Truyện ngắn: Hôn nhân mai mối – Nell Freudenberger

Nell Freudenberger (1975-) là nhà văn người Mỹ. Bà viết cho nhiều tạp chí và đã xuất bản các tiểu thuyết Lucky Girls (2003), The Dissident (2006), The Newlyweds (2012), Lost and Wanted (2019). Bà hiện sống cùng gia đình tại Brooklyn, Mỹ.

Nell Freudenberger (Grafilu - newyorker.com).jpg
Minh hoạ: Grafilu – newyorker.com

‘Hôn nhân mai mối’ (The arranged marriage) là truyện ngắn của Nell Freudenberger được đăng trong tuyển tập 20 under 40 (2010) của tạp chí The New Yorker. 


Hôn nhân mai mối

Nhà của họ là căn áp chót trên đường. Con đường kết thúc ở một đoạn hình cung tròn trải nhựa gọi là đường cụt(1), và xa hơn khỏi cái đáy túi là một cánh đồng ngô. Cánh đồng làm Amina hốt hoảng khi lần đầu tới đây—khiến cô tự hỏi, chỉ trong một thoáng, hay là cô đã bị lừa (tất cả mọi người đã đồ đoán như vậy) và đón nhận cái kết ở một ngôi làng Mỹ nào đó. Cô đã phải tự nhắc mình nhớ về sân bay Rochester sạch sẽ hiện đại, và về Pittsford Wegmans—một cửa hàng tạp hoá, thứ đầu tiên mà cô tả cho mẹ mình nghe khi cô gọi điện được cho bà. Khi Amina hỏi về cánh đồng, George giải thích rằng ở đó có những đường dây điện không thể di rời được, nên chẳng ai có thể xây nhà. Sau khi hiểu được nguyên cớ, Amina thấy thích cánh đồng ngô, nó gợi cho cô về ngôi làng quê ngoại. Cô sinh ra ở đó, khi ấy ngôi nhà vẫn còn là một túp lều, lợp mái tranh, sàn đất mài nhẵn. Hai năm sau, cha mẹ cô rời làng lên Dhaka tìm việc, nhưng cô vẫn ở lại với bà ngoại và dì Parveen cho tới khi lên năm tuổi. Kí ức đầu tiên của cô là leo lên những bậc đá từ bờ ao, nắm tay Nanu(2), nhìn ngắm một vệt sáng vui mắt và bóng tối loang lổ trở thành một con ếch trốn trong bóng râm của tán dừa.

Nanu có năm người con gái và hai người con trai, nhưng cả hai bác trai của Amina đều chết trước khi cô ra đời. Bác lớn, Khokon, đã tham chiến ở Mukti Bahini, trong khi bác trẻ hơn, Emdad, ở lại làng để bà ngoại không phải quá lo lắng. Dù là đứa ít tuổi hơn, bác Emdad được bà ngoại cô yêu thương nhất: đó là lý do mà bà giữ bác ấy lại bên mình. Khi bạn cố gắng lừa gạt Chúa theo cách như vậy, chuyện xấu có thể sẽ xảy ra. Bác Emdad chết trước, trong một tai nạn xe máy trên đường tới Shyamnagar, khi đi giao thuốc theo toa cho tiệm thuốc của bà ngoại cô. Hai tháng sau, bác Khokon bị lính của Tướng Yahya giết. Cái chết của hai người ấy là nguồn cơn Nanu trở thành như bây giờ, im lặng và nặng nề, như một tảng đá.

Từng chút từng chút, sau sáu tháng e-mail qua lại với nhau, Amina đã kể cho George về cuộc đời cô. Cô nói mình là con của một gia đình yên ấm, và rằng cha mẹ cô đã hi sinh để cho cô được học ở một trường dạy bằng tiếng Anh, nhưng cô đã không phóng đại về tình hình tài chính của cha cô hay học thức chính quy của mình. Cô đã giải thích rằng cô học nói tiếng Anh ở trường Maple Leaf International, nhưng cô buộc phải nghỉ năm mười ba tuổi, vì cha cô không thể lo nổi học phí. Cô cũng thú nhận rằng cô hai mươi tám tuổi, thay vì hai mươi bảy: cha mẹ cô đã đợi cả năm trời mới làm giấy khai sinh cho cô để một ngày nào đó cô có thể có thêm thời gian để xét tuyển đại học hay thi công chức. Mẹ cô đã cảnh báo cô phải cẩn thận với những gì mình tiết lộ trong e-mail, nhưng Amina nhận ra một khi cô đã bắt đầu viết thì thật khó có thể dừng lại được.

Cô kể cho George các dự định kinh doanh của cha cô có xu hướng thất bại ra sao, và cách mỗi bận kinh doanh đổ bể dần dà khiến gia đình cô mất nhà. Cô kể cho anh về cái năm họ sống ở Tejgaon, sau khi phải rời khỏi toà nhà Moti Mahal, và suốt quãng thời gian ấy cha cô đã mua mỗi ngày một quả trứng ra sao, quả trứng ấy mẹ Amina đã nấu cho cô bởi cô vẫn đang lớn và cần phải ăn protein. Một buổi tối, khi cô cố gắng chia trứng cho cha mẹ, xẻ nó thành ba miếng, cha cô đã nổi trận lôi đình tới mức cô ấy định đánh cô (bằng một sợi dây nhảy), và suýt nữa thì đã làm được nếu mẹ cô không nhào vào ông ấy với cái cán chổi lông gà đã gãy.

Đôi khi cô quá sa đà vào việc nhớ lại những chuyện đã xảy ra tới mức cô quên bẵng cả người đọc ở đầu kia, nên cô đã ngạc nhiên khi George viết hồi âm nói rằng câu chuyện của cô đã làm anh khóc. Anh không thể nhớ nổi việc mình khóc kể từ khi con hamster của anh bị chết, lúc anh học lớp hai, và anh nghĩ rằng điều đó cho thấy mối liên hệ của họ đang trở nên bền chặt hơn. Amina ngay lập tức trả lời để xin lỗi vì đã làm George khóc, và để giải thích rằng đó không phải là một câu chuyện buồn mà là chuyện hài, về cha mẹ cô và những trận cãi vã ngớ ngẩn thỉnh thoảng họ vẫn có. Ngay cả nếu cô và George không phải lúc nào cũng hiểu nhau, cô không bao giờ thấy ngại hỏi anh. So với hệ giáo dục vương quốc Anh thì lớp hai ở Mỹ tương đương với mức nào? Hồi còn nhỏ anh thường ăn tối món gì? Và, cô rất tò mò muốn biết, con hamster là con gì?

Thật là tuyệt khi có ai đó để cùng tâm sự, ai đó cô có thể tin tưởng sẽ không ngồi lê đôi mách. (Mà suy cho cùng, George có thể ngồi lê đôi mách với ai về Amina cơ chứ?) Thật vui khi viết về những thời điểm khó khăn trong quá khứ, giờ thì mọi việc đã tốt hơn rồi. Khi cô bắt đầu thư từ với George, Amina đang giúp đỡ cha mẹ bằng khoản tiền cô kiếm được dưới vai trò một gia sư cho trung tâm Top Talents; họ đang sống ở Mohammadpur, và dĩ nhiên là họ có dư dả đồ ăn. Cô vẫn nghĩ khoảnh khắc đáng tự hào nhất đời mình là khi cô mười bảy tuổi và một ngày trở về nhà làm cha mẹ cô ngạc nhiên với một chiếc tivi cô mua hoàn toàn bằng tiền mình kiếm được.

Một lợi ích nữa của việc làm gia sư, mà cô đã không lường tới khi mới bắt đầu, là việc cô được quyền sử dụng máy tính của đám học trò nhà giàu. Cô có giờ với một trong những đứa học trò ấy, Sharmila, ba buổi một tuần; cha mẹ Sharmila bận công việc ở văn phòng, họ khuyến khích Amina ở lại tới bao giờ cũng được để con gái họ không phải quanh quẩn với người giúp việc suốt cả buổi chiều. Mẹ của Sharmila tâm sự rằng bà nghĩ Amina sẽ là một tấm gương sáng cho con gái bà noi theo; Sharmila rất thông minh nhưng hay mất tập trung, và không đủ nghiêm túc trong việc cầu nguyện. “Nó lớn lên có mọi thứ,” mẹ cô bé nói khi Amina lần đầu tới nhà, bà đưa tay chỉ sàn đá hoa phòng khách và tấm rèm thổ cẩm dày trên những ô sửa sổ ngắm cảnh nhìn ra mặt nước đen của Hồ Gulshan, góc nhìn cho thấy, ngay cả từ độ cao này, vẫn bị nghẽn những đoá hoa loa kèn nước bỏ đi, và lều chòi của các gia đình nhập cư. “Con bé còn chẳng biết nó may mắn thế nào.” Amina lịch sự gật đầu, nhưng cô biết mẹ Sharmilla chỉ đang diễn màn phàn nàn vậy thôi. Cô cũng sẽ làm trò như vậy khi cuộc hôn nhân của con gái mình cũng đã được dàn xếp, thổi phồng sự kém cỏi của Sharmila trong việc chuẩn bị món dal(3) đơn giản hay món kitchuri(4), để gia đình chú rể hiểu rằng họ sắp đón nhận một cô công chúa nhỏ.

Amina đã thề với Sharmila giữ bí mật về trang AsianEuro.com, và cả hai đã rất vui vẻ, lướt qua đống ảnh trong “mục nam giới.” Sharmila luôn chọn người trẻ và ưa nhìn nhất; nó sẽ giật nảy và ré lên khi nó bắt phải ai đó quá già hay quá béo. Rất thi thoảng, Amina cũng có cùng cảm giác ấy, nhưng cô nhắc nhở mình rằng cô không phải một cô bé con đang chơi trò chơi. Tương lai của gia đình cô phụ thuộc vào quyết định này, và cô không thể thực hiện nó dựa trên cái kiểu sở thích trẻ con.

Theo lời mẹ cô, không nên chọn người đàn ông đã li dị và chắc chắn là phải chưa có con. Anh ta phải có bằng cử nhân và một công việc có thể trông cậy được, và anh ta không nên uống bia rượu. Anh ra không nên trẻ hơn ba mươi lăm tuổi hay già hơn năm mươi tuổi, và anh ra phải sẵn sàng cải sang đạo Hồi. Mẹ cô cũng nhấn mạnh rằng Amina nên bỏ kính và mặc bộ sari(5) màu đỏ mà cô được thừa hưởng từ chị họ Ghaniyah của mình để chụp ảnh, nhưng, khi ảnh đã chụp xong và quét vào máy tính (quá tiện lợi) ở quán café internet gần chung cư của dì Haicủa cô ở Savar, mẹ cô lại không đồng ý cho cô đăng nó lên mạng. “Tại sao con lại muốn một gã đàn ông chỉ thấy hứng thú với tấm ảnh của con nhỉ?” bà hỏi, và chẳng điều gì mà Amina nói về cách trang web hoạt động có thể làm thay đổi suy nghĩ của bà.

“Nhưng bọn con trai sẽ cho rằng chị xấu!” Sharmila kêu lên, khi nó nghe về điều kiện của mẹ Amina. Hai đứa đang ngồi trên tấm thảm trong phòng  ngủ của Sharmila, cuốn “Ngữ pháp tiếng Anh cơ bản” của Sharmila đặt mở ở giữa. Học trò của Amina mặc áo đồng phục kameez(6) của trường Quốc Tế cùng với quần pajama trang trí hình lũ ếch. Nó nhìn Amina phê bình từ trên xuống dưới.

“Tóc chị thô, chị lại có mũi như quả táo, nhưng chị không xấu,” nó kết luận. “Và giờ thì sẽ chẳng có ai nhắn tin cho chị cả.”

Và mặc dù Amina có nỗi sợ y hệt như vậy, cô quyết định vờ như đồng ý với mẹ mình, tốt cho Sharmila noi theo.

Điều đó xảy ra, George cũng không đăng ảnh lên mạng. Anh và Amina chỉ trao đổi ảnh sau khi họ quyết định trở thành “của nhau” và xoá tài khoản khỏi trang web. Khi anh xem ảnh cô, George viết, anh càng thấy thêm tin tưởng rằng cô là người phụ hợp cho anh—không phải vì cô xinh đẹp thế nào, mà bởi cô đã không sử dụng “vẻ ngoài quyến rũ” của mình để quảng cáo bản thân, như rất nhiều phụ nữ Mỹ vẫn làm.

Amina đã không tin nổi có một người đàn ông trên trái đất này—lại còn từ AsianEuro.com—đáp ứng được tất cả các yêu cầu của mẹ cô, nhưng Georga tiến tới rất gần. Anh ba mươi chín tuổi, và anh chưa từng kết hôn. Anh có bằng thạc sĩ từ trường sunyBuffalo(7) và là kĩ sư hàng không cho tập đoàn I.T.T. đã mười một năm. Anh thích uống bia Heineken khi xem bóng bầu dục—đội yêu thích của anh là Dallas Cowboys—nhưng anh không bao giờ uống quá hai chai, và anh sẽ nghĩ về chuyện cải sang đạo Hồi, nếu như đó là cái giá để có thể cưới được Amina.

 

Cả cha và mẹ Amina đều đã mong một ngày nào đó cô được đi nước ngoài, nhưng chính mẹ cô mới là người đã làm việc không mệt mỏi trong từng bước hành trình cùng cô suốt bốn năm để rồi cuối cùng đã đưa cô tới Rochester. Nếu bạn tính cả những nỗ lực sớm nhất của họ, hẳn phải dài hơn bốn năm rất nhiều. Khi Amina còn là một cô bé, mẹ cô đã kì vọng có thể biến cô trở thành một ca sĩ nổi tiếng, nhưng sau khi bà nhận ra Amina không hề thừa hưởng giọng ca tuyệt đẹp của mình, bà đã chuyển cô sang học sáo trúc cổ điển Bengali. Amina cảm thấy rất nhiệt tình chăm chỉ với việc học hành, nhưng vì lẽ nào đó mà cô chẳng bao giờ có nổi thời gian cho cây sáo; cô chẳng đoái hoài gì đến nó mà thay vào đó lại thích “Năm tư thế ballet,” và rồi “Tiếng bụng: Lịch sử và kĩ thuật,” cả hai đều được minh hoạ trong những cuốn hướng dẫn mà cô và mẹ lấy từ thư viện Hội đồng Anh.

Ý tưởng nghiêm túc đầu tiên của cha mẹ Amina là cho cô đi Mỹ du học; Amina đã viết cho mười trường, sáu trong số đó gửi thư hồi âm. Trường Đại học Pittsburgh đã khuyến khích cô xin một suất học bổng đặc biệt. Vậy mà, kể cả có học bổng, học phí vẫn mất sáu ngàn đô một năm—chưa tính tới khoản tiền sinh hoạt phí ở Mỹ. Cha mẹ cô đã đọc đi đọc lại lá thư từ Pittsburgh, như thể sẽ có thêm thông tin mới hiện ra vậy, và họ đã khoe nó với tất cả họ hàng ở Dhaka, tất nhiên, mọi người bắt đầu buôn chuyện. Như lời Ghaniyah, họ đã phán xét Amina và cha mẹ cô là “đũa mốc mà vọc mâm son”

Vài tuần sau khi nhận được lá thư, Amina đang nghe chương trình của Đài Tiếng nói Hoa Kỳ. Cô và mẹ đã thành thói quen bật nghe các chương trình phát sóng Tiếng Anh Đặc biệt, và ngay cả sau khi những thứ ấy đã trở nên quá đơn giản với Amina, họ vẫn tiếp tục nghe “Đây là nước Mỹ(8).” Một hôm chương trình tập trung vào các thể loại sinh viên và thị thực làm việc khác nhau, và các bài thi S.A.T., G.M.A.T., và toefl mà sinh viên ngoại quốc có thể cần thực hiện. Amina chỉ nghe loáng thoáng (tất cả các cách này cô đều đã cân nhắc, và đều tốn tiền cả) khi phát thanh viên nói điều gì đó khiến cô ngẩng lên khỏi trang sách. Mẹ cô cũng dừng lại, giữ cái bàn là bên trên chiếc áo sơ mi đẹp nhất và mấy cái quần của cha cô, được đặt trên nền gạch hoa thẳng thớm cứ như đã có một người đàn ông tròng vào vậy.

“Tất nhiên, con đường dễ nhất để đến Mỹ là tìm một người Mỹ và kết hôn!”

Không phải là cô chưa từng nghĩ về chuyện này; ngay từ khi còn nhỏ, cô đã rất sính ngoại. Trong khi những đứa con gái khác đổi váy của chúng để lấy những bộ shalwar kameez(9), Amina đã sẵn sàng mặc váy: cô phải mặc một bộ shalwar kameez màu trắng-ghi là đồng phục của trường Maple Leaf, nhưng khi về nhà sau giờ học, cô thay lại thành váy hoặc chân váy. Mẹ cô lắc đầu nhưng cha cô thì cười phá ra và gọi cô là memsahib(10) bé nhỏ của ông. Mỗi khi ông có tiền, ông lại mua cho cô một lon Fanta và một thanh socola Cadbury.

Trên tất cả, cô vẫn luôn luôn yêu thích da trắng. Cha cô da nâu, trước khi cô ra đời ông đã lo rằng da cô sẽ tối màu. Nhưng mẹ cô thì ujjal shala(11), và Amina hoá ra cũng đúng là vàng mười. Một lần khi cô khoảng tám hay chín tuổi, cô đã nói cô yêu da sáng màu biết chừng nào trước mặt một cộng sự của cha cô, bác này đen y như các ngư dân làm việc trên mấy con tàu ở gần nhà bà ngoại cô. Bác Farooq chỉ cười, nhưng vợ bác ấy đã nói rất nghiêm túc với Amina rằng bác cũng từng thích y như thế, và nhìn xem cuối cùng thì bác ấy lấy ai. Nếu cháu muốn điều gì đó quá mức, bác nói, thỉnh thoảng ghét của nào trời trao của ấy đấy.

Amina không bao giờ quên lời khuyên đó. Đó là một dạng minh triết Deshi(12) mà cô học được từ lúc ở làng, và cho tới chừng nào bạn còn ở làng thì nó càng mạnh. Càng đi xa, Amina tin tưởng, nó càng ít tác động. Hoàn toàn có thể thay đổi được định mệnh của bản thân, nhưng bạn phải cẩn trọng và bạn không bao giờ được phép ngoái đầu nhìn lại. Đó là lý do tại sao, khi cô nghe về lời nói đùa của phát thanh viên trên Đài Tiếng nói Hoa Kỳ, điều đầu tiên mà cô nghĩ tới là Internet.

Điều làm Amina ấn tượng về trang AsianEuro.com là danh sách cả đàn ông và phụ nữ lên đây tìm bạn. Khi Amina tham gia, sáu trăm bốn mươi hai người đàn ông có hồ sơ trên trang web, và, dù chẳng có bức ảnh nào, hồ sơ của Amina ngay lập tức nhận được vài phản hồi. Thực tế cho thấy, vấn đề không phải là bắt chuyện mà là giữ được nhịp chuyện. Đôi lúc (như với Mike G. và Victor S.) một người đàn ông sẽ chuyện trò hàng tháng trời trước khi anh ta đột ngột dừng lại, không có lấy một lời giải thích. Những lần khác cô lại là người dừng lại, vì điều mà người kia viết. Trong trường hợp Mike R., anh ta yêu cầu một bức ảnh Amina mặc đồ bơi; với “John H.”, là một lời thú nhận, tin nhắn gửi lúc 3:34 sáng, rằng anh ta thực ra là một người Hồi giáo Bengali sống ở Calcutta.

Cha cô đã lấy những ví dụ này để củng cố cho lập luận của ông rằng những kẻ tham gia mấy trang web đó không đáng tin chút nào, nhưng mẹ Amina đã cùng cô vượt qua mọi điểm bất đồng, và quyết tâm giúp đỡ con gái của bà dường như đã mạnh mẽ hơn qua từng ấy năm còn vai trò của cha cô thì chẳng thay đổi gì. Họ chưa từng là một cặp mẹ và con gái thông thường, phần vì Amina là con một, phần vì họ dành rất nhiều thời gian cùng nhau sau khi cô rời trường học, học sách giáo khoa mà họ mượn từ Hội đồng Anh: “Functional English” và “New English First.” Khi Amina và George bắt đầu viết cho nhau, cô mà mẹ thảo luận về các e-mail với cùng sự nghiêm túc mà họ từng dành cho mấy cuốn sách giáo khoa. Cô không giấu mẹ bất kì điều gì (kể cả chuyện mấy lon Heineken), và cuối cùng thì cả hai người đều bị sự tốt bụng của George thuyết phục. Họ là một đội, cùng phân tích từng bước tiến triển, và Amina thấy thật kì lạ, sau khi mọi sự đã xong xuôi, khi nhận ra cô sẽ không có mẹ đi cùng.

 

Amina đã trao đổi e-mail với George được ba tháng tính tới thời điểm anh tới Dhaka gặp gia đình cô. Chuyện tán tỉnh nhau của họ có nhiều điểm chung với ông bà ngoại cô—cũng được sắp xếp qua một bà mối chuyên nghiệp trong làng—hơn là so với cha mẹ cô, hai người có một cuộc hôn nhân vì tình yêu và cùng nhau thoát tới Khulna khi mẹ cô mười bảy tuổi. Ông bà cô chưa từng gặp mặt nhau cho tới tận ngày cười, nhưng họ đã xem ảnh trước. Cô nghĩ về bà ngoại mình trong cái ngày cô nhận được ảnh của George đính kèm trong e-mail. Ảnh không giống với những gì cô kì vọng, nhưng sau khi đã xem, cô không còn nhớ nổi khuôn mặt mà cô đãhình dung. Khuôn mặt ấy đã bị George của đời thực tẩy bay: má phị xôi thịt, đôi mắt lờ đờ ngái ngủ. Các bộ phận nén lại với nhau ở chính giữa khuôn mặt anh, bỏ lại phần thừa vừa nhiều, vừa không có gì đặc sắc của má, trán và cằm. Da anh nhợt nhạt tới mức Amina cũng phải thừa nhận là nó có thể là quá sáng.

Cô đã đặt tay lên một nửa bức ảnh, chỉ còn nhìn được đôi mắt và trán. Cặp mắt xanh, nằm gần nhau, cùng cặp lông mày lưa thưa và hàng mi. Liệu mình có thể yêu được đôi mắt này không? cô tự hỏi, gạt bỏ qua một bên mọi điều, và, sau một vài phút nhất định để quen dần với chúng, cô quyết định rằng mình có thể làm được. Cô che đôi mắt và hỏi lại cùng câu đó cho cái mũi (hơi khó khăn hơn vì nó là mũi lõ, khác với bất kì chiếc mũi nào mà cô biết). Cô đi ngủ với điều đó trong lòng, nhưng ngày hôm sau ở Hội đồng Anh (thật là khổ sở khi phải đợi đến lượt dùng máy tính) cô đã vui khi nhận thấy bức ảnh đẹp hơn so với những gì cô còn nhớ. Đến cuối ngày cô nghĩ rằng cô có thể yêu được cả cái mũi ấy.

Nell Freudenberger - An aranged marriege (ảnh - Kate Joyce - newyorker.com).jpg
Ảnh: Kate Joyce – newyorker.com

Cha cô tới gặp George ở sân bay, còn mẹ cô tới phòng cô để báo rằng anh đã tới—mặc dù, tất nhiên, cô đã thấy hết từ ban công. Chiếc taxi đã dừng ở đầu con phố không được trải nhựa. Mẹ cô đã lo về việc George phải đi trên con đường bụi bẩn dẫn vào khu chúng cư (nhỡ mưa thì sao?), thậm chí họ còn bàn tới việc thuê xe ba bánh. Nhưng nếu vậy thì sẽ phải thuê tới tận hai chiếc, còn chở hành lý nữa, và thuê hai chiếc xe ba bánh để đưa hai người đàn ông trưởng thành đi đoạn đường chưa tới hai trăm mét thì sẽ quá phô trương so với thực tế. Ngay từ chỗ nấp của mình trên ban công, phía sau đống quần áo đang phơi của mẹ, cô có thể nghe thấy giọng lũ con trai của bà chủ nhà, Hamid và Hassan, trên mái nhà, đang mấp mé ngã khỏi rìachỉ để thoáng nhìn thấy người đến cầu hôn Amina.

“Anh ấy như thế nào ạ?” cô hỏi, mẹ cô trấn an cô.

“Cậu ta giống hệt như trong ảnh. Không khác gì đâu.”

 

George nói anh đã biết ngay khi nhận được e-mail đầu tiên của cô, rằng cô là chính là người ấy. Khi Amina hỏi làm sao anh biết, anh cảm thấy mình bị xúc phạm, và hỏi có phải là cô đang thử anh không. Nhưng Amina không hề thử anh: cô thực sự muốn biết, bởi trải nghiệm của cô rất khác. Với những người đàn ông bắt chuyện với cô trước George, lần nào cô cũng tự hỏi liệu đây có phải là người mà mình sẽ cưới. Khi cô và George bắt đầu chính thức e-mail cho nhau, cô cũng tự hỏi điều tương tự, và cô vẫn tiếp tục tự hỏi ngay cả sau khi anh đặt vé máy bay tới Bangladesh. Cô tự hỏi trong buổi tối đầu tiên khi anh dùng bữa cùng gia đình cô trên cái bàn cập kênh của họ, phủ bằng một cái khăn trải bàn bằng nilon in hình bản đồ thế giới mà cha cô kín đáo giữ nó nằm yên bằng cách đặt khuỷu tay lên một khu dân cư nào đó ở Sudan, và trong những giờ đồng hồ đầy dằn vặtở nhà các dì cô ở Dhaka, khi họ trò chuyện với nhau bằng tiếng Anh trong khi mọi người ngồi quanh và quan sát. Mãi cho tới tận khi thực sự ngồi trên máy bay tới thủ đô Washington, đeo một chiếc nhẫn vàng đính kim cương mua vội ở trung tâm thương mại Rifles Square vào ngày cuối cùng trong chuyến đi của George, cô cuối cùng mới thực sự tin rằng điều đó sắp sửa xảy ra.

Thị thực của cô giới hạn cô trong chín mươi ngày phải kết hôn trong chuyến đi tới Mỹ. George muốn cô ổn định mọi việc, và mẹ anh ấy cần thời gian để tổ chức tiệc cưới, nên họ đợi gần hai tháng. Mẹ Amina hiểu rằng sẽ không thực tế nếu để George phải chi tiền thuê chỗ ở khác ở Amina trong thời gian ấy, và bà chắc chắn không muốn cô phải sống một mình ở một thành phố quốc ngoại. Bà đồng ý rằng Amina có thể ở nhà George trong hai tháng, nhưng bà bắt Amina hứa rằng cô và George sẽ đợi tới sau hôn lễ mới được làm chuyện đó. Bà nói về thứ mà Amina có thể mất mà cô sẽ không bao giờ có thể lấy lại được.

Ở Dhaka, Amina đã định sẽ giữ lời hứa, dù cô không hoàn toàn đồng ý với mẹ mình. Đặc biệt là sau khi tới Mỹ, và có thời gian suy nghĩ, đối với cô dường như có rất nhiều thứ khác cũng có thể mất đi vĩnh viễn như vậy cả thôi. Cha cô đã mất đối tác kinh doanh của ông, ví dụ thế, và ông không bao giờ còn tìm được một công việc toàn thời gian nào; sau đó, họ đã mất đồ nội thất của mình, và rồi là những căn hộ ở Mirpur và Savar, và chỉ có sự can thiệp của cha Ghaniyah—cứu vãn căn hộ ở Mohammadpur với giá đặc biệt, thông qua một đối tác kinh doanh—thì mới giữ cho cả nhà không rơi vào cảnh vô gia cư. Những thất bại này đã đổ cả lên đầu mẹ cô, bà đã phải chịu đựng bệnh loét dạ dày và phát ban dai dẳng; Amina nghĩ mẹ cô vẫn rất đẹp, với đôi mắt to, đen láy của bà, và chiếc mũi thon thẳng, nhưng mẹ cô tuyên bố bà đã mất đi sự xinh đẹp của mình. Tệ hơn cả, bà ngoại cô đã mất bác Emdad và bác Khokon, và bà không thể làm gì để có thể đưa họ trở lại.

So với những mất mát ấy, dẫu nó có là gì đi chăng nữa thì điều mà Amina đánh mất trong đêm thứ ba cô ngủ ở nhà George cũng chẳng là gì. George đã đồng ý với điều kiện của mẹ cô, và kê một chiếc giường đệm cho cô trong căn phòng trống ở trên tầng. Hai đêm đầu tiên, họ đánh răng cùng nhau như một cặp vợ chồng, và rồi George hôn lên trán cô trước khi biến mất vào phòng mình. Phòng Amina ngủ không có rèm, và cái cây bên ngoài đổ bóng xiên xiên thành hình thù lạ lẫm trên sàn nhà. Tuyệt đối tĩnh lặng. Ngay cả khi cô có phòng riêng ở nhà, vẫn luôn có tiếng động gì đó từ ngoài đường vọng vào—còi xe, tiếng trẻ con khóc, tiếng chó sủa—không kể đến tiếng ngáy đáng kể của cha cô từ phía bên kia bức tường.

Thường thì cô mặc một chiếc áo phông dài tay và quần pajama đi ngủ, nhưng trong đêm thứ ba cô đã thử nghiệm đi vào phòng tắm với chỉ độc chiếc kameez trên người. “Trong em đáng yêu lắm,” George nói, nghe thế cô thấy mạnh dạn hẳn; khi anh cúi xuống hôn lên trán cô, như thường khi, cô nhìn lên, và thé là họ thực sự hôn bằng miệng. (Chuyện này hai người đã làm ở dưới nhà, trên trường kỉ lúc ban ngày rồi, nhưng chưa làm buổi tối bao giờ.) Amina cố tưởng tượng chiếc áo may sẵn thông thường của cô là một chiếc saricưới thêu tay, và khi cô áp sát cơ thể mình vào người chồng chưa cưới, anh bật ra một âm thanh lạ lùng. Cứ như thể có một con người khác trong anh, chưa từng lên tiếng cho tới tận lúc này. Giọng nói khe khẽ, mới mẻ ấy—và sự thật là cô chính là nguyên nhân—là điều khiến cô cầm tay George và theo anh vào phòng ngủ của anh.

Cô ngạc nhiên thấy nó mới khó chịu làm sao, không như nụ hôn trong phòng tắm, điều đã đem lại cho cô cảm giác ở giữa hai chân giống như thi thoảng cô xem diễn viên hôn nhau trên tivi. Nó không đau như lời Ghaniyah nói, nhưng cô phát ngốt khi George nằm trên người cô, và cô không thích bộ dạng của anh khi anh nhắm mắt—như thể anh bị đau ở chỗ nào đó rất xa. Mặt khác, cách anh lo lắng sau khi xong chuyện thật ngọt ngào, băn khoăn xác nhận xem đó có thật là điều cô muốn chăng. Anh hỏi liệu cô có phiền lòng khi phá vỡ lời hứa với mẹ cô, và sáng hôm sau, lần đầu tiên thức dậy bên cạnh một người không phải thành viên gia đình mình, cô ngạc nhiên khi thấy mình chẳng mảy may ân hận.

 

Cô nói với George rằng cô không cần váy cưới, rằng cô hạnh phúc được làm đám cưới với những trang phục mà cô sẵn có. Cô đã mua ba bộ váy mới trước khi tới Rochester, vì may đo ở nhà thì rẻ hơn nhiều.

“Đó là lý do mà anh yêu em!” George nói, đập tay lên bàn bếp, như thể anh mới thắng một cuộc cá cược. “Em có hơn rất nhiều so với những người phụ nữ khác.”

Amina nghĩ rằng thế là đã ổn, nhưng đến tối George nói chuyện với Ed, cùng văn phòng anh, anh này nhắc George rằng sau cùng thì họ sẽ phải trình ảnh cưới của mình cho bên Sở Nhập cư và Nhập tịch(13).

“Ed nói rằng một bộ váy trắng thì sẽ dễ dàng lấy thẻ xanh hơn,” George nói. “Jess em họ anh sẽ dẫn em đi mua. Cứ mua gì mà em thích nhé.”

Mẹ cô muôn cô kết hôn trong bộ sari. Amina lập luận rằng kiểu đám cưới ấy, với trang sức vàng, orna màu đỏ thiếc, và đôi tay vẽ henna, thì thực sự là kiểu Hindu nhiều hơn là Hồi giáo, và chừng nào mà cô phải mặc đồ ngoại quốc thì tốt nhất đó nên là đồ Mỹ.

“Không cần sari màu đỏ,” mẹ cô thừa nhận. “Thế còn xanh lam thì sao? Hoặc xanh lục?”

“Đó phải là một bộ váy trắng,” Amina nói. “Đó phải là một đám cưới kiểu Mỹ thực thụ.”

“Sari trắng cũng được mà,” mẹ cô nói. “Bọn con gái bây giờ có làm thế. Mẹ thấy trên báo Trendz.” Từ lúc cô đi, mẹ cô dành hàng giờ mỗi ngày ở tiệm Internet café ở Savar. Thật tuyệt vời cho Amina khi mẹ cô có thể vào được những trang tiếng Anh như Daily Star, từ đó bà biết vào mục Life Style, nó thể hiện “những nhà hàng mới nổi”, và “dép mùa hè lấp lánh,” công thức làm bánh mì nướng kiểu Pháp và bít tết Bourguignonne, và các mẹo trang trí (“Làm sao để sơn màu mùa xuân rực rỡ cho một bức tường phòng khách của bạn?”).

“Một bộ váy,” Amina dứt khoát. “Đó là những gì mà Sở Nhập cư và Nhập tịch muốn.”

Dĩ nhiên là mẹ cô không thực sự quan tâm về bộ váy, cũng như bà sẽ chẳng bao giờ cân nhắc ghé tới một nhà hàng (ai mà biết được ở đó nhà bếp có thể bẩn tới mức nào) hay sơn “màu mùa xuân rực rỡ” cho một bức tường trong căn phòng mà bà đánh răng, thái rau, và là quần áo. Bộ váy trắng là cái cớ cho mẹ cô nói về điều mà bà vốn đã băn khoăn ngay từ đầu—rằng Amina và George sẽ không được làm hôn lễ cho đúng cách, bởi cả một công chức Mỹ và một giáo sĩ Hồi giáo.

 

Đó là một chiếc váy cưới không tay bằng vải organdie trắng, có hoa xếp trắng đính trên cổ và ngực. Cô và Jessica thoả thuận bỏ tấm mạng che mặt, nhưng kể cả thế thì chiếc váy vẫn tốn hơn ba trăm đô la, không bao gồm các điều chỉnh. Amina đứng trên một cái hộp gỗ với một cái kẹp như kẹp giấy khổng lồ ở hông, cố không khóc.

“Cười lên nào!” cô gái bán hàng nói. “Rất nhiều cô gái thà chết để có được thân hình như của chị.”

“Không đùa đâu,” Jessica nói. “Em đã không còn gầy kể từ hồi em mười bốn tuổi.”

“Chị không thích nó à?” cô gái bán hàng hỏi.

“Chị ấy sững sờ. Hãy đợi tới lúc George thấychị như thế.”

Jessica vui vẻ tán gẫu với cô gái bán hàng khi họ trả tiền bộ váy bằng thẻ của George, nhưng khi họ ở trong xe, cô ấy hỏi Amina liệu mọi chuyện có ổn không.

“Mọi chuyện đều ổn,” Amina nói. “Chỉ là nó đắt quá.”

“George chẳng quan tâm đâu,” Jessica nói. “Tin em đi, em biết mà. Chị chắc là không có chuyện gì nữa chứ?”

Thường khi Amina cảm thấy nỗi nhớ nhà ập tới, cô có thể tự làm phân tán bản thân bằng cách làm việc nhà gì đó. Hút bụi thì đặc biệt hữu ích. Giờ đây, ngồi trong xe cạnh em họ của George, cô không sẵn sàng đón nhận cơn căng cứng nơi lồng ngực đột ngột ập tới, hay nhìn thấy một tấm màn phủ rơi lên vạn vật, làm cho bầu không khí trong lành của Rochester và những bãi cỏ non xanh mướt, và thậm chí cả bên trong chiếc xe mới tinh, rộng rãi của Jessica, trở nên buồn thảm và tồi tàn. Em họ của George rất tốt, và vẫn chẳng có cách nào Amina có thể giải thích cho cô ấy hiểu chuyện tồi tệ gì đang thực sự xảy ra. Khi họ dừng đèn đỏ, Jessica quay sang Amina và đặt tay lên tay cô.

“Bởi nếu có chuyện gì không hay giữa chị và George, em muốn chị biết là chị có thể kể cho em. Em biết lắng nghe.”

“À, không,” Amina nói, “George không phải là vấn đề,” và Jessica phá ra cười, mặc dù Amina không cố gây hài. Cô nhận thấy Jessica sẽ không để cho cô yên lặng, thế là cô tìm câu hỏi.

“Cái từ ‘sững sờ’ có nghĩa là gì vậy?” cô hỏi, cảm thấy hơi thiếu trung thực. Cô đã gặp từ đó lần đầu tiên trong một bài hội thoại trong sách, một cuộc nói chuyện giữa bà Mulligan và ông Fredericks—“ ‘Tác phong của ông khiến tôi phải sững sờ, ông Fredericks,’ bà Mulligan thốt lên”—và vì lý do nào đó mà đoạn ấy dính luôn vào đầu Amina. Đôi lúc, khi ai đó khạc nhổ trên phố trước mặt cô, khi một người phụ nữ khuỳnh tay ra chen lối đi trong chợ, hay khi cô bắt gặp một bạn học cũ ở Hội đồng Anh và cô gái kia ngọt ngào hỏi thăm liệu cha cô có còn thất nghiệp không, cô đều nghĩ về bà Milligan và bà ấy hẳn phải sững sờ biết mấy nếu bà ấy có từng đặt chân đến Bangladesh.

“À, ờ—ngạc nhiên. Có nghĩa là ngạc nhiên. Em cá là chị muốn biết lúc ấy em nói chuyện gì!”

Nhưng từ ấy đâu chỉ có nghĩa là ngạc nhiên. Nó có nghĩa là cực kì ngạc nhiên tới mức không nói nổi. Khi em họ Jessica tiếp tục nói—về cân nặng của cô ấy và Amina, về đồ cô ấy ăn, không ăn, hay định ăn—Amina tập trung gật đầu và tạo ra những âm thanh ra vẻ cô hiểu. Hoàn toàn có thể sững sờvới tất cả các cảm xúc, không chỉ mỗi ngạc nhiên, và khi họ về tới Pittsford, Amina nghĩ dễ phải có cả một bộ từ vựng để bao hàm những kiểu im lặng khác nhau ấy.

 

buổi tiệc mừng đính hôn dành cho cô dâu, dì Louise muốn biết loại hoa yêu thích của Amina, và đã lịch sự lắng nghe khi Amina giải thích về krishnachura(14) và nguồn gốc lãng mạn của cái tên ấy. Cô cảm thấy thật ngốc khi dì Louise có mặt ở toà thị chính trong buổi sáng ngày thành hôn, mang theo một bó hoa tử đinh hương và xin lỗi vì không thể tìm được hoa krisnachuraở Rochester. Rồi mẹ George đến với tấm mạng che mặt trong đám cưới của bà, bà đã rụt rè đề nghị tặng nó cho Amina dùng trong buổi lễ.

“Cô ấy không muốn một tấm mạng che mặt,” George nói, khó chịu với mẹ, nhưng Amina về phe với mẹ chồng, giống như mọi cô dâu đều làm ở quê nhà. Jessica dùng vài cái vòng nhỏ mà người thợ làm tóc đã tạo ra và ghim tấm mạng để giúp Amina có thể đeo nó treo sau lưng cô. Tiếp theo là một nhóm nhỏ—Jessica, mẹ George, dì Louise và chú Dan, Ed từ văn phòng của George và cô vợ người Philippines của anh ta, Min, và bạn bè đồng nghiệp của George, Bill và Katie—theo sau họ vào văn phòng, nơi họ điền giấy tờ cho bản đăng kí kết hôn. Amina nghĩ chuyện này chính nó là đám cưới, nên cô rất bối rối khi người thư kí hướng dẫn họ đi vào một căn phòng nhỏ hơn, có trải thảm với một cái ghế băng và nói họ đợi.

“Có vấn đề gì hả anh?” cô hỏi George, nhưng anh bị mấy người bạn làm phân tâm, họ đang mải chụp ảnh và cười nói. “Có chuyện gì không ổn à?”

“Ngồi xuống đi,” mẹ George nói, nhưng dì Louise giữ tay cô và kéo cô đứng dậy ngay.

“Cẩn thận!”

“Sao thế ạ?” Amina nói, cố gắng không để giọng mình trở nên hoảng loạn. Đã hàng tuần liền cô bị thuyết phục rằng sẽ có chuyện gì đó xảy ra ở buổi lễ; sáng nay cô đã cầu nguyện—không phải để không có gì sai lệch mà là cho cô chuẩn bị đủ để chứng kiến nó xảy tới và đủ tháo vát để tìm ra cách xử lý.

“Nếu cháu ngồi, váy của cháu sẽ bị nhăn mất,” dì Louise nói.

“Nào,” mẹ George nói, đặt tay lên lưng Amina. “Tới lượt các con rồi.” Và Amina thở phào khi thấy một cánh cửa mở ra ở phía bên kia phòng, và một người đàn ông thấp, hói đầu trong bộ vét, một người đàn ông trông như thể không gì trên trái đất có thể làm xáo động sự bình tĩnh của ông ta, đang ra hiệu cho họ tiến vào. Cô hiểu rằng đám cưới đang tiếp diễn đúng như kế hoạch, và cô cẩn thận nhìn quanh phòng vì cô biết mẹ mình sẽ muốn nghe chính xác xem nó trông như thế nào. Có mấy cái cây trong chậu, thân cây kiểu tóc bện ở hai bên cửa sổ, và ba hàng ghế nhựa xếp màu trắng, người nhà và bạn bè George ngồi hết một nửa. Phó thư ký hội đồng thành phố đứng sau một bục gỗ phía dưới hai chứng chỉ được đóng khung vàng. Vì ánh sáng từ cửa sổ loé lên trên chiếc kính, nên Amina không thể nhìn thấy mắt ông ta.

Cô không mong đợi mình sẽ hồi hộp. George đã nói cho cô biết vai trò của cô, và Amina tự cho phép tâm trí mình lang thang trong lúc đợi phần mình. Khi cô rời khỏi Desh, cha mẹ cô vẫn có khả năng đến được Rochester dự hôn lễ. Chín mươi ngày có vẻ như đủ để thu xếp, nhưng khi George lên mạng xem vé thì giá đã gần một ngàn năm trăm đô mỗi vé, kể cả nếu cha mẹ cô quá cảnh ở Dubai và Hamburg, Đức. George sẵn sàng giúp chi trả tiền vé, nhưng cô nhận thấy anh không mấy vui vẻ với chuyện ấy, nên cô đã gọi cho cha mẹ mình và nói ra quan điểm của mình: thật là phí tiền. Toàn bộ đám cưới sẽ diễn ra trong khoảng một tiếng rưỡi (kể cả thời gian lái xe), và Amina cùng cha mẹ cô đồng tình rằng bay hai mươi giờ đồng hồ chỉ để có mặt ở đó cho một chuyện hết chưa đến hai giờ thì hơi vô lý.

Cuối cùng, như cô đoán, vấn đề không phải ở cha cô mà là mẹ cô. Mẹ cô ban đầu đồng ý, và họ còn lên hẳn một kế hoạch khác: ngay khi Amina và George có thể quay lại Dhaka, họ sẽ mua trang phục đám cưới và Amina sẽ đi tới thẩm mỹ viện; rồi họ sẽ tới studio và chụp ảnh cưới. Sau khi họ đã có ảnh rồi thì mẹ cô có thể ngắm suốt ngày: sẽ không khác gì so với việc cả nhà mừng đám cưới cùng nhau.

Amina nghĩ mẹ cô sẽ hài lòng, nhưng vài đêm sau cô nhận được một cuộc điện thoại. Mẹ cô khóc, và thật khó để hiểu được bà. Cha cô nói cô không nên lo lắng, nhưng khi cô hỏi tại sao mẹ cô khóc thì ông nói, “Bà ấy khóc vì bà ấy sẽ bị lỡ mất đám cưới của con. Bà ấy sẽ bị lỡ nó vì bố không thể lo được tiền vé.”

“Không!” Amina nói. “Chũng ta đã quyết định rồi mà—vô lý quá. Ba ngàn đô la cho một buổi tiệc!”

“Tiệc đám cưới của con. Loại cha mẹ nào mà lại không đến dự đám cưới của con gái mình?”

Cô bắt đầu tranh cãi, nhưng cha cô không nghe. Mẹ cô đang nói gì đó ở ngoài.

“Mẹ nói gì vậy ạ?”

Cha cô dừng lại lâu tới mức cô còn tưởng cuộc điện thoại bị ngắt, nếu không có âm thanh từ ngoài vọng vào. Đang là buổi sáng ở MOhammadpur, và Amina nghĩ cô có thể nghe thấy người bán hàng rong rao bên ngoài cửa sổ: “Ớt đê! Trứng đê! Chổi lông hảo hạng đê!”

“Bà ấy nói rằng con đừng bao giờ ra đời thì hơn,” cuối cùng cha cô nói.

 

“Liệu cô, Amina Mazid, có đồng ý lấy người đàn ông này, George Barker, làm chồng hợp pháp của mình không?” người thư kí thành phố hỏi.

“Tôi đồng ý,” Amina trả lời.

George được hỏi, và rồi người thư kí tuyên bố họ là vợ chồng. “Hai người có thể hôn nhau,” ông ta nói.

George ngả người về phía cô và Amina lùi lại. Từ dưới hàng ghế, em họ Jessica nấc lên. Mặt George nhăn lại như miệng túi dây rút, và khi Amina liếc ra phía sau cô thấy một cơn co thắt y hệt như vậy trên khuôn mặt mẹ chồng mới. Cô vội bước tiến lên phía George, mỉm cười cho anh thấy đó chỉ là một lỗi sai, rằng tất nhiên là cô muốn hôn anh trước mặt gia đình và bạn bè anh.

Nhiều giờ sau, sau khi uống cocktail ở nhà dì Louise và chú Dan, tiệc đãi khách ở nhà hàng Giorgio’s Trattoria, và rồi đồ ngọt, café, và mở quà cưới ở nhà mẹ George (bây giờ bà nhấn mạnh Amina gọi bà là “Mẹ”), khi họ đã về nhà, cùng nhau lên giường muộn hơn rất nhiều so với ngày thường, George hỏi tại sao lúc ấy cô lại không muốn hôn anh.

“Anh đã không nói với em,” cô giải thích.

“Em không biết là có màn hôn nhau ở đám cưới á?”

Amina phải nghĩ mất một phút, vì dĩ nhiên là cô biết. Cô biết từ khi cô chín tuổi và dì Hai đã mua một cái tivi. Cô đã xem cảnh đó trên phim “Dallas” và “L.A. Law” và “The Fall Guy,” và rồi, gần đây hơn, trên tivi của riêng cô ở nhà. Chẳng có lý nào để giải thích cho sự né tránh của cô cho George.

“Em biết. Em đoán là em đã không tin nổi rằng chuyện ấy sẽ xảy đến với em.”

“Em đã hôn anh cả trăm lần,” George nói, bằng cái giọng gợi ý cho Amina rằng họ sắp sửa có trận cãi nhau đầu tiên. Cô muốn tránh, nhất là đêm nay, bởi nếu có điều gì mà cô tin tưởng ở hôn nhân thì đó là chuyện cãi nhau theo kiểu cha mẹ cô chỉ tổ tốn thời gian.

“Không chỉ là nụ hôn. Mà là cả cuộc hôn nhân.”

“Em không tin rằng chúng ta sẽ lấy nhau? Vậy em nghĩ lúc ấy chúng ta đang làm gì?”

“Ở Desh, anh có thể lên kế hoạch, nhưng thường không thành công.”

“Còn ở Mỹ?”

“Ở Mỹ anh lên kế hoạch và rồi kế hoạch êm xuôi.”

Nghe cô giãi bày, George cuối cùng cũng cười. “Vậy là em định hôn anh, nhưng rồi em ngạc nhiên khi thấy chuyện ấy thực xự xảy ra.”

Amina lưỡng lự, nhưng chồng cô kiên nhẫn cho tới khi cô tìm được đúng từ.

“Không chỉ là ngạc nhiên,” cô nói. “Em đã sững sờ.”


(1) ND: nguyên văn ‘cul-de-sac’.

(2) ND: Nanu trong tiếng Bangladesh có nghĩa là ‘bà’       

(3) ND: món đậu lăng nấu bơ truyền thống.

(4) ND: món ăn chế biến từ gạo, đậu lăng hoặc các loại đậu nấu nhanh như đậu xanh.

(5) ND: trang phục truyền thống của phụ nữ.

(6) ND: một loại trang phục truyền thống cho cả nam và nữ.

(7) ND: trường đại học bang ở Buffalo, Newyork, Mỹ.

(8) ND: chương trình dạy tiếng Anh của Đài Tiếng nói Hoa Kỳ (VOA).

(9) ND: một loại trang phục truyền thống cho cả nam và nữ.

(10) ND: vị phu nhân cao quý.

(11) ND: da sáng màu.

(12) ND: từ để chỉ con người, văn hoá mang đậm tinh thần của tiểu lục địa Ấn Độ.

(13) ND: INS – Immigration and Naturalization Service.

(14) ND: hoa phượng trong tiếng Bangladesh.

Copyright © 2010 by Nell Freudenberger.

ThKh chuyển ngữ không có sự đồng ý của tác giả.

———-

ThKh – 2019

ThKh là một bút danh khác của ChuKim, một người viết tự do, sống và yêu tại một ngôi làng mang tên thành phố. Nếu có thể, hãy ủng hộ và khích lệ bằng cách đọc và chia sẻ những gì anh viết trong khả năng của bạn. Xin cảm ơn.

– natchukim.cogaihu@gmail.com –

PS: Tất cả nội dung trong blog này đều được tuyên bố quyền sở hữu và quyền tác giả về nội dung, ngoại trừ những bài sưu tầm có đề rõ. Mọi trích dẫn, đăng lại, vui lòng ghi rõ nguồn. 

 

One thought on “Truyện ngắn: Hôn nhân mai mối – Nell Freudenberger

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s