Truyện ngắn: Lối thoát chân thật – Dinaw Mengestu

Dinaw Mengetsu (1978-) là nhà văn người Mỹ gốc Ethiopia. Ông đã xuất bản các tiểu thuyết The Beautiful Things That Heaven Bears (2007), Children Of The Revolution (2007), How To Read The Air (2010), All Our Names (2014).

Dinaw Mengetsu (Grafilu - newyorker.com).jpg
Minh hoạ: Grafilu – newyorker.com

‘Lối thoát chân thật’ (An honest exit) là truyện ngắn trích đoạn từ tiểu thuyết How To Read The Air của Dinaw Mengestu được đăng trong tuyển tập 20 under 40 (2010) của tạp chí The New Yorker. 


Lối thoát chân thật

Ba mươi lăm năm sau khi rời khỏi Ethiopia, cha tôi chết trong một căn phòng ở một nhà trọ tại Peoria, Illinois, có một góc phần nào nhìn thấy được con sông. Suốt cuộc đời ông, chúng tôi không mấy nói chuyện, nhưng, vào một buổi sáng tháng Mười ấm áp ở New York không lâu sau khi ông chết, tôi thấy mình chuyện trò cùng ông khi tôi đi bộ lên phía Bắc trên Đại lộ Amsterdam, hướng tới trường cấp ba nơi tôi dạy môn văn học Mỹ thời kì đầu cho học sinh lớp chín suốt ba năm qua.

“Ngay kia là Học viện,” tôi nói với ông. “Bố có thể thấy đỉnh tháp chuông qua hàng cây. Con là người duy nhất gọi nó là Học viện. Đó không phải là tên thật của nó. Con nhảy cái tên ấy trong một truyện ngắn của Kafka con đọc ở đại học—một con khỉ được tập nói có bài diễn văn trước một học viện. Con vẫn thường tự hỏi liệu rằng đó có phải cách mà học trò của con cùng các giáo viên khác, bất kể tất cả nền tảng văn hoá, tự do của họ, nhìn con—như một con khỉ cố gắng dạy ngược lại cho họ ngôn ngữ của họ. Bố có nhớ cách bố nói không? Con ghét nó. Bố thường dùng những câu ngắn, lủng củng nghe như thể bố khạc nhổ ra từ ngữ, như thể bố mới vừa học xong nhưng đã ngay lập tức coi thường chúng, ngay cả những câu đơn giản nhất. ‘Lấy cái này.’ ‘Đừng chạm vào.’ ‘Đi ngay.’ ”

Tôi đến lớp mười phút trước khi chuông reo, khi những học sinh đầu tiên bắt đầu xuất hiện nhỏ giọt. Chúng là những đứa thông minh nhất, và chọn chỗ ngồi gần trung tâm. Số còn lại đến chẳng theo một trật tự nào, nhưng tôi nhận ra rằng tất cả, ngu si cũng như thông minh, có vẻ là hầu như không nói chuyện, hoặc là, nếu chúng nói chuyện, thì cũng chỉ thầm thì. Phần lớn nói xin chào khi vào, nhưng giọng chúng lưỡng lự hơn thường khi, như thể chúng không chắc đây có đúng là nơi chúng cần đến hay chăng.

“Thầy xin lỗi vì đã lỡ mất buổi dạy ngày hôm trước,” tôi bắt đầu, và bởi tôi cảm thấy bắt buộc phải giải thích cho sự vắng mặt của mình, tôi nói với chúng sự thật. “Cha thầy mới mất. Thầy phải lo việc cho ông ấy.”

Và như thế, vì tôi mới vừa chuyện trò xong với cha tôi, tôi cảm thấy mình chưa nói đầy đủ. Nên tôi tiếp tục. “Cha thầy thọ sáu mươi bảy tuổi. Ông sinh ra ở một ngôi làng nhỏ phía bắc Ethiopia. Ông rời khỏi nhà năm hai mươi ba tuổi để đến một thị trấn cảng ở Sudan với mục đích tới được đây.”

Và trong khi tôi có thể dừng lại ở đó thì tôi lại chẳng muốn vậy chút nào. Tôi muốn một lịch sử trọn vẹn hơn những mảnh vụn bị bóp nghẹt mà ông từng sở hữu và truyền lại cho tôi—một câu chuyện tàn khốc, ngắn ngủi về việc mắc kẹt như kẻ đi lậu trên một con tàu. Thế là tôi tiếp tục câu chuyện của cha mình, chắc mẩm mình có thể thêm thắt những tình tiết vốn thiếu hụt khi kể chuyện.

Trước khi rời Ethiopia ông là một kĩ sư, tôi nói với lũ học trò, nhưng sau khi ở tù vài tháng vì tham gia vào một cuộc hội họp chính trị bị chính quyền ngăn cấm, ông trở về vạch xuất phát. Ông biết nếu trở về nhà, ông sau cùng ông sẽ bị bắt lại, và rằng ông sẽ khó mà sống sót nổi qua lần này, nên ông đem tất cả những gì còn lại của mình và đi theo một nhóm người nói với ông rằng họ đang tới Sudan, vì đó là lối thoát duy nhất.

Ông đi bộ về phía tây trong một tuần. Ông chưa bao giờ đặt chân lên vùng này trên đất nước. Mọi thứ đều bằng phẳng, từ mặt đất cho tới đường chân trời, một dòng chảy miên man mà ngay cả một đám mây cũng không thể phá bĩnh. Những cánh đồng đầy ắp cỏ xanh và hoa vàng nở rộ. Cuối cùng ông cũng xin được lên nhờ một chiếc xe tải vốn đã đông kín người di cư đang hướng về phía biên giới. Cứ sau mỗi vài giờ, họ lại đi qua một ngôi làng, đều là một đám lều tranh có một con đường đất bụi bặm được làm sơ sài ở giữa, đám trẻ con vẫy tay cuồng nhiệt với những người di cư đi ngang qua, như thể một sự thật giản đơn rằng họ đang đi trên một chiếc xe tải có nghĩa là họ đang tới một nơi nào đó tốt đẹp hơn.

Dinaw Mengetsu - An honest exit (minh hoạ - Emmanuel Guibert - newyorker.com).jpg
Minh hoạ: Emmanuel Guibert – newyorker.com

Sau khi cuối cùng ông cũng tới được thị trấn cảng ở Sudan, ông đã sụt mất mười hai pound. Cái mũi hơi nở to của ông trái ngược hoàn toàn với đôi má trũng và cặp mắt lớn dường như bị chôn sâu bên trên. Quần áo chẳng còn vừa với ông nữa. Hai bàn tay ông trông to ra; xương xẩu nhìn rõ hẳn. Ông nghĩ ngón tay của mình đã mọc dài thêm.

Đây là nơi xa nhà nhất mà ông từng đến, nhưng ông biết mình không thể ở lại đây. Ông muốn đi hẳn khỏi lục địa này, tới châu Âu hoặc Mỹ, ở đó người ta đồn rằng cuộc sống tốt đẹp hơn.

Đó là bến cảng lâu đời nhất ở Sudan và là một trong những thành phố lâu đời nhất trên đất nước. Vào thời vàng son, từng có năm mươi ngàn người sống ở đó, nhưng giờ chỉ còn một phần dân số còn ở lại. Vài cuộc chiến đã diễn ra quanh đó, lần cuối cùng vào năm 1970, giữa một nhóm nhỏ quân khởi nghĩa và chính quyền. Có xác xe tăng bị thiêu rụi ở rìa thị trấn và hàng tá nhà cửa tan tành một nửa bị bỏ hoang. Khắp nơi là cát bụi, và phần lớn các ngày nhiệt độ lên tới gần một trăm độ(1). Người dân ở đây là loại bần cùng mạt hạng. Một số là ngư dân nhưng phần lớn thì vất vưởng cả ngày ở bến tàu, tìm việc bốc dỡ thùng hàng từ hàng tá tàu vận chuyển hàng hoá ở cảng. Cha tôi được mách rằng ông có thể tìm được việc làm ở đó, và rằng nếu ông kiên nhẫn kiếm đủ tiền ông có thể mua được lối thoát khỏi đất nước trên một trong những con tàu ấy.

 

Chuông hết tiết một vang lên. Các học sinh của tôi đợi một chút trước khi thu dọn đồ đạc và ra khỏi lớp; chúng chẳng bị ép buộc hay ngăn cản gì bởi chuyện tôi kể cho chúng. Tôi cố gắng nhìn tất cả một lượt trước khi chúng đi mất. Với tôi, chúng vốn luôn chỉ là người đời, một số người theo quy định đến và đi mỗi ngày trong suốt cả học kì cho tới khi lại có một một số khác tới thay thế, số này cũng hệt như vậy. Thế mà, trong vài giây, tôi thấy chúng thật rõ ràng—mái tóc rối bù có chủ đích của lũ con trai và vẻ điềm tĩnh gọn gàng, khéo léo của bọn con gái trong chiều ngược lại. Chúng vẫn đang trong quá trình khôn lớn, từng đứa trong số chúng. Vì một lẽ nào đó mà tôi đã bỏ qua điều này. Chẳng đứa nào quay đi hay né tránh ánh mắt của tôi, khiến tôi tin rằng mình có thể tiếp tục nhìn chúng.

Khi tôi đi bộ về nhà tối hôm đó, tôi nhận thấy có một cơn lốc e-mail và tin nhắn giữa bọn học sinh của mình. Hàng triệu bit dữ liệu vô hình được truyền qua những sợi dây cáp ngầm và hệ thống mạng vệ tinh, và chủ đề và đối tượng quan tâm duy nhất của chúng là tôi. Tôi không biét tại sao mình lại thấy rất thoải mái với suy nghĩ ấy, nhưng nó khiến tôi lâng lâng ngây ngất, và bỗng nhiên, ở khắp nơi, tôi cảm thấy được nâng niu. Khi tôi bước xuống Đường Riverside, với Sông Hudson và dòng xe cộ ùn ùn cuốn lên xuống Xa lộ West Side ở phía bên tay phải tôi, những ranh giới và phân mảng của khu dân cư được kiểm soát chặt chẽ đã chẳng còn mấy quan trọng.

 

Ngày hôm sau ở Học viện, tôi bảo học sinh của mình lúc đầu giờ rằng chúng có thể cất tuyển tập văn thơ và mấy tờ bài tập của chúng đi được rồi. “Giờ thì chúng ta không cần những thứ ấy,” tôi nói.

Công việc đầu tiên của cha tôi ở bến cảng là mang trà cho các công nhân ở cảng, một công việc mà thu nhập duy nhất của ông là tiền boa—vài xen chỗ này chỗ kia tích dần lên. Một ngày bình thường, ông sẽ phục vụ đâu đó khoảng ba cho tới năm trăm tách trà. Ông có thể mang cỡ mười tách một lúc trên một cái khay lớn bằng gỗ mà ông đã học cách giữ cân bằng trên cẳng tay mình. Khi còn nhỏ ông khá vụng bề; cha ông thường quát ông vì làm vỡ ly hoặc vì chẳng tài nào mang nổi cho cha ông một cốc cafe mà không làm đổ ít nhiều. Vậy nên ngay khi nhận được công việc này, ông bắt đầu luyện tập ban đêm bằng một cái mâm đựng đầy đá nặng tương đương số lượng tách trà. Nếu mấy hòn đá xê dịch, ông biết mình đã làm hỏng và sẽ thử lại, cho tới khi cuối cùng ông cũng có thể đi bộ vài dặm mà không làm rớt giọt trà nào hay làm xê dịch lấy một hòn đá.

Ông cất tiền kiếm được trong một cái túi khâu ở mặt trong quần dài. Một người bạn của ông trong thị trấn, một người tên là Abrahim, đã dặn ông không bao giờ để người khác biết ông có bao nhiêu tiền: “Nếu ai đó thấy cậu có hai đô, hắn sẽ nghĩ cậu có hai mươi. Làm cho người ta nghĩ cậu tay trắng thì bao giờ cũng hơn.”

Abrahim là người đã tìm cho cha tôi việc bưng bê trà. Ông ta gặp cha tôi trong ngày thứ ba ông tới thị trấn và ngay lập tức biết ông là người ngoại quốc. Ông ta tới chỗ cha tôi và nói, bằng thứ tiếng Anh tuyệt hảo, “Xin chào. Tên tôi là Abrahim, như tên của nhà tiên tri ấy. Để tôi giúp cậu trong lúc cậu ở lại thị trấn này.”

Ông ta thấp hơn vài inch và ăn mặc đẹp hơn phần lớn những người đàn ông mà cha tôi từng gặp ở đó. Đầu ông ta bị hói, chỉ còn sót lại hai nhúm tóc muối tiêu cong cong phía sau hai tai. Ngón áp út và ngón út trên bàn tay phải của ông ta trông như thể chúng từng bị bẻ gãy và rồi bị buộc lại với nhau. Ông ta khẽ cúi đầu khi tự giới thiệu về mình và bước đi với dáng vẻ có thể gọi là hơi cà nhắc, điều này khiến tâm trí cha tôi cảm thấy có thể tin tưởng ông ta dễ dàng hơn.

Ban đầu, cha tôi ngủ ngoài trời, gần cảng, nơi có hàng trăm gã khác cũng dựng trại, phần lớn là người di cư như ông. Abrahim đã bảo ông rằng ngủ một mình rất nguy hiểm, nhưng ông ta cũng nói rằng nếu ông ngủ trong thị trấn thì ông nhất định sẽ bị cảnh sát đánh đập và bắt bớ.

Sau một tuần ở đó, ông nghe thấy tiếng bước chân ngay gần đầu mình khi mới vừa thiu thiu ngủ. Khi ông mở mắt và nhìn lên, ông thấy ba gã đứng gần đó, lưng họ hơi quay về phía ông, nên ông chỉ có thể nhìn thấy mấy bộ djellabah(2) của họ, bẩn nhưng không tới nỗi dơ hầy như của vài người khác mà ông thấy gần đây. Khi ông quan sát, một trong ba người từ từ nhấc tay lên không, như thể hắn đang vật lộn để đưa thứ gì đó qua đầu. Hắn đọc một lời cầu nguyện mà cha tôi đã nghe vài lần trên đường tới Sudan và trong vài dịp ở Ethiopia  tại nhà những người bạn theo đạo Hồi. Gã đàn ông lặp lại lời cầu nguyện lần thứ hai và rồi lần thứ ba, và khi hắn kết thúc, hai gã còn lại quỳ xuống và vác lên một vật ban đầu nhìn như một bao ngũ cốc nhưng một giây sau cha tôi nhận ra là một xác người. Người đàn ông đã nằm đó khi cha tôi đi ngủ. Không có gì cho thấy ông ta đã chết hay bị thương. Khi cha tôi kể cho Abrahim vào sáng hôm sau, ông ta phản ứng đơn giản: “Đừng nghĩ quá nhiều về chuyện đó. Rất dễ chết ở quanh đây mà chả có ai nhận ra cả.”

Ông ta hứa sẽ tìm cho cha tôi một chỗ ngủ tốt hơn, và ông ta làm được. Trong ngày hôm đó, ông ta thấy cha tôi đang chuẩn bị chiếu ở gần cảng, và nói ông đi theo ông ta. “Tôi có một bất ngờ cho cậu đây,” ông ta nói.

Người chủ nhà trọ nơi ông sẽ ở lại từ nay là một đối tác làm ăn của Abrahim. “Chúng tôi cộng tác với nhau nhiều năm rồi,” Abrahim nói với cha tôi, mặc dù ông ta chẳng bao giờ giải thích công việc của mình. Khi cha tôi hỏi làm sao ông có thể đền đáp lại lòng tốt của ông ta, ông ta gạt đi. “Đừng lo,” Abrahim nói với ông. “Cậu có thể giúp tôi sau.”

 

Không như phần lớn những gì tôi đã kể cho học sinh của mình cho tới lúc này, Abrahim thực sự có một quá khứ mà tôi có thể bỏ qua. Cha tôi vẫn thường nhắc đến ông ta, không phải như một phần bình thường của cuộc đối thoại, mà như một ghi chú giản đơn có thể xuất hiện bất kì lúc nào mà không hề báo trước. Rất tự nhiên, cha tôi thường nói rằng Abrahim là người bạn thực sự suy nhất là ông từng có, và trong vài dịp ông thừa nhận ông ta đã cứu mạng mình. Những lần khác, cha tôi cho rằng thế giới đầy rẫy những kẻ đốn mạt, và rằng sau trải nghiệm của ông với một thằng cha tên là Abrahim ở Sudan, ông sẽ không bao giờ tin tưởng một người Sudan, Hồi giáo, hay châu Phi nào thêm lần nữa.

Nhân vật Abrahim bước vào đời thực trong lớp của tôi là một con người cao thượng hơn xa so với tôi từng tưởng tượng trước đó. Nhân vật Abrahim này có sự tinh tế cho những tuyên bố tuy cùn nhưng đầy chất thơ, ví dụ như lần ông ta kể với cha tô rằng đến cả cát ở thị trấn cảng cũng có chất lượng kém hơn so với loại mà ông từng biết ở làng quê mình, cách đó hàng trăm kilomet về phái tây. “Mọi thứ ở đây đều như cứt,” ông ta nói. “Đến cả cát cũng vậy.”

Cuối cùng ông ta cũng tìm được cho cha tôi công việc thứ hai hậu hĩnh hơn, làm khuân vác ở bến tàu. Ông ta nói với cha tôi, “Cậu sẽ trở thành món đầu tư tuyệt nhất của tôi. Mọi thứ tôi làm cho cậu, tôi sẽ nhận lại gấp mười lần.” Hầu như ngày nào Abrahim cũng tới để cùng uống nhanh một tách trà sau giờ cầu nguyện buổi tối, khi hàng trăm cột khói riêng lẻ từ khu trại bốc lên trời. Ông ta sẽ nhéo và kéo hông cha tôi như thể ông là một con dê hay con cừu gì đó và rồi nói, “Cậu mong đợi gì nào? Tôi phải kiểm tra sức khoẻ khoản đầu tư của tôi chứ.” Sau đó, khi sắp rời đi, ông ta luôn đưa ra lời khuyên đơn giản giống hệt nhau:

“Giãn cơ đi, Yosef!” ông ấy sẽ gào lên. “Giãn cơ nhiều vào, cho tới khi cả người cậu lỏng ra như một con khỉ vậy.”

Ở bến tàu, cha tôi mang vác các thùng hàng từ lúc bình minh cho tới giữa trưa, khi trời trở nên quá nóng không thể làm việc nổi. Trước khi tới ca làm việc ở tiệm trà, ông sẽ ngủ trưa dưới bóng cây và ngắm biển, nghĩ về mặt nước trước mắt mình. Giống như phần lớn mọi người, ông lúc nào cũng thèm khát và bị thuyết phục rằng có điều gì đó tàn nhẫn không thể sửa chữa nổi về một nơi có thứ nước không thể uống nổi ở ngay trước mặt mình. Ông tưởng tượng sẽ tự tay làm một con thuyền, đơn giản thôi nhưng đủ chắc chắn để ít nhất có thể vượt qua con vịnh để tới được Ả Rập Xê Út. Và, nếu thất bại, thì ông sẽ tự nhét mình vào một cái hộp và trôi dạt cho tới khi cập vào một bờ biển nước ngoài hoặc chết vì cố gắng.

Ít nhất một hoặc hai lần mỗi tuần, Abrahim sẽ ghé qua phòng đón cha tôi vào buổi tối và đi bộ cùng ông ra bến tàu nhằm mục đích giải thích cho ông cách mà cảng thực sự vận hành. Ánh sáng duy nhất soi đường cho họ đến từ những đốm lửa rải rác quanh những nhóm đàn ông lộn xộn. Bất chấp bóng tối, mọi người thoải mái đi lại còn đông đúc hơn lúc ban ngày. Cứ như thể đó là một thành phố thứ hai bị chôn lấp phía dưới thành phố thứ nhất, và được khai quật lên hằng đêm. Phụ nữ không mang mạng che mặt có thể bị phát hiện dọc theo một vài con đường nhỏ phía sau, còn cha tôi thì có thể ngửi thấy mùi thịt nướng và rượu mạnh.

“Những con tàu mà cậu thấy ở phía xa cuối cảng đều thuộc quản lý của nhà nước,” Abrahim bảo cha tôi. “Họ chở một trong hai thứ: lương thực hoặc vũ khí. Chúng ta chẳng làm được thứ nào ở Sudan cả. Cậu có thể đã nhận ra rồi. Điều này không có nghĩa là chúng ta không yêu hai thứ này như nhau. Có thể là yêu vũ khí hơn đấy. Cậu đã bao giờ thấy một gã đói bụng có súng trong tay chưa? Tất nhiên là chưa. Hãy luôn tránh xa khỏi khu vực ấy của bến cảng. Người của các tướng lĩnh và một viên đại tá báo cáo trực tiếp lên Tổng thống kiểm soát khu đó. Bọn họ cứ như là thần thánh ở thị trấn bé tẹo này vậy, nhưng với những chiếc xe hơi tốt hơn. Nếu một tay lính nhìn thấy cậu, tôi sẽ không thể giúp được gì. Ngay cả Chúa cũng không cứu được một thằng ngu.

“Lương thực lẽ ra sẽ được chuyển đi miền nam. Nó tới từ khắp nơi trên thế giới trong một cái bao lớn vĩ đại mang tên ‘U.S.A.’ Thay vào đó, nó đi thằng tới Khartoum cùng vũ khí. Và cậu biết tại sao không? Bời vì làm cho con người chết đói thì dễ hơn và rẻ hơn so với bắn họ. Đạn rất tốn tiền. Binh lính rất tốn tiền. Giữ tất cả lương thực trong nhà kho thì chẳng tốn xu nào.”

Trong khoá học vài buổi tối, Abrahim tìm đường xuống những hàng dài những chiếc thuyền cập vào bến cảng. Những chiếc yêu thích nhất của ông ta, ông ta nói, là những chiếc ở gần phía cuối.

“Mấy con tàu ở đằng kia—tít phía cuối hướng còn lại ấy. Đó là những con mà cậu cần phải suy nghĩ. Đó là những con sẽ đi tới châu Âu. Cậu có biết làm sao mà cậu nhận ra được không? Hãy nhìn mấy lá cờ. Cậu có thấy cái kia không—màu đen và vàng ấy? Nó sẽ đi tới Ý hoặc Tây Ban Nha. Biết đâu cả Pháp. Vài người làm trên đó là bạn của tôi. Đối tác làm ăn. Cậu có thể tin họ. Họ không như những người còn lại ở đây, những kẻ sẽ cầm tiền của cậu và biến mất.”

Sau đêm hôm đó, cha tôi bắt đầu nghiêm túc tập giãn cơ theo lời Abrahim. Ông tập cho cơ thể quen với rất nhiều tư thế mà ông có thể giữ mười hoặc mười lăm phút, và rồi tới cả tiếng đồng hồ. Buổi tối trước khi đi ngủ ông tập ngồi khoanh chân, và rồi ông giãn lưng bằng cách cuộn mình lại như một trái bóng. Sau bốn tháng ông có thể giữ tư thế đó hàng giờ liền, chính xác là điều mà Abrahim bảo rằng ông sẽ cần làm.

“Vài giờ đầu tiên là khó khăn nhất,” ông ta nói. “Cậu sẽ phải có mặt trên tàu trước khi nó kín chỗ, sau đó cậu sẽ phải hoàn toàn trốn yên một chỗ. Khí khi nào nó ra tới ngoài khơi xa, cậu mới được đi lại.”

Cha tôi nghĩ tới việc viết thư cho gia đình, nhưng ông không biết nói gì. Không ai biết chắc được liệu ông có sống sót không, cho tới khi ông tự tin rằng ông sẽ tồn tại, ông thích cứ giữ như vậy hơn. Như vậy thì tốt hơn là viết thư về nhà và nói, “Chào mọi người. Con nhớ mọi người. Con vẫn còn sống và rất khoẻ,” khi mà chỉ có nửa đầu của lời nói ấy là chắc chắn đúng sự thật vào thời điểm thư tới nơi.

 

Bốn tháng ba tuần sau khi cha tôi tới thị trấn cảng, chiến tranh nổ ra ở miền đông. Một đơn vị đồn trú đóng quân ở một ngôi làng cách đó năm trăm dặm đã nổi loạn, và với sự giúp đỡ của dân làng, họ bắt đầu kiểm soát một dải lãnh thổ rộng hớn dưới danh nghĩa thiết lập một nhà nước độc lập cho tất cả các bộ lạc da đen trong nước. Có những lời đồn về những cuộc thảm sát ở cả hai phía. Ai chịu trách nhiệm cho việc giết chóc là việc luôn phụ thuộc vào chuyện ai đang lên tiếng. Có tin rằng ở một ngôi làng tất cả bọn con trai bị ép phải đào mộ cho cha mẹ và các chị em của mình trước khi chứng kiến họ bị hành quyết. Sau đó chúng bị ép phải gia nhập cuộc nổi dậy cho tới lúc đó vẫn chưa hề có tên.

Các phe phái bắt đầu nổ ra khắp thị trấn. Những người già còn nhớ cuộc chiến trước đó có xu hướng ủng hộ nhà nước, họ cũng đã từng đi lính trước đó rồi. Bất cứ ai sinh ra ở miền nam đều hăng hái ủng hộ quân nổi dậy, và rất nhiều người thề sẽ gia nhập nếu lực lượng đi tới chỗ họ.

Abrahim và cha tôi dừng việc đi ra bến cảng vào ban đêm. “Khi giao tranh nổ ra ở đây,” Abrahim bảo cha tôi, “họ sẽ tấn công bến cảng trước tiên. Họ sẽ đốt tàu bè địa phương và cố chiếm quyền kiểm soát tàu của nhà nước.”

Ngày nào cũng có thêm binh lính tới. Vốn lúc nào cũng đã có lính trong thị trấn, nhưng những người lính mới tới này thì khác hẳn. Họ đến từ đầu bên kia đất nước và không hề nói tiếng bản địa; thứ tiếng Ả Rập họ nói gần như không thể nào mà hiểu nổi. Các tổng chỉ huy, đứng trên những chiếc xe jeep, ai cũng đeo kính râm gọng vàng sáng choé che hết nửa mặt, nhưng rõ rành rành họ là người ngoại quốc, và được đưa tới đây bởi họ chẳng có ràng buộc gì với thị trấn và con người nơi này.

Ban đêm cha tôi thường nghe thấy tiếng súng nổ trộn lẫn với tiếng chó tru. Ngày ngày ông đều nài nỉ Abrahim giúp ông tìm đường thoát.

“Bây giờ tôi tiết kiệm được nhiều tiền lắm rồi,” ông nói, dù đó chỉ là nói dối. Nếu có một lối thoát chân thật nào, ông sẽ tìm cách chi trả cho nó. Phản ứng của Abrahim lúc nào cũng giống nhau: “Một người đàn ông không kiên nhẫn nổi ở đây thì tốt hơn là nên xuống Địa ngục đi.”

Hai tuần sau khi những câu chuyện đầu tiên về cuộc nổi loạn bắt đầu râm ran, có tin ở chợ về một đoàn xe jeep dài hàng dặm đang hướng về phái thị trấn. Những con tàu nước ngoài bắt đầu rời cảng trong sáng hôm đó. Phiến quân đang chiếm ưu thế, và sẽ tới nơi vào cuối buổi chiều. Trong vòng vài giờ, tin đồn lan khắp thị trấn. Họ sẽ không tha cho ai cả. Họ sẽ chỉ tấn công binh lính thôi. Họ sẽ được chào đón như quân giải phóng. Họ chẳng khác gì súc vật và nên bị đối xử như vậy. Cha tôi quan sát những người phụ nữ sống gần đó thu xếp đồ đạc vào túi và chạy ra đường với đám con cái đi cạnh hoặc địu trên lưng. Họ chạy đi đâu? ông tự hỏi. Biển một bên và sa mạc một bên.

Abrahim tìm ông sau bữa trưa. Hôm đó chẳng có ai để mà phục vụ trà.

“Tôi thấy cậu siêu bận đấy nhỉ,” ông ta nói. “Cậu có muốn tôi quay lại khi nào đỡ đông hơn không?”

“Ông sắp rời đi à?” cha tôi hỏi.

“Tôi vốn đã làm rồi,” Abrahim nói. “Lâu rồi. Toàn bộ gia đình tôi đã ở Khartoum rồi. Tôi chỉ đang đợi tới lúc thân xác mình đến đoàn tụ cùng họ.”

Đến cuối buổi chiều, họ có thể nghe thấy tiếng súng cối từ xa nã đạn vào sa mạc. “Chúng giống như lũ trẻ con với đồ chơi vậy,” Abrahim nói, đừng trên nóc nhà trọ chỉ tay về phía sa mạc. “Chúng còn chẳng biết mấy khẩu súng lớn của chúng bắn được bao xa. Chẳng có gì ở ngoài đó cả—hoặc có thể chúng sẽ gặp may và giết được một con lạc đà. Chúng sẽ tiếp tục làm như vậy cho tới khi cuối cùng chúng cũng hết đạn, hoặc lạc đà.

“Chuyện xảy đến với chúng sẽ trở nên tồi tệ cho mà xem,” Abrahim tiếp tục. “Chúng nghĩ chúng có thể đuổi binh tính đi vì chúng có vài ba khẩu súng lớn. Chúng nghĩ giờ là năm 1898 và Trận Omdurman(3) đang lặp lại đây mà, ngoại trừ việc giờ chúng là lũ Anh Quốc.”

Cha tôi chưa bao giờ nghĩ rằng chiến tranh có thể trông thật đơn giản hay thảm hại, nhưng từ trên nóc nhà nó quả thật là như vậy. Phiến quân ồn ào thông báo sự tiếp cận của họ, và, từ những gì cha tôi có thể thấy, binh lính trong thị trấn đã biến sạch. Ông bắt đầu nghĩ rằng Abrahim đã sai, và rằng phiến quân, bất chấp sự ngu đần của họ, sẽ quét vào thị trấn mà chẳng tốn mấy công sức. Ông đang nghĩ liệu mình có nên nói điều đó với Abrahim hay không khi ông nghe thấy tiếng nổ đầu tiên trên vọng đến trên đầu mình. Abrahim và cha tôi quay lại và nhìn qua phía biển, nơi một chiếc máy bay đang tiến tới, bay rất thấp. Trong vòng một phút, nó đã ở trên đầu họ.

“Chuyện này sẽ sớm qua thôi,” Abrahim nói. Họ cùng đợi nghe tiếng dội bom, nhưng chẳng có gì xảy ra. Chiếc máy bay lượn lên vào phút chót. Súng nổ vô hại theo hướng máy bay bay và đoàn xe vẫn tiếp tục đi—một hàng dài những chiếc xe tải cũ kĩ đi cách không đều nhau cố gắng vượt thoát khỏi đường chân trời.

Khi vẫn chiếc máy bay ấy quay trở lại hai mươi phút sau, ba máy bay phản lực mỏng hơn và rõ là hàng nước ngoài sản xuất bay gần theo nó.

“Chuyến đầu tiên chỉ là cảnh cáo,” Abrahim nói. “Để cho chúng một cơ hội ít nhất là cố mà chạy đi. Chúng quá ngu để hiểu điều đó. Chúng nghĩ chúng đã thắng.”

Mấy chiếc máy bay bay qua. Cha tôi và Abrahim đếm từng giây. Ngay cả từ rất xa chúng đã tạo ra một tiếng gầm ngoạn mục—ít nhất bảy quả bom được thả xuống đầu phiến quân, cả đoàn xe biến mất trong đám bụi khói và cát. Từ vài nóc nhà hàng xóm có tiếng hét reo mừng. Binh lính sớm trở lại tràn ngập trên đường phố ca khúc khải hoàn.

“Chúng lẽ ra đừng bao giờ nên thử chiếm bến cảng,” Abrahim nói. “Chúng có thể dành hàng năm trời chiến đấu trong sa mạc cho những ngôi làng nhỏ của chúng và sẽ chẳng ai thực sự làm phiền chúng cả. Nhưng cậu có nghĩ rằng liệu nước lớn nào sẽ mạo hiểm để mất bến cảng đẹp đẽ này chứ? Cuối đêm nay là tất cả tàu nước ngoài sẽ quay lại. Chính phủ của họ sẽ nói với họ rằng đã an toàn rồi. Họ đã xử lý xong vấn đề, và sớm thôi, có thể trong một hoặc hai ngày, cậu có thể sẽ đi được.”

 

Một tuần sau, trong giờ nghỉ giữa chiều của cha tôi, Abrahim tìm thấy ông đang nghỉ ngơi dưới bóng cây quen thuộc, nhìn ngắm mặt nước. Hai người bọn họ đi bộ tới một quán cafe gần đó, và lần đầu tiên kể từ khi cha tôi đặt chân tới Sudan, có người mua cho ông một tách trà và bữa trưa.

“Đây là bữa ăn tiễn biệt của cậu. Thưởng thức đi,” Abrahim nói. “Tối nay cậu sẽ đi.”

Abrahim gọi một đĩa thị nướng lớn—ruột cừu và thứ gì trông giống như cổ dê—nấu trong một cái âu màu nâu, một bữa ăn không giống bất kì thứ gì mà cha tôi đã ăn trong hàng tháng trời. Khi thức ăn được đưa ra, ông muốn khóc và gần như đã sợ phải ăn. Abrahim đã luôn dặn ông không tin bất kì ai, và tất nhiên cha tôi đã mở rộng áp dụng lời khuyên đó lên với chính Abrahim. Có thể đây là mánh cuối cùng của Abrahim với ông: có thể đồ ăn sẽ biến mất ngay khi ông vươn người ra chạm vào nó, hoặc có thể nó đã bị đầu độc với thứ gì sẽ làm ông chìm trong giấc ngủ cho tới khi tỉnh dậy trong xiềng xích. Cha tôi thò tay vào trong quần và tháo cái túi ông đựng tất cả tiền bạc của mình. Ông đặt nó lên bàn.

“Đây là tất cả những gì tôi có,” ông nói. “Tôi không biết liệu có đủ không.”

Abrahim lờ số tiền đi và cắm mặt vào đồ ăn với một mẩu bánh mì trên tay.

“Sau khi cậu vừa cho tay vào đó thì tôi khuyên cậu nên rửa đi trước khi ăn,” ông ta nói. “Và cầm cái ví của cậu theo.”

Khi họ ăn xong, Abrahim đưa cha tôi ra một nơi ở thị trận mà ông chưa từng thấy—một con phố rộng rãi bụi bặm mà càng lên cao càng hẹp lại, cho tới khi những tấm tôn lợp mái gần như chạm vào nhau. Abrahim và cha tôi dừng lại trước cửa một ngôi nhà, và Abrahim kéo tấm rèm dùng như cửa ra vào. Bên trong, một người phụ nữ già cả to béo, đầu che mạng một phần, ngồi sau một quầy gỗ, trên đó đặt một hàng chai thuỷ tinh đủ kích cỡ. Abrahim cầm một chai và bảo cha tôi ngồi xuống trong một góc găn phòng nơi có sẵn mấy cái gối. Ông ta thương lượng và tranh cãi với người phụ nữ trong vài phút cho tới khi, sau cùng, ông rút ra một cục tiền Sudan từ trong túi áo ngực. Ông ta ngồi xuống cạnh cha tôi và đưa cái chai cho ông.

“Chai này vì hành trình,” ông ta nói. “Uống từ từ thôi.”

Nếu Abrahim có ý định làm hại ông, thì cũng kệ, cha tôi nghĩ. Một bữa ăn tử tế và sau đó uống rượu thì không phải là cách lên đường tệ nhất. Nếu những thứ như vậy được dành cho tất cả những kẻ sắp chết trong thị trấn này, vậy thì hàng người xếp hàng chờ chết sẽ kéo dài hàng dặm.

“Giờ thì đưa cho tôi cái ví nho nhỏ của anh xem nào,” Abrahim nói. Cha tôi đưa cho ông ta cái túi và Abrahim lật qua mớ giấy bạc. Ông ta lấy vài đồng từ cọc tiền của mình và thêm vào mớ tiết kiệm.

“Chỗ này sẽ giúp cậu mua nước, có lẽ là một chút thức ăn, và sự im lặng của vài người trên tàu. Đừng kì vọng bất kì điều gì từ họ. Đừng hỏi xin thức ăn hay bất kì thứ gì, họ sẽ không cho cậu đâu. Đừng nhìn vào mắt họ, đừng cố nói chuyện với họ. Họ sẽ tỏ ra như thể cậu không tồn tại, mà như thế là tốt nhất. Nếu cậu tồn tại thì họ sẽ ném cậu ra khỏi tàu vào ban đêm. Nhiều gã lên tàu và bắt đầu phàn nàn. Họ nói lưng họ đau hay chân họ nhức. Họ nói họ đói, họ khát. Khi chuyện đó xảy ra, họ bị bịt miệng và ném xuống biển, nơi họ có thể có tất cả không gian và nước mà họ muốn.”

Cha tôi nhấp một ngụm rượu, mùi chát, nồng nặc của nó ngập tràn trong không khí ngay từ lúc Abrahim bật nắp.

“Khi cậu tới châu Âu, đây là việc cậu sẽ làm. Cậu sẽ bị bắt. Cậu sẽ nói với họ rằng cậu muốn xin tị nạn chính trị và họ sẽ đưa cậu đến một nhà tù trông chẳng khác nào Thiên đường. Họ sẽ cho cậu đồ ăn và quần áo, thậm chí là một cái giường để ngủ. Có thể cậu không bao giờ muốn rời khỏi đó—sẽ sướng đến vậy đấy. Nói với họ cậu đang đấu tranh chống lại Cộng sản và họ sẽ yêu mến cậu. Họ sẽ cho cậu chọn nước, và cậu sẽ nói với họ rằng cậu muốn đi Anh. Cậu sẽ nói với họ rằng cậu đã bỏ lại vợ mình ở Sudan, và rằng cô ấy đang gặp nguy hiểm và cậu muốn cô ấy cùng đi với mình. Cậu sẽ cho họ xem bức ảnh này.”

Abrahim lấy từ trong ví ra bức ảnh của một cô gái trẻ, không lớn hơn mười lăm mười sáu tuổi, mặc các loại trang phục phương Tây kì cục—một chiếc váy chấm bi đen trắng xếp ly quá khổ, một đôi giày sneaker đế cao, và lớp trang điểm cố tình làm cho cô trông già hơn tuổi.

“Đây là con gái tôi. Nó đang sống ở Khartoum cùng mẹ và các dì của nó. Nó rất sáng dạ. Học giỏi nhất lớp đấy. Khi cậu tới Anh, cậu sẽ nói rằng nó là vợ cậu. Đây là cách cậu trả ơn tôi. Cậu có hiểu không?”

Cha tôi gật đầu.

“Đây là bằng chứng cho cuộc hôn nhân của cậu,” Abrahim nói. “Tôi tốn một mớ cho cái này đấy.”

Abrahim đưa cho ông một tờ giấy mới chỉ được gập có hai lần từ trước tới giờ, bởi loại giấy này không bền trong điều kiện môi trường như thế này. Câu chữ rất rõ ràng. Cha tôi đã kết hôn được hai năm với một người ông chưa từng gặp mặt.

“Cậu sẽ đưa nó cho ai đó ở Đại sứ quán vương quốc Anh,” Abrahim nói, đặt tay lên tay cha tôi, như thể cả hai vừa tiến vào một hiệp ước bí mật một cách đơn giản thông qua việc chạm vào cùng một tờ giấy. “Có thể sẽ mất vài tuần, nhưng cuối cùng họ sẽ cấp cho cậu thị thực cho con bé. Cậu sẽ gọi cho tôi từ London, và tôi sẽ lo phần còn lại. Chúng tôi có tiền mua vé, và một khoản cho cậu và con bé khi nó tới nơi. Có thể sau một hoặc hai năm, mẹ nó và tôi sẽ tới London cùng hai người. Chúng ta sẽ mua một ngôi nhà. Bắt đầu cùng làm ăn. Con gái tôi sẽ tiếp tục việc học của nó.”

Ngay cả với một người hay nghi ngờ như cha tôi, vốn có rất ít niềm tin vào các chính quyền, câu chuyện vẫn thật hấp dẫn: một câu chuyện cổ tích bắt đầu với nhà tù thiên đường và kết thúc với một gia đình được xây dựng sẵn cùng chung sống trong một căn nhà ở London. Ông không muốn biết Abrahim tin tưởng vào chuyện này tới đâu, và thế là ông khẽ quay đầu đi. Khi nói tới châu Âu hoặc Mỹ, ngay cả những người được cho là dạn dày sương gió cũng dễ trở nên mẫn cảm với những ảo tưởng gần như ngây thơ.

Cha tôi nhận bức anh từ tay Abrahim và cất nó trong ví. Ông không nói, “Tất nhiên là tôi sẽ làm thế,” hoặc ngay cả đơn giản “Vâng,” bởi xác nhận như vậy cũng đồng nghĩa với việc có một phương án từ chối, và chẳng có gì tồn tại giữa họ cả. Abrahim bảo ông uống nốt. “Ngụm rượu đang đợi cậu kìa,” ông ta nói.

 

Rất nhanh chóng, câu chuyện về cha tôi được truyền tai khắp Học viện. Tôi nghe những đoạn trích từ lời kể của mình thuật lại cho tôi hơi tam sao thất bản một chút—trong những phiên bản này, câu chuyện xảy ra ở Congo, giữa nạn đói. Một phiên bản kể rằng cha tôi đã trải qua hàng loạt cuộc chiến dọc theo châu Phi. Một bản khác lại nói rằng cha tôi đã sống sót qua một cuộc diệt chủng bị lãng quên, nơi mà hàng chục ngàn người bị giết chỉ trong một ngày. Một vài bản thì băn khoăn liệu rằng cha tôi cũng ở Rwanda—hay ở Darfur, nơi người ta thường biết những chuyện như vậy đã xảy ra.

Một làn sóng cảm thông dâng lên cho người cha quá cố của tôi và tôi. Bọn học sinh tôi chẳng bao giờ nói chuyện giờ chào tôi khi chúng thấy tôi trên hành lang. Tôi đi đâu cũng nhận được những nụ cười, tất cả là bởi tôi đã mang tới tận cửa cho họ một bi kịch vượt xa bất cứ điều gì mà cá nhân họ có thể kì vọng được trải nghiệm.

Tôi biết chỉ là vấn đề thời gian bao giờ thì tôi bị khiển trách vì những thứ mà tôi dạy cho học sinh của mình. Một ngày thứ Sáu, trưởng khoa bắt gặp tôi ở sảnh khi tôi đang chuẩn bị lên lớp. Giọng ông không có chút gì đe doạ hay giận dữ. Ông chỉ nói đơn giản, “Tới văn phòng tôi sau khi hết giờ nhé.”

Hôm đó tôi quyết định không kể chuyện và quay lại với giáo trình thường khi của mình. Tôi nói với lũ học trò, “Hôm nay chúng ta phải đuổi cho kịp tiến độ. Đây là khối lượng của tuần trước. Thầy muốn các em trật tự làm bài.” Nếu chúng rên rỉ hay lầm bầm gì đó, thì tôi cũng chẳng nghe, và có bận tâm đâu. Sau khi hết giờ, tôi bước chậm rãi lên ba vế thang dẫn tới văn phòng trưởng khoa. Ông ấy đang đợi tôi, cửa mở sẵn. Thân hình to lớn và hơi ngượng nghịu của ông ấy choán hết cả chiếc bàn rộng bằng gỗ đủ để có thể khiến ông ấy hít thở khó khăn. Ngay khi tôi vừa ngồi xuống, ông ngả về sau và thở ra.

“Tiết học hôm nay thế nào?” ông ấy hỏi tôi.

“Ổn,” tôi trả lời. “Không có gì đặc biệt.”

“Tôi có nghe vài mẩu chuyện về cha anh mà anh đang kể cho các học sinh của mình,” ông ấy nói.  Vào thời điểm ấy tôi kì vọng ông bộc lộ ít nhất một dấu hiệu của cơn giận với chuyện tôi đã làm, nhưng thậm chí còn chẳng có cú khoanh tay kịch tính nào.

“Chuyện chúng đang nói rất thú vị đấy,” ông ấy nói. “Kinh khủng nữa, tất nhiên rồi. Không ai nên sống qua những điều như vậy dù là nhẹ đến mấy, nó khiến tôi đặt câu hỏi: Bao nhiêu phần trong những chuyện họ đang nói là sự thật?”

“Phần lớn là không,” tôi trả lời. Tôi đã sẵn sàng để thừa nhận là tôi đã dựng lên phần lớn những gì tôi kể cho học sinh của mình—những đêm muộn trên bến cảng, chuyện về phiến quân xâm lược gây bão khắp sa mạc. Nhưng trước khi tôi kịp nói thêm điều gì thì ông ấy đã mỉm cười ranh mãnh, gần như mai mỉa.

“Chà, kể cả như vậy,” ông ấy nói, “thật tốt khi nghe chúng nói về những điều quan trọng. Vậy là phần lớn những gì tôi nghe được là những lời đồn nông cạn, ngu si. Chúng có thể tự sàng lọc điều gì là sự thật cho bản thân chúng sau.”

Và đó là tất cả những gì đã xảy ra: tôi đã trao cho lũ học sinh của mình điều gì đó để suy nghĩ, và dù điều chúng nghe được từ tôi có mối liên hệ thế nào với thực tế đi chăng nữa thì cũng chẳng mấy quan trọng; có thật hay không, tất cả với chúng đều là tưởng tượng. Cái chết được nhắc tới chỉ đề làm cho câu chuyện thêm phần thuyết phục.

 

Tôi bắt đầu bài giảng cuối cùng của mình với việc cha tôi cùng Abrahim bước xuống cầu tàu trong buổi sáng cuối cùng họ còn ở cạnh nhau. Họ chẳng nói gì nhiều suốt dọc đường, nhưng đến đúng thời khắc, một vài từ bật ra. Abrahim có những ý tưởng quan trọng mà ông ta muốn giãi bày, nhưng ông ta chưa bao giờ biết chính xác từ ngữ nào để diễn tả dù bằng thứ tiếng nào đi chăng nữa. Nếu ông ta có thể, ông ta sẽ nắm chặt tấy cổ tay cha tôi và giữ ông cho tới khi ông ta chắc chắn rằng cha tôi hiểu ra ông ta phụ thuộc vào cha tôi tới dường nào và ông ta bắt đầu ghét cha tôi biết bao vì điều đó. Cha tôi, trong khi đó, tuyệt vọng trước việc đào thoát. Ông kinh hãi chuyện lên tàu, nhưng ông còn sợ niềm khao khát của Abrahim hơn thế.

Khi họ tới cầu tàu, Abrahim chỉ ba con tàu cuối cùng đậu ở cảng. “Chiếc kia kìa,” ông ta nói. “Chiếc có thân màu xanh ấy.”

Cha tôi nhìn con tàu một lúc lâu và cố hình dung sẽ ra sao khi chôn thây bên trong nó, ban đầu là một giờ và rồi là một ngày. Ông không có dũng nghĩ để tưởng tượng điều gì dài lâu hơn. Con tàu đã cũ, nhưng gần như mọi thứ trong thị trấn đều đã cũ cả.

Có một người đàn ông cao lớn, da sáng màu đợi ở phía cuối cảng. Anh ta là người từ một trong những bộ tộc Ả Rập ở miền bắc. Những người như thế khá phổ biến trong thị trấn.Họ kiểm soát phần lớn việc kinh doanh và tình hình chính trị của nó, và đã làm như vậy hàng thế kỉ nay. Họ là tiểu thương, thương nhân, và bán bất kì thứ gì hay bất kì ai. Họ giữ mình xa cách khỏi những người khác, mặc áo choàng trắng phau hoặc, tuỳ dịp, màu lơ mà bằng cách nào đó miễn nhiễm với thứ bụi bặm bao phủ đến từng inch của thị trấn.

“Anh ta tổ chức mọi việc,” Abrahim nói. “Người đằng kia kìa.”

Cha tôi cố gắng nắm bắt khuôn mặt anh ta từ chỗ họ đang đứng, nhưng tay đó dường như hiểu được họ đang nói về hắn, hắn giữ đầu mình hơi khẽ quay về hướng khác. Đặc điểm duy nhất mà cha tôi có thể nắm bắt được là cái mũi dài và mảnh bất thường, một đặc điểm dường như rất bất lương.

Abrahim đưa cho cha tôi một tờ giấy pháp nhân màu vàng, trên đó ông ta đã viết sẵn điều gì bằng tiếng Ả Rập. Cha tôi đã muốn Abrahim nói điều gì đó tử tế và động viên ông. Ông mong ông ta nói, “Đi bình an nhé” hoặc “Đừng lo. Cậu sẽ ổn thôi,” nhưng ông biết rằng ông có thể đứng đây hàng năm trời và sẽ chẳng có lời động viên nào hết.

“Đừng để anh ta đợi,” Abrahim nói. “Đưa giấy tờ và tiền cho anh ta. Anh ta bảo gì thì làm nấy.”

Khi ta tôi đi được nửa đường tới giữa Abrahim và gã kia, Abrahim gọi ông, “Tôi sẽ đợi nghe tin của cậu,” và cha tôi biết đó là lần cuối cùng ông còn nghe thấy giọng Abrahim.

Cha tôi trao đi tờ giấy Abrahim đã đưa ông. Ông không đọc được trên đó viết gì và lo lắng nó có thể nói cả ngàn điều khác nhau, từ “Hãy đối xử tốt với người này” cho tới “Lấy tiền của hắn và muốn làm gì hắn thì làm.”

Gã đàn ông chỉ vào một cụm chỗ để đồ ở phía đuôi tàu mà vẫn thường được dùng để cất hàng dễ vỡ. Các thùng hàng được được dỡ xuống sau cùng, và cha tôi đã từng thấy người ta đợi hàng tiếng đồng hồ ở bến tàu để nhận hàng. Các thùng hàng này luôn dán tem một nước phương Tây và có hướng dẫn kèm theo bằng tiếng nước ngoài—“Cuidado,” “Fragile.” Ông không bao giờ biết nội dung thực sự, ông đã cố đoán xem bên trong có gì: sữa bột hộp giấy, một cái tivi hay giàn âm thanh, rượu vodka, Scotch, cafe Ethiopian, chăn mềm, nước sạch, hàng trăm đôi giày và áo sơmi và đồ lót. Bất cứ thứ gì ông thiếu thốn hoặc biết mình sẽ không bao giờ có ông đều tưởng tượng được gửi đến trong những chiếc thùng ấy.

Có một ô vuông chỉ đủ vừa với cha tôi nếu ông khép gối đến tận ngực. Ông hiểu đó đúng là chỗ của mình vậy mà tự nhiên ông lại ngần ngại, làm rộng không gian ra như ông đã từng có lần mở rộng các thùng hàngông giúp bốc dỡ.

Cha tôi cảm thấy bàn tay của gã đàn ông sau gáy mình, đẩy ông xuống sàn. Ông muốn nói với hắn rằng ông đã chuẩn bị tự mình vào chỗ, và trên thực tế đã chuẩn bị làm việc này hàng tháng trời nay, nhưng hắn sẽ không hiểu, nên cha tôi để hắn chỉ đạo. Ông bò vào chỗ, đó không phải là cách ông thích cho lắm. Lẽ ra nên hướng đầu vào trước, nhưng giờ thì đã quá trễ. Bằng một cử chỉ lăng mạ cuối cùng, gã đàn ông dùng chân đẩy cha tôi, nhồi ông vào trong quá nhanh tới nỗi chân tay ông sóng soài hết cả. Ông chỉ kịp định hình lại trước khi gã đàn ông niêm phong lối vào bằng một cánh cửa gỗ nằm ngay bên cạnh.

Trước khi lên tàu, cha tôi đã lên một danh sách những điều ông sẽ suy nghĩ, để vượt qua được chuyến đi. Chúng được sắp xếp dưới các chủ đề hàng đầu đại loại như Nơi Tôi Sinh Ra, Kế Hoạch Tương Lai, và Những Từ Tiếng Anh Quan Trọng. Ông không chắc liệu ông có nên lôi những chuyện ấy ra luôn không hay là đợi cho tới khi con tàu ra khỏi cảng. Bóng tối bên trong cái hộp là dấu hiệu, nhưng chưa phải hoàn toàn. Ánh sáng vẫn lọt qua lối vào, và cứ tiếp tục cho tới khi thân tàu đóng lại và con tàu bắt đầu ra xa khỏi bờ biển. Ông nhớ khi còn nhỏ mình thường sợ bóng tối, một điều ngu ngốc, gần như là bất khả với một thằng nhóc nông thôn, nhưng chuyện là vậy đấy. Trong gia đình lớn sống quanh ông, mẹ ông là người duy nhất không bao giờ chế nhạo ông về điều này, và mặc dù vậy ông vẫn thích giữ hình ảnh của bà cho phần sau của chuyến đi, lúc nào ông lênh đênh xa xôi trên biển đã, giờ thì ông để mình nghĩ về bà. Ông nhìn thấy bà trong hình dáng của bà trước khi chết. Bà từng là một phụ nữ to béo, nhưng lúc đó bà chẳng còn lại là bao. Tóc bà chưa bạc, nhưng bị cắt ngắn như lời khuyên của một người em họ đã mơ thấy căn bệnh tấn công thân thể bà bị chôn đâu đó ở trên đầu bà và nó cần một đường thoát. Tuyệt vọng, bà cắt đi phần lớn tóc của mình, khiến bà trông trẻ hơn độ tuổi ba-mươi-mấy. Đó là hỉnh ảnh mà ông có, về người mẹ của mình trong trạng thái gần như một con búp bê, chỉ hai tháng trước khi bà chết, và dù ông muốn có một kí ức đẹp đẽ hơn về bà, ông chấp nhận cái mà ông có và nhắm mặt lại để tập trung vào hình ảnh ấy. Có vài phút trước khi ông nhận ra động cơ rùng rùng khi tàu kéo mỏ neo lên và chầm chậm tiến vào đại dương.

 

Khi kể đến đây, tôi biết đó là điều cuối cùng tôi sẽ nói với lớp của mình. Không lâu sau, ông trưởng khoa lại gọi tôi tới văn phòng của ông và nói rằng, dù câu chuyện về cha tôi rất thú vị, nó cũng đã đủ dài rồi, và đã tới lúc để quay lại với chương trình dạy bình thường trên lớp, hoặc là đánh liều với công việc của tôi ở Học viện. Chuông reo, và, như khi tôi bắt đầu câu chuyện này, có khoảng mười tới mười lăm giây rất hay khi không ai trong lớp cử động. Các học sinh của tôi, với sự giàu có và đặc quyền đáng kể của chúng, vẫn đang ở trong độ tuổi tin rằng thế giới là nơi thú vị đáng chú ý, xứng đáng cho sự háo hức tìm tòi và khám phá kĩ lưỡng, tôi thích nghĩ rằng mình đã nhắc nhở cho chúng điều đó. Sớm thôi, chúng sẽ khôn lớn và tự mình băn khoăn về những điều liên quan trực tiếp đến cuộc sống của chúng. Sau cùng, một chiếc cặp dưới sàn được nhặt lên, và rồi đến lượt hai mươi tám chiếc khác. Phần lớn lũ học sinh của tôi lắc hoặc gật đầu khi chúng rời khỏi phòng và một phần trong tôi muốn gọi chúng quay lại chỗ ngồi để nói với chúng rằng câu chuyện vẫn chưa hoàn toàn kết thúc. Rời khỏi Sudan mới chỉ là khúc dạo đầu; vẫn còn rất nhiều điều phía trước. Đôi khi, trong trí tưởng tượng, đó chính xác là điều tôi sẽ nói với chúng. Tôi tiếp tục ở chỗ tôi bỏ dở, và tiếp tục mô tả cho chúng rằng làm sao mà, bất chấp tất cả những chuyện đã xảy ra, cha tôi đã không hề thực sự sống sót rời khỏi con tàu ấy. Ông tới châu Âu như Abrahim đã hứa, nhưng một phần quan trọng trong ông đã chết trong chuyến đi, đâu đó trong ba ngày cuối cùng, khi ông suy nhược tới mức phải uống nước tiểu của mình và không còn cảm nhận được tay chân nữa.

Ông mất sáu tháng ở một trại tạm giam trên một hòn đảo phía ngoài bở biển nước Ý. Ông rất ngạc nhiên khi phát hiện ra có rất nhiều người như ông ở đó, từ mọi cửa ngõ có thể từ châu Phi, và nhiều người đã trải qua chuyến đi còn tệ hơn ông. Ông nghe người ta kể những câu chuyện về những người đã chết khi đang cố gắng thực hiện hành trình như vậy, họ đã chết ngạt hoặc bị ném xuống biển khi vẫn đang còn sống. Cha tôi không thể đem lòng thương xót cho họ đươc. Trái ngược với điều Abrahim đã nói, chẳng có gì mang dáng dấp thiên đường ở nơi ông bị giữ: một căn phòng lớn sơn trắng cứ mười inch lại có một cái cũi và cửa sổ đầy song sắt. Giám thị thường quát vào mặt ông và những tù nhân khác. Ông học được vài từ tiếng Ý và bị cười nhạo thậm tệ trong lần đầu dùng thử. Ông từng bị ép phải nhắc đi nhắc lại một câu với mỗi giám thị mới tới. Khi ông cố từ chối, bữa ăn đầu tiên trong ngày của ông, một đĩa thịt nguội ngắt khô queo cùng bánh mì cũ, bị lấy đi. “Nói,” các giám thị ra lệnh, và ông làm hàng tá lần trong chuỗi vài ngày liền, dù chẳng còn tí hài hước nào sót lại với bất kì ai.

“Anh có nói tiếng Ý không?” các giám thị hỏi.

“Không.”

Phát biểu. Nói chuyện. Hoặc, hiếm hoi hơn, Nói gì đó.

Ở Ý ông được cấp chỗ ở và thả tự do. Từ đó ông tiến về phía bắc và rồi phía tây dọc theo châu ÂU. Ông gặp hàng tá Abrahim khác, những kẻ hứa hẹn với ông rằng khi họ tới được London, phần còn lại của đời họ cuối cùng sẽ giống y như viễn cảnh mà họ đã hình dung. “Ở đó khác lắm,” họ luôn nói. Phải có ít nhất một nơi nào đó trên thế giới này mà ở đó cuộc sống có thể được sống đúng theo những kế hoạch và mơ ước mà họ đã chế tạo cho chính họ. Với phần lớn, nơi đó là London; với số khác đó là Paris, và cho một số ít hơn nhưng táo bạo hơn thì đó là Mỹ. Niềm tin đó đã đưa họ đi xa tới tận đây, và mặc dù nó đang yếu đi, và cần điều chỉnh liên tục (“Rome không như tôi nghĩ. Pháp chắc chắn sẽ tốt hơn”), nó vẫn hiện hữu vượt khỏi thực tế phũ phàng. Vào thời điểm mà cha tôi cuối cùng cũng tới được London, mười tám tháng sau, ông bắt đầu nghĩ về tất cả những phiên bản của Abrahim mà ông đã gặp, tất cả đều tàn phế và biến dạng vì ước mơ của chính họ.

Abrahim đã theo ông trên suốt chặng đường tới London để thử ông, và cha tôi đã quyết tâm giải quyết món nợ ấy ngay bây giừo khi ông đã ở đó. Trong ngày đầu tiên ở thành phố ông tìm được một góc yên tĩnh ở Hampstead Heath. Một cuốn sách hướng dẫn mà ông nhặt được ở Pháp nói rằng ông sẽ có được một góc nhìn rộng bao quát cảnh quan thành phố ở đó. Ở rìa công viên, với London dưới chân mình, ông đốt tất cả giấy tờ mà ông đã mang theo mình từ Sudan. Tờ giấy đăng kí kết hôn giả hoá ra tro chỉ trong vài giây. Bức ảnh con gái của Abrahim chảy ra ở gần một hàng rào màu xanh lục treo những trái berry mọng đỏ không ăn được. Trong nhiều đêm sau đó, ông khước từ việc nghĩ về cô hay cha cô. Trong cuộc sống không có phần thưởng nào cho sự ngu ngốc như vậy, và ông tự hứa với lòng mình sẽ không bao giờ trở thành nạn nhân của ý nghĩ mù quáng và viển vông như vậy. Bất kì ai xứng đáng với bất kể nỗi khổ đau nào, ông đều khao khát được gặp.


(1) ND: độ F.

(2) ND: một loại trang phục truyền thống.

(3) ND: Trận Omdurman năm 1989 ở Sudan giữa quân đội Anh Quốc và quân đội Ả Rập.

Copyright © 2010 by Dnaw Mengestu.

ThKh chuyển ngữ không có sự đồng ý của tác giả.

———-

ThKh – 2019

ThKh là một bút danh khác của ChuKim, một người viết tự do, sống và yêu tại một ngôi làng mang tên thành phố. Nếu có thể, hãy ủng hộ và khích lệ bằng cách đọc và chia sẻ những gì anh viết trong khả năng của bạn. Xin cảm ơn.

– natchukim.cogaihu@gmail.com –

PS: Tất cả nội dung trong blog này đều được tuyên bố quyền sở hữu và quyền tác giả về nội dung, ngoại trừ những bài sưu tầm có đề rõ. Mọi trích dẫn, đăng lại, vui lòng ghi rõ nguồn. 

 

One thought on “Truyện ngắn: Lối thoát chân thật – Dinaw Mengestu

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s