” Giọng mẹ nghẹn lại vì kiệt sức.

“Con muốn đi.”

“Suỵ-t-t. Mẹ biết mà.”

“Người ta cứ hò hét.”

“Con phải vờ như họ không ở đó.”

“Họ ở trong phòng ạ?”

“Chẳng ai ở trong phòng trừ mỗi con với mẹ với Mickey thôi.”

Mickey thức giấc, nhưng không nói gì. Hai người có thể cảm thấy sự hiện diện của nó.

Tiếng staccato rống lên, theo sau là giọng một người đàn ông to khủng khiếp.

“Bế, bế.”

“Con nhạy cảm quá, Allmon. Con sắp đi học tới nơi rồi. Mẹ mệt chuyện này quá đi mất.”

Nhưng cô là mẹ nó, cô vẫn cứ ôm lấy nó. Cô siết lấy phần cơ thể thằng nhóc nằm trên chỗ đệm chùng xuống và nâng dáng hình cuộn tròn của nó lên lòng mình. Nó dụi đầu vào giữa ngực cô, hai tay nó bấu chặt lấy cổ mình.

“Đi khỏi đây, mẹ ơi,” nó nói.

“Đi khỏi đây là con muốn đi đâu?”

“Đến chỗ Bố.”

“Bố sắp về nhà rồi, con yêu.”

Một tiếng chửi bẩn thỉu văng qua vườn xi măng và Allmon bật khóc.

“Suỵ-t-t,” Mickey rít lên trong bóng tối.

“Suỵ-t-t,” Marie dịu dàng. “Ngủ lại đi con.”

“Họ nói bậy.”

“Con yêu,” cô nói. “Con phải vờ như họ đang hát.”

 

Anh ta đến vào một buổi sáng thứ Sáu, choán hết cả cầu thang với một chiếc hộp to tổ chảng trong tay, trong đó chứa một bộ đồ nấu bếp bằng thép không gỉ mới keng. Mẹ bọn trẻ đang sửa soạn chuẩn bị đi làm, nhưng cô ngừng lục lọi túi xách khi anh ta bước vào mang theo không khí mùa hè quanh anh, bước tới chào đón anh ta, và ngả người mình lên chiều dài thân thể anh ta. Hai thằng nhóc gần như không thể tự chủ được niềm vui của chúng. Khuôn mặt người đàn ông này, thật kì diệu sau một thời gian dài vắng mặt, mang tới phép màu, phép màu của chính chúng. Allmon chen vào giữa bố mẹ nó.

“Em sẽ về lúc năm giờ,” Marie nói và, với một ngón tay đặt trên ngực bố lũ trẻ, hỏi, “Có muốn em mua đồ ăn tối cho anh không?” Đôi mắt cô ấm áp màu hạt dẻ.

“Ừ,” anh ta nói, nhún vai. “Mua đồ ăn cho anh. Mua gì đấy ở tiệm Fìth Amendment ấy.”

“Bánh mì kẹp pastrami. Em biết anh thích mà.”

Anh nhăn mặt và đảo mắt. “Khồng. Mua cho anh burger đi. Anh chán cái thứ pastrami ấy lắm rồi.” Anh nhìn xuống hai thằng nhóc, cười toe toét giả lả, mò tìm bao thuốc lá. “Các con nói với ai đó là các con thích pastrami, rồi—bam!—các con lúc nào cũng phải ăn pastrami cho đến khi các con không chịu nổi cái mùi ấy nữa. Chúa ơi, phụ nữ.” Anh cười, gảy mắt về phía cô. Anh búi mái tóc dài nâu sẫm của mình lại theo kiểu đuôi ngựa để lộ gò má tàn nhang và góc cạnh vì thiếu cân. Allmon mở to mắt nhìn anh.

“Giờ thì, bọn nhóc sẽ ăn nhẹ lúc mười giờ và sau đó—”

”Anh biết rồi, Marie.” Cằm anh đánh dấu chấm hết câu.

Cô mỉm cười. “Em biết anh biết.” Cô hôn anh thêm lần nữa, và anh chìa cái má xương xẩu của mình cho cô.

“Vui vẻ nhé,” cô nói.

“Vui vẻ!” Mickey reo lên.

Và cô đi.

“Chà,” Mike nói. Anh nhún vai lên xuống một nhịp, và nhìn quanh căn phòng ngập tràn ánh nắng. Rồi anh tiến về phía chiếc trường kỷ và nằm dài ra, chẳng buồn cởi giày.

“Khi nào thì chúng ta—“ Mickey nói.

“Oa.” Mike phá ra cười. “Giọng da đen rất chuẩn từ một ông nhóc da trắng. Chúng ta không đi đâu cả, qua bữa trưa đã, cho nên trật tự đi.”

Mickey lại bắt đầu. “Bây giờ cơ,” nó nói khẽ.

“Không, sau bữa trưa rồi tính.”

Mickey thôi không cười nữa. Rồi nó đứng dựa lưng vào cửa như thể một vệ sĩ, quan sát. Allmon rón rén quanh chiếc trường kỷ nơi bố nằm, lần tìm một bàn tay, nắm chặt lấy nó bằng cả hai tay mình, rồi nhẹ nhàng kéo.

“Ở lễ hội hoá trang có những loại động vật gì vậy ạ?” nó nói.

Mike rút tay mình khỏi cái níu ấy và khẽ xoa mái tóc xù của Allmon. “Gấu,” anh nói. “Rắn, và ngựa, cả cả ờ . . . Họ từng có cá sấu con trong bể, bố nghĩ vậy.”

“Đó là cái gì ạ?” Mickey hỏi—nhỏ tiếng, gần như bất đắc dĩ—từ chỗ nó đứng ở cửa.

“Ôi, địt, bố mệt quá. Đêm qua bố chỉ ngủ khoảng ba tiếng. Bố lái xe suốt từ St. Louis. Ừm, một con cá sấu nó giống như một con cá bị nướng hỏng và có chân.”

“À!” Allmon nhăn mặt ghê sợ.

Mike khoanh tay và nhắm mắt lại. “Hai tiếng nữa hai thằng gọi bố dậy nhé,” anh nói.

Allmon ngay lập tức giật một cái gối từ chiếc trường kỷ và nằm xuống sàn như bản sao chép nhỏ của bố nó. “Bố kể chuyện đi,” nó nói.

“Kể chuyện,” Mike nói, thả lỏng người hơn trên lớp đệm, lông mày anh nhăn lại. “Bố chẳng biết chuyện nào cả. Bố không giỏi khoản này. Không, từ từ—từ từ, có chuyện này. O.K., chuyện này hay này. Chẳng là một lần có một trận bóng bầu dục, chỉ tội trời rất, rất lạnh. Không phải lạnh thông thường, mà kiểu bốn mươi độ âm và cứt đái. Nhưng đây là bóng bầu dục, mày biết đấy, nên mày phải làm việc mày cần làm thôi. Nhưng trận đấu cứt đái đó rối tinh rối mù; anh em không thể cảm nhận được ngón tay ngón chân của mình và mặt sân thì đóng băng, nên mỗi lần có cú xoạc nào là đồng phục bị cắt rách và cứt đái. Anh em bị chảy máu khắp nơi, họ dò dẫm trong hề ấy, chân sút của đội Green Bay bỏ lỡ một bàn thắng mười mươi bởi chân hắn chẳng có cảm giác gì. Thế là đến hiệp bốn, mọi người đều đã ỉu xìu và tàn tạ, trận đấu thì sắp kết thúc, và rồi—tada!—dọn đường cho Bart Starr.”

“Bart Starr á?” Allmon nói.

“Ừ, nhóc. Bart Starr là Chúa Jesus, niềm hi vọng da trắng. Thế là đến hiệp bốn, Dallas đang dẫn trước ba điểm, Green Bay giao bóng ở vạch một phần ba bên sân nhà,chính nó đây rồi. Starr gọi nghỉ hội ý, và hắn phải đưa ra quyết định. Họ đã ở rất gần rồi, nhưng toàn đội đang rã rời. Họ chỉ muốn về nhà, bởi trời lạnh như vú phù thuỷ vậy. Nhưng Bart Starr biết điều mà mỗi chàng trai cuối cùng đều nhận ra: khi người hâm mộ thấy chuyện cứt đái, chẳng có ai canh chừng cho mày cả, chỉ có một mình mày, và mày phải đổ máu để hoàn thành công việc. Vậy mày biết hắn chơi gì không? Tiền vệ lẻn con mẹ nó đi. Hắn chúi đầu lặn con mẹ nó một hơi và nhấn chìm luôn Dallas xuống bùn đen.” Anh ngáp nên mặt anh rúm ró thảm hại. “Không ai ngờ được. Họ tưởng hắn sẽ chuyền bóng để câu thêm chút thời gian. Không hề. Khoảnh khắc vĩ đại nhất lịch sử bóng bầu dục đó chứ đâu.”

Anh dừng lại. Anh chưa ngủ, nhưng mắt anh nhắm lại lần nữa. “Khoảnh khắc tuyệt nhất trong cuộc con mẹ nó đời của bố đó chứ đâu. Nên là, này, Allmon,” anh nói và anh ngáp thêm một cú đại tướng tới rùng cả mình. “Mày biết không. . . . Một ngày nào đó bố sẽ đưa mày và . . .” Và anh ngủ thiếp đi.

Khi Allmon dậy, mặt trời đã lên cao; nắng nóng nghẹt thở chiếu vào mặt nó, làm từng dòng mồ hôi chảy vào tóc nó ngứa hết cả lên. Anh nó không còn trong phòng. Nó với lên và chạm vào bàn tay trắng của bố nó, đang buông thõng trong không khí. Nó siết một ngón tay và người đàn ông thức dậy, lông mày anh giật giật.

“Này, nhóc,” anh nói nhỏ nhẹ. “Mẹ mày có bia trong tủ lạnh không?”

Allmon đi xem. Nó mang lại một lon bia gừng. Bố nó mỉm cười, rồi anh vực mình ngồi dậy, xoay mình nhìn qua chiếc trường kỷ, khuôn mặt mệt mỏi và gầy mòn già hơn tuổi rất nhiều. Có mấy vết hằn từ chiếc gối trên má anh.

“Ra mở tủ lạnh đi,” anh nói, và Allmon làm theo lời anh sai, đứng đó như một nữ diễn viên nhỏ phục vụ game-show cạnh tủ lạnh đang phô bày nội dung. “Bia kia kìa,” bố nó nói, chỉ tay vào một cái hộp vàng. “Mang cho bố hai lon.”

Anh uống lon đầu tiên trong hai ngụm. Lon thứ hai anh vừa nằm xuống vừa uống, từng hớp nhỏ và hơi tràn một chút, trong khi Allmon nhìn chằm chằm vào cục hầu của anh đang trượt lên trượt xuống.

“Mẹ dạo này thế nào?” anh hỏi.

“Ổn ạ,” Allmon tươi tỉnh nói.

“Anh mày đang đâu rồi?”

Allmon làm một cử chỉ khó hiểu và Mike nói, “Ôi, như cứt,” nhưng anh không ngồi dậy. “Một lon bia nữa,” anh nói, rồi, “Hai.” Và rồi, sau khi uống một lon, anh lại ngủ thiếp đi.

Mickey quay trở vào phòng, lặng lẽ nhìn xuống thân hình của bố nó trên chỗ ngủ, đôi tay gầy khoanh trước ngực anh. Rồi nó lững thững đi quanh phòng như một bóng ma, dùng đầu ngón tay nhặt bụi ở bậu cửa, liếc xuống đại lộ Hamilton tấp nập không ngừng. Khi Mike bỗng thức giấc, lại nói, “Allmon, lấy bia cho bố,” Allmon nhảy phốc đi và đem bia tới, nhưng Mickey chỉ đứng yên tại chỗ, lông mày nó như vẽ và đôi mắt nó tập trung vào những hình ảnh chuyển động bên ngoài lang thang theo hướng lễ hội hoá trang cách đó hai khối nhà. Nó tựa vào kính mà làm điệu bộ mặt chẳng nhắm tới ai.

Chẳng mấy chốc mà bố chúng bắt đầu ngáy, một âm thanh uể oải, không khoẻ mạnh và già nua. Mickey quay lại từ cửa sổ, với một biểu cảm trên gương mặt giống như mới chớm nghi ngờ, thô mộc hơn sự giận dữ, nó tới và đặt bàn tay nhỏ nhắn của nó lên vai bố. Nó lay một lần, rồi thêm lần nữa mạnh hơn cho tới khi người đàn ông lắc lư trên chiếc trường kỷ như một khúc gỗ trong dòng nước xiết. Cuối cùng, Mike gạt tay Mikey đi. “Để bố ngủ,” anh gằn giọng, chẳng buồn mở mắt.

Allmon sau đó không nhớ làm sao mà chúng lại ở trên phố. Nhưng tay nó trong tay anh nó còn anh nó đang dẫn dắt cuộc chơi và chúng đang ở giữa dòng đời—chúng là những chiến binh, chúng là người nhập cư, hai đứa chúng nó và người anh em thứ ba của chúng, quyết tâm hành động. Đám đông cuốn chúng đi theo dòng chảy về phía Bắc qua ngã tư, nơi những chiếc xe tải chở hàng hoá là động vật đi qua, dù đã có một thời xửa xưa lũ động vật lăn lộn trong những toa tàu từ Pittsburgh, chậm chạp tiến về phía Tây Knowlton’s Coner, nên, khi mặt trời về chiều tối, bọn trẻ con đã lên giường nghe thấy tiếng khóc não nề của lũ khỉ trong cảnh tù đày và chẳng tài nào ngủ nổi vì rùng rợn.

Ở ngã tư có chằng dây phân cách, có quá nhiều điều để nhìn: những con rắn trong những cái lồng kính cáu bẩn, một con báo trong toa tàu có bánh xe đảo từ bên nọ sang bên kia đầy đe doạ, một con mèo hoang hói đầu màu đỏ mặc áo giáp rít lên vào mặt người qua đường, một con hươu cao cổ non trong một cái chuồng cao bằng nửa toà nhà. Khắp chung quanh, mọi người trong khu dân cư đều ngà ngà say trong ngày nghỉ, hay đơn giản là say, hôn hít bạn gái họ giữa ban ngày ban mặt như sắp tới thời khắc ly biệt, đặt con cái ngồi trên đôi vai khoẻ khoắn của họ—Allmon nhìn họ, bố mẹ lũ trẻ con ấy nâng chúng cứ như nâng cúp vàng, hét ré lên với bọn thú, liếm kem vani ốc quế, gọi đứa khác qua đầu mọi người. Thằng nhóc thấy những đứa con gái nó biết từ khu nhà, trong những bộ váy màu sáng, lượn lờ đến chóng mặt qua đám đông, vai kề vai, tất cả được khâu lại với nhau như một bộ quần áo vĩ đại liên tu.

“Xem kìa!” Mickey nói. Ở giữa ngã tư có một con gấu nâu đỏ ngồi trên hông của nó, cái bụng béo của nó nhô ra. Một sợi dây xích to tướng, gỉ sét thít quanh cổ nó, đầu kia sợi xích nằm trong tay một lão già béo ngang ngửa con gấu của lão, tất cả đôi vai xuôi và cái bụng bự, cùng cặp mắt màu xám bên dưới lớp da đầu bóng nhẫy cháy nắng.

“Các cháu có muốn đoán cân nặng của nó để ăn thưởng một con gấu bông không?” lão già hỏi, cố gắng động sợi xích khổng lồ kêu lọc xọc. Mặc dù sợi xích bị kéo khiến con gấu phải khẽ trở mình về bên trái, hai mắt nó chỉ hướng lên chẳng nhìn vào đâu. Nó rịn ra mùi gì như mùi tầng hầm. Khi nó chớp mắt, Allmon nhìn thấy chuyển động nặng nề chậm rãi đen đúa của hàng lông mi.Thằng nhóc đưa tay lên và cảm nhận sự tiếp xúc thầm thì từ hàng mi của chính mình với các đầu ngón tay. Nó nghĩ, mắt mình có cánh, suy nghĩ ấy quả kì cục nhưng lại dễ chịu tới nỗi bỗng dưng nó cảm thấy mình thật vô cùng đặc biệt, rằng không có ai như nó trên đời này. Nó rùng mình.

“Đoán cân nặng của nó đi,” lão già lại nói. Mickey ngoái đầu lại nhìn con gấu. Nó cau mày.

“Con gấu này có tên không ạ?” Allmon hỏi.

“Mười pound,” Mickey nói.

Lão già khịt mũi còn con gấu dịch tấm thân xù xì cục mịch của nó, từ phải sang trái, vẫn lệt bệt trên khúc hông. Đầu gối nó trụi lông loang lổ, lộ ra lớp da nâu nhăn nheo, như thể nó đã tự mình nhổ mất lông. Nếu khuôn mặt con gấu mang một biểu cảm nào, thì cũng bất khả diễn đạt. Ngôn ngữ cơ thể của nó chẳng ích gì ở đây.

“Nào, đoán lại đi.”

“Hai mươi pound.”

Lão già cười nửa vời, nhưng Allmon đột ngột đứng ở giới hạn xa nhất của những đầu ngón tay anh trai nó. Trong cuộc hỗn loạn, xa hơn con gấu và khí thế triều dâng của đám người ấy, một con ngựa đứng đó. Con ngựa không quá nổi bật dễ nhìn thấy, chỉ là một con ngựa nhỏ được diễn viên hoá trang dẫn tới bán với giá bốn mươi đô-la trước lò mổ ở Peoria. Nó đứng đó với một cái lõi ngô rách nát trong mắt và móng guốc quá mềm để di chuyển, nhưng nó cao ráo, và vẫn thật lộng lẫy trong thời khắc thảm hại của mình. Nó cao cỡ mười lăm bàn tay, dù lưng nó đung đưa một cách nguy hiểm ở giữa còn đầu gối sau của nó khuỵu vào trong. Giống như con gấu, dường như nó bị rụng lông ở bên hông, như thể một cái yên đã làm mòn mất lớp áo khoác của nó mất tiêu. Mắt nó rất xanh, đôi mắt thiếu đi sự phản kháng hay cự cãi, chứa đầy sự nhẫn nại, sự tồn tại nhất thời, biết đâu vắng cả kí ức. Nó buồn ư? Đó là cặp mắt của một sinh mạng suy tàn, của một con ngựa đã quen với những cú thúc từ miếng bạc kẹp miệng, với bàn tay tàn khốc của người đàn ông nắm dây cương.Miệng nó cử động duyên dáng, làm như nó đang nhai gì đó. Nó quay đầu, và một con mắt màu xanh hướng về Allmon.

Nó kéo tay anh nó.

“Một trăm pound.” Micky đang nói, và lão già, đã chán ngấy cuộc chơi, đưa đại cho nó một con gấu nhồi bông màu xanh, Mickey ôm ghì lấy vào lòng.

“Nào, mẹ các cháu đâu?” lão già lại hỏi. Mickey không trả lời; Allmon đang kéo nó đi về phía con ngựa, nhưng trước khi nó kịp đứng trước đôi mắt ngoan ngoãn của con ngựa, trước khi nó có thể hỏi, “Nó có tên không ạ?,” và người đàn ông đứng cạnh con ngựa có thể nói, “Molly. Cháu có muốn ngồi lên lưng nó không?,” giọng một người phụ nữ cất lên, “Hai đứa nhóc này là con ai?,” và một người phụ nữ khác đặt tay lên vai giữ Mickey lại, nói, “Cháu ngoan, mẹ cháu đâu?” Trong một thoáng, vai nó trượt khỏi tay bà ta và chúng vùng chạy, la hét với tiếng cười và vẻ gian manh, vui sướng tự do, chạy lách qua các thân người và các thùng rác và lũ động vật cho tới tận năm phút chiến thắng sau đó, nhiệm vụ của chúng hoàn thành, chúng đứng thở dốc trước thân hình người bố đang ngáy của chúng, và ở đó, trong sự hả hê khoa trương của căn phòng tối, chúng im lặng. Chúng không nhìn nhau. Allmon đếm được mười ba lon màu vàng trên sàn cạnh chiếc trường kỷ, một cái mới chỉ uống hết nửa. Mickey bước đi mà chẳng nói lời nào, rồi những bước chân hờn dỗi nện xuống cầu thang dẫn tới vườn xi măng, rồi cánh cửa đóng sầm lại. Allmon khom người xem xét cẩn thận khuôn mặt của bố: những đường nét góc cạnh, chắc khoẻ của má và cằm, lông mày bố nhăn lại kể cả khi ngủ, tàn nhang như những vệt bụi bám bẩn tin hin. Da trắng. Da trắng màu của bột mì, của giấy, của tuyết, của những vì sao, của ngọc trai, của những chiếc váy trong nhà thờ, của khuôn mặt anh trai nó.

“Bố dậy đi,” nó thầm thì và, khi chẳng có phản hồi gì, một âm thanh buồn cười phát ra từ nó. Cảnh vật trong mắt nó nhuốm máu. Rồi nó thu tay lại thành một nắm đấm nhỏ và, bằng hết sức bình sinh, nó thụi vào xương vai bố nó. Tiếng ngáy ngưng lại và Mike mở đôi mắt nhoè nhoẹt đỏ quạch. Tập trung chậm rãi nhìn khuôn mặt Allmon. Rồi một tay với tới phía trước và chặn dòng nước mắt đang lăn dài trên má.

“Này, Jude(2),” anh nói, “đừng buồn chứ.”


(1) ND: tên một khu dân cư lâu đời ở Cincinnati, bang Ohio, Mỹ, vốn có phần lớn dân cư thuộc tầng lớp lao động.

(2) ND: nhại theo lời bài hát Hey Jude của nhóm The Beatles.

Copyright © 2010 by C. E. Morgan.

ThKh chuyển ngữ không có sự đồng ý của tác giả.

———-

ThKh – 2019

ThKh là một bút danh khác của ChuKim, một người viết tự do, sống và yêu tại một ngôi làng mang tên thành phố. Nếu có thể, hãy ủng hộ và khích lệ bằng cách đọc và chia sẻ những gì anh viết trong khả năng của bạn. Xin cảm ơn.

– natchukim.cogaihu@gmail.com –

PS: Tất cả nội dung trong blog này đều được tuyên bố quyền sở hữu và quyền tác giả về nội dung, ngoại trừ những bài sưu tầm có đề rõ. Mọi trích dẫn, đăng lại, vui lòng ghi rõ nguồn. 

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s