David Bezmozgis (1973-) là nhà văn người Canadia gốc Latvia. Ôngra mắt tập truyện ngắn đầu tay Natasha and Other Stories năm 2004, sau đó là các tiểu thuyết The Free World (2011) và The Betrayers (2014). Ngoài ra ông còn viết kịch bản và đạo diễn phim điện ảnh và phim tài liệu.

David Bezmozgis (Grafilu - newyorker.com).jpg
Tranh: Grafilu – newyorker.com

‘Chuyến tàu ra đi’ (TheTrain of Their Departure) là truyện ngắn trích đoạn từ tiểu thuyết The Free World của David Bezmozgis được đăng trong tuyển tập 20 under 40 (2010) của tạp chí The New Yorker. 


Chuyến tàu ra đi

Mùa xuân năm 1976, trước khi họ ngoại tình với nhau, trước khi anh trở thành chồng cô, trước khi cô biết bất cứ điều gì về anh, Polina đã để ý thấy Alec ở một trong các toà nhà thuộc V.E.F. (ND: Nhà máy Điện tử Nhà nước), lúc nào trông cũng mơ màng, vui tươi như trẻ nhỏ.

“Nếu Papatchka của tôi điều hành nhà máy, có thể tôi cũng sẽ đi loanh quanh cười toe toét như một kẻ tâm thần mất,” Marina Kirilovna nói với Polina khi Alec xuất hiện ở ban công nghệ.

Marina Kirilovna chiếm cái bàn bên cạnh bàn của Polina ở nhà máy radio. Ở trung tuần tuổi bốn mươi và đã hai lần trở thành goá phụ, Marina Kirilovna chỉ đối xử với đàn ông ở các mức độ khinh miệt khác nhau mà thôi. Chúng nó là lũ lười nhác, lũ hề, lũ đần, lũ dối trá, lũ vũ phu, và—không có ngoại lệ—lũ xay xỉn. Bi kịch là ở chỗ phụ nữ đã chịu đựng chúng và, phần lớn là, chấp nhận tình trạng này. Cứ như thể trong sữa mẹ họ ăn đã có sẵn câu ngạn ngữ Nga “Nếu anh ta không nện cô, thì anh ta chẳng hề yêu cô.” Còn về những người chồng quá cố của mình, Marina Kirilovna thích nói rằng niềm vui sướng duy nhất của chị khi sống với họ đó là chị sống lâu hơn họ.

Về sau, khi Marina Kirilovna bắt đầu nghi ngờ Polina có dính dáng đến Alec, chị khuyên cô.

“Không phải việc của tôi, nhưng kể cả nếu chồng cô chẳng danh giá gì thì chí ít cậu ấy cũng là một người đàn ông.”

“Đây không phải việc của chị,” Polina nói.

“Đơn giản là tôi biết không tốt lành gì đâu. Tin tôi đi, tôi không mù. Tôi thấy cậu ta nhảy chân sáo loanh quanh như một thằng nhóc cầm vợt bắt bướm vậy. Và nếu cô cho rằng việc này sẽ giúp cô thăng tiến, thì cả nửa phụ nữ ở cái nhà máy này đủ điều kiện cơ.”

Nghe thấy từ “thăng tiến,” Polina suýt thì cười. Lời gợi ý về môt mô-típ thầm kín của ngoại tình, đặc biệt là tham vọng, tức cười theo cái cách mà người goá phụ không thể hình dung nổi. Đầu tiên, ý tưởng đơn thuần về tham vọng trong nhà máy thật là lố bịch. Hàng ngàn người làm việc ở đó, và—ngoại trừ các Đảng viên—chẳng ai có đồng lương xứng đáng cho người khác đố kỵ. Nhưng, hơn thế, nếu bất kì điều gì khiến cô đắn đo về khúc dạo đầu của Alec thì đó là tham vọng của chồng cô—khăng khăng, nhỏ mọn, và quan liêu. Tối tối, cô bị đè nén bởi những mưu mô và toan tính của anh ta vì lợi ích, còn cuối tuần thì cô phát chán và thấy xấu hổ vì ứng xử của anh ta ở bữa tối với những người mà anh ta mô tả là “có ảnh hưởng.” So sánh mà nói, Alec là người đàn ông ít tham vọng nhất mà cô từng gặp.

 

Rất lâu sau đó, khi Polina nhìn lại bản thân mình khi còn ít tuổi, cô gái ở tuổi hai mươi mốt đã để Maxim chi phối cuộc sống của mình, cô hiểu rằng cô đã phạm sai lầm. Nhưng cô cũng hiểu rằng, lúc ấy, cô không có khả năng làm khác đi. Suốt cuộc đời mình cô chưa từng có một tình yêu tuyệt đích. Bạn bè cô đắm chìm trong mê mải; cô thì không. Nhận thức của vài người về điều gì là phù hợp với họ trùng hợp với điều thực sự phù hợp với họ; nhận thức của vài người khác thì không. Có những người cô thấy hấp dẫn hơn Maxim, nhưng họ lại chẳng màng tới cô. Họ thấy cô quá nghiêm túc. Cô biết mình đủ xinh để thu hút họ, nhưng cô cũng biết có vô khối con gái xinh dễ dàng nhõng nhẽo và cười cợt hơn cô nhiều. Điều xua đuổi những chàng trai khác lại đưa Maxim đến với cô.

Họ gặp nhau ở một bữa tiệc trong phòng ký túc của bạn cô. Polina đang ngồi nói chuyện với một trong mấy người bạn cùng phòng của bạn mình khi cô quay đầu và thấy Maxim đang đứng cạnh mình. Có thể cô đã cười với anh; có thể không. Như thể đọc trong những trang sách dạy tán tỉnh, Maxim hỏi liệu cô có muốn uống bất cứ thứ gì không. Polina không thể nghĩ ra lý do nào để từ chối, vậy là anh quay lại với một ly soda chanh và tự ở cạnh cô cho đến tận cuối buổi tối. Sau tên cô, anh hỏi thăm cô sống ở đâu, cô đang học  gì, quan điểm của cô về ngành học, nguyện vọng sự nghiệp của cô. Sau khi thiết lập nền tảng, anh chuyển sang văn hoá và các sở thích giải trí: phim ảnh, sách vở, ba lê, âm nhạc, trượt băng nghệ thuật, bóng chày, thể dục nhịp điệu. Vì lịch sự, Polina trả lời các câu hỏi của anh. Cô không hứng thú với anh nhưng cô tự hỏi liệu cách tiếp cận máy móc của anh là kết quả của sự hồi hộp hay liệu đó chỉ đơn giản con người anh là như vậy. Cô vẫn không dám chắc bao giờ thì Maxim hẹn gặp lại cô. Vì không muốn nói không, cô nói đồng ý. Rồi cô quên bẵng về anh cho tới một buổi tối anh xuất hiện trước cửa nhà cô. Mẹ cô bảo cô rằng có một quý ông tới tìm cô, cô không thể hình dung nổi đó là ai cho tới khi cô thấy anh đứng đó đợi. Còn tệ hơn, cô phát hoảng lên vì không thể nhớ ra tên anh. Nhưng cô trải nghiệm cảm giác trìu mến đầu tiên dành cho anh khi anh giải cứu cô bằng cách tự giới thiệu lại bản thân. Anh làm vậy chẳng phải vì anh luận ra rằng cô không nhớ tên mình, mà bởi anh tin rằng một người rất nên nhắc lại tên anh ta khi gặp ai đó mới chỉ lần thứ hai.

Tối hôm đó, anh đưa cô đi xem cuộc thi trượt băng nghệ thuật ở Cung Thể Thao. Anh nhớ rằng, anh nói, cô đã bày tỏ niềm yêu thích trượt băng nghệ thuật. Cô nhớ mình chỉ bảy tỏ niềm yêu thích giống nhau với trượt băng nghệ thuật như với bóng chày và thể dục nhịp diệu. Nhưng cô nhận thấy vé đi xem thi đấu trượt băng nghệ thuật rất khó kiếm, và kể cả Maxim tìm được ở vị trí xấu nhất trong toà nhà, cô đồ rằng anh đã phải trả giá khá cao mới mua được bằng cách này hay cách khác. Sau cuộc thi, anh đưa cô tới một quán café. Anh mở cửa và kéo ghế cho cô. Anh làm mọi việc với sự chính xác và nghiêm túc. Ở vài thời điểm trong đời mình, ai đó kéo anh ra một góc và bảo anh rằng, ở các khu vực văn minh trên Trái Đất, có tồn tại những nghi thức nhất định. Ở vài thời điểm trong đời, mọi người đều nghe thấy những phiên bản của lời nói ấy, nhưng không phải ai cũng khắc cốt ghi tâm. Maxim thì có. Ở Polina anh dường như nhận ra anh đã tìm được người có cùng sự trân trọng các nghi thức như mình.

Polina không khích lệ anh nhưng anh chẳng màng sự khích lệ. Anh tán tỉnh cô với kỷ luật được đong đếm của một con người leo lên một vế thang rất dài. Có điều gì đó rất đáng quý ở sự kiên định của Maxim, vì, từng bước từng bước, anh nhón chân vào cuộc sống của cô. Anh xin phép được giới thiệu với cha mẹ cô. Anh mang theo hoa và một chai cô-nhắc. Anh cũng mua quà cho em gái cô, Nadja, và sau đó mời nó cùng đi chơi. Con bé mới mười hai, mười ba tuổi. Họ đi thăm sở thú. Anh thuê một chiếc thuyền và chèo trên sông Lielupe. Nadja trêu trọc anh rất vui vẻ. Trên thuyền, nó nhún nhảy ở mũi thuyền, tì vào mạn và có một bài phát biểu kịch nghệ về thế giới tàn khóc, tàn khốc này và tiếng gọi không thể cưỡng lại nổi của dòng sông đầy cỏ dại.

“Em làm thế đây, anh Maxim,” nó nói. “Anh có nhảy xuống cứu em không?”

“Đừng có ngốc thế,” Maxim nói.

“Em làm thế đây,” Nadja nói.

“Polina,” Maxim cầu cứu.

“Nadja,” Polina cảnh cáo.

“Ôi, như thế là quá sức chịu đựng của một cô gái thanh tao,” Nadja nói, rồi nhảy tõm qua một bên.

Làn nước xanh lục phủ lên nó như một tấm màn. Polina nhìn Maxim ra ý xin lỗi và bực dọc. Họ nhìn mặt nước và đợi Nadja thêm lần nữa rời khỏi bức màn. Polina thoáng nhìn trộm Maxim. Ngay khi anh dường như đã ở trên bờ vực lao xuống, Nadja quẫy mạnh lên mặt nước, thở hổn hển cầu cứu, và rồi lại biến mất. Maxim đợi thêm vài sát na và rồi, rất dứt khoát, như thể tuân theo mệnh lệnh, tháo giày và nhảy xuống nước theo con bé. Một người đàn ông thấp kém hơn, Polina nghĩ, sẽ để mặc Nadja vùng vẫy cho tới khi nó phát chán. Một loại đàn ông khác, tuy thế, sẽ hoà mình vào cuộc chơi.

Sau vài nhịp lặn và tìm kiếm cần thiết, Maxim tìm thấy Nadja đang nhìn trộm anh từ phía dưới sống thuyền. Khi họ nổi lên trở lại trong tầm nhìn, Nadja ngửa đầu ra sau, một tay ôm cổ Maxim. Cánh tay còn lại của nó khua loạn lên phía trên. “Người hùng của em,” nó nói, thở dài, mắt nó lim dim. Maxim chịu đựng màn diễn với khuôn mặt hoàn hảo của người lớn: sự chán ghét đã khuất phục nghĩa vụ.

Sự duy lý, hay nguyên tắc đại diện tẻ nhạt của nó, thống trị thời gian ở bên nhau của Polina và Max. Nó mở rộng ra mọi thứ, bao gồm cả tình dục. Trước Maxim, Polina từng có ba lần lấn tới nhưng chưa vượt qua ranh giới. Hai trong số những lần ấy, cô tạm dừng trước khi mọi chuyện đi quá xa. Lần còn lại, ở một điểm nghỉ dưỡng của Komsomol (ND: Đoàn Thanh niên Cộng sản Lenin), cô đã sẵn sàng nhưng, đúng lúc cao trào, một cặp đôi khác bước vào nhà kho và bắt đầu trèo lên vựa cỏ khô.

Polina không thể thừa nhận rằng cô háo hức đón nhận bước tiếp theo tất dĩ ngẫu này cùng Maxim, nhưng cô tự hỏi khi nào thì anh tự cho phép mình được làm chuyện ấy. Suốt quá trình mò mẫm và dò dẫm của họ, cô cảm thấy mình như một khán giả, quan sát Maxim khước từ chính mình vì danh dự của cô. Những lần mào đầu này luôn kết thúc bằng việc Maxim xin lỗi vì đã tự do quá trớn. Polina hoặc tha thứ cho tự do của anh, hoặc chẳng nói gì. Sau đó họ ngồi, hoặc nằm, cùng nhau trên một chiếc ghế băng trong những khu vườn công cộng, hoặc trên bờ kè con sông ở quận công nghiệp của Riga, hoặc trên các lối vào lạnh lẽo, âm u của những toà nhà công cộng, và sẻ chia cùng nhau những khoảnh lặng tâm hồn đầy nhất thời và phô trương. Cuối cùng, Maxim dừng ngang một lần mò mẫm mào đầu để hỏi ý kiến Polina và xin phép cô. Cô đồng ý rất đơn giản “Được thôi,” và chờ đợi Maxim thận trọng xé toạc mép cái túi bọc màu vàng mà cô mới chỉ nghe nói đến chứ chưa từng mục sở thị. Rất thiếu kinh nghiệm, anh đeo cái cao su vào rồi nhổ lên tay mình rồi vụng về sờ soạng Polina để chuẩn bị. Polina dồn sức nặng của mình từ hông bên này sang bên kia để giúp anh, rồi đặt tay lên ngực anh để đỡ lấy sức nặng của anh. Cô nói, “Cẩn thận,” bởi cô chưa thực sự sẵn sàng và cô không biết giải thích thế nào với anh. Đó là lời duy nhất họ nói với nhau. Khi xong việc, Max tỏ ra như thể điều gì đó rất ý nghĩa vừa xảy ra, còn Polina thì không hề phản đối anh.

Kể từ đó, họ lặp lại chuyện ấy khá thường xuyên. Polina thấy Maxim thích và muốn thế, nên cô chiều anh. Họ làm sao thì cứ làm vậy chẳng biến tấu gì. Với Polina, cuộc giao hợp bắt đầu từ khi Maxim xé toạc mép cái túi  bọc màu vàng. Cô đồ rằng chuyện đó ai cũng thế cả cho tới khi cô nghe thấy bọn con gái khác nói chuyện về trải nghiệm của chúng nó với đám bạn trai chủ yếu là say xỉn. Đó là khi cô học được rằng hầu hết đàn ông cố gắng hết sức để tránh phải thoả hiệp với cái túi bọc màu vàng, và đó, bất chấp mọi nguy cơ, hầu hết phụ nữ đều dễ dãi. Họ hợp lý hoá hành động của mình bằng cách hạ thấp chất lượng bao cao su Xô Viết, vốn nổi tiếng dễ rách và dễ tuột. Chả nghĩa lý gì mấy, họ nói, khi trao vận mệnh của mình cho thứ gì đó không đáng tin cậy. Theo kinh nghiệm của Polina, mấy cái bao cao su chẳng bao giờ rách hay tuột. Cô cũng nghĩ các biện pháp thay thế mà phụ nữ thường nhắc tới—nước nóng, rượu giấm, nước tiểu—nghe rất mập mờ, nhưng vài tuần sau, khi Polina và Maxim ở một mình trong nhà Polina, bố mẹ cô cùng Nadja đi xem một buổi độc tấu hợp xướng, Maxim phát hiện ra anh không có cái bao cao su nào, Polina nhấn mạnh rằng dù sao thì họ cũng đã làm chuyện đó rồi.

Đó không phải chuyện cô đã lên kế hoạch trước, nhưng cũng chẳng hoàn toàn là phát sinh. Đó là lần đầu tiên cô thử thách uy quyền của Maxim, và cô như bị kích thích bởi viễn cảnh dụ dỗ anh sa vào cám dỗ cũng như sự liều lĩnh của chuyện họ sắp làm. Maxim đang ngồi quỳ khi cô nói với anh điều cô muốn, anh dao động trong vài giây, mặt anh trông ngờ vực và lo sợ, trước khi Polina vươn tới và nhét anh vào trong cô. Sau đó, sự ngờ vực và lo sợ được thay thế bởi thứ gì đó dữ dội và tầm thường. Ngay sau khi điều đó qua đi, Polina rít lên bên tai Maxim rằng cô muốn anh làm thế bên trong cô. Đó là câu nói đã được khoanh tròn một cách ác ý trong đầu cô kể từ khoảnh khắc cô nhấn mạnh rằng họ đã quan hệ tình dục. Khi cô nói ra, cô biết đó chẳng chút gì liên quan đến mong muốn có con. Ngay khi Maxim làm xong, Polina trượt ra từ bên dưới anh và đi vào bếp lấy ra một cái chậu và một cái bình hoa màu tím cổ thuôn. Cô quay vào phòng ngủ, đặt cái chậu giữa sàn nhà, và đi tiểu. Cẩn trọng, dưới cái nhìn lặng thinh của Maxim, cô đổ nước tiểu từ chậu vào bình, làm rớt vài giọt lên ván sàn. Rồi cô ngồi xuống, ưỡn xương chậu, hướng dẫn Maxim đổ nước tiểu vào trong cô. Chuyện họ đang làm thật kinh tởm bản thỉu, Maxim tránh ánh mắt Polina khi anh làm theo lời cô bảo. Anh ngoan ngoãn nghe lời theo cái cách anh chưa từng có và sẽ không bao giờ tái lặp. Cô đã ép anh đồng loã trong chuyện gì đó thật đồi truỵ, và cô dự đoán, theo cách sơ khởi nào đó, rằng cuối cùng cô sẽ bị trừng phạt vì chuyện này. Sau đó, khi hình phạt ập đến, Maxim không hề có lấy một lần trách móc cô về điều mà cô biết rằng hoàn toàn là lỗi của mình.

 

Hình phạt được một bác sĩ kiệm lời quản lý trong một phòng khám sơn tường màu xanh lục. Bác sĩ, một phụ nữ, bước vào phòng phẫu thuật và tách hai đầu gối Polina ra mà chẳng thực sự nhìn cô. Bà ta không giải thích bà ta định làm gì hay lúc nào thì ba ta định làm điều đó. Bà ta chẳng nói nửa lời cho tới khi một y tá bước vào, lúc ấy bà ta mới mắng cô ấy vì chưa chuẩn bị và khử trùng xong cho bệnh nhân.

Như một phụ tá ảo thuật, Polina cảm thấy như thể mình đã bị tách làm đôi. Bác sĩ và y tá vờ như nửa thân trên của cô chẳng hề tồn tại và chỉ làm việc với nửa dưới mà thôi. Polina phó mặc cho họ. Cô tập trung vào thân trên của mình, và cố giữ sự tập trung thay vì cơn đau, nén khóc, như thể chuyện đang diễn ra phía dưới chỉ là tình cờ từ xa. Cô tưởng tượng cơn đau đến với mình từ một miền miên viễn, nơi đáy vực chưa từng có ai biết tới của hẻm núi bất kì.

Khi họ xong việc, Polina được đưa lên xe cáng. Người ta đẩy cô ra hành lang và để mặc cô ở đó, lại một lần nữa, mà không có lấy một lời giải thích. Polina nghĩ cô vẫn cảm thấy máu đang thấm ra. Mất máu, cơn đau, và chất thép lạnh của chiếc xe váng làm cô phát rét và bắt đầu rùng mình. Cô kiệt sức và mất nước, quá yếu không thể gọi ai, và cơn run trở nên dữ dội tới mức chiếc xe cáng ọp ẹp từ bên này sang bên kia trên mấy bánh xe cao su. Hết lần này tới lần khác, người ta ào ạt chạy qua và phớt lờ cô. Khi cô thấy bà bác sĩ vội quã đi qua, cô vươn ra tóm lấy tay bà ấy. Nghiến chặt răng, cô nói cô bị lạnh, cô muốn có một cái chăn phủ lên xe cáng.

“Cô bao nhiêu tuổi rồi?” bác sĩ hỏi.

“Hai mươi mốt ạ,” Polina trả lời.

“Cô có phải trẻ con đâu. Nhấc người dậy đi,” bác sĩ nói.

“Chị làm ơn, có cái chăn nào không ạ?” Polina hỏi.

“Cô là ai mà đòi ra lệnh? Không thích ở đây, thì lần sau địt in ít thôi.”

Khi họ cho cô về tối hôm đó, Maxim đang đợi sẵn cô ở ngoài. Cô không thực sự ở trong bất kỳ tình trạng nào đủ để tự đón được xe buýt, nên, theo hướng ấy, cô biết ơn khi có ai giúp mình. Chỉ có điều cô ước gì đó là ai khác. Người mà, chính xác thì, cô không thể nói thẳng, kể cả là người lạ, là ai cũng được nhưng đừng là Maxim. Cô nhìn thấy anh qua các ô cửa sổ vuông được buộc dây gia cố trên cửa bệnh viện. Anh đứng ở bậc thang đá dưới cùng, hơi vặn hông, nghe một chàng trai trẻ khác vừa hút thuốc vừa nói chuyện. Khi Polina mở cửa, Maxim nhìn lên và bước lên mấy bạc thang như thể để giúp cô. Nhưng khi anh lên tới bậc trên cùng, cánh cửa đã khép lại phía sau lưng cô. Trông anh bối rối mất một thoáng. Polina ngóng anh chìa tay ra cho cô. Cô chờ đợi để từ chối anh. Chỉ là anh không chìa tay ra cho cô. Anh cũng chẳng làm hay nói ra những điều không hay ho mà cô mong đợi anh làm hay nói, như thế lại càng kích thích cô một cách tò mò hơn nữa. Cô nhìn anh và thấy vẻ sám hối và sự giải thoát đang ganh đua hòng thống trị trên gương mặt ăn.

“Chị có thấy một cô kiểu mũm mĩm mặc váy xanh hoạ tiết mây trong đó không?” chàng trai trẻ hút thuốc cất lời khi Polina và Maxim xuống tới bậc dưới cùng.

“Tôi không nghĩ là có,” Polina nói.

“Tên cô ấy là Raisa. Tóc cô ấy màu nâu hơi ngắn và có lúm đồng tiền ở cằm.”

“Tôi thực sự không biết,” Polina nói.

“Cô bạn của cô ấy đưa cô ấy tới đây sáng nay. Khá lâu rồi. Để tôi hỏi nhé, và xin chị hãy trả lời thật: Chị nghĩ thế nào, tôi có nên đợi tiếp không?” anh ta nói.

Polina đồng ý cho Maxim hộ tống cô đi xe buýt về nhà. Họ đi hộ qua hai khối nhà từ bến xe buýt về đến nhà cô mà chẳng nói gì. Chỉ khi dừng lại chào tạm biệt, Maxim mới nói ra tiếng lòng mình. Anh đã nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần trong những cuộc chuyện trò để đi tới quyết định phá thai.

“Như thế tốt hơn cho tương lai của chúng mình,” Maxim nói.

 

Hôm sau, Maxim mang hoa cẩm chướng cho cô và hỏi thăm tình trạng tốt của cô. Vài ngày sau, anh lại mang hoa cẩm chướng tới. Sau một tuần, anh quay lại với nhiều hoa cẩm chướng hơn, lần này là bởi thực tế rằng anh đã, trước chuyện phá thai, thiết lập thói quen mang hoa cho cô mỗi tuần một lần. Anh bày tỏ với Polina theo cái cách như để truyền đạt rằng anh tin mọi chuyện đã trở lại bình thường. Mặc dù trong cô có một thôi thúc phản đối không thể gọi tên, cô thừa nhận rằng mọi chuyện quả thực đã trở lại bình thường. Cô không thể biện minh cho cơn bực bội kéo dài của bản thân. Trải nghiệm ở phòng khám của cô thật tồi tệ, nhưng cô cũng chẳng có lý do nào để cho rằng nó đã có thể khác đi. Hầu hết mọi người mà cô biết đều từng có ít nhất một lần phá thai. Vài người tới bệnh viện; những người khác, hi vọng giấu được cha mẹ họ chuyện mang bầu, bắt bạn trai họ trả hai mươi lăm rúp và nộp đơn làm thủ tục ở căn hộ của một y tá hay một bác sĩ. Cũng không ít trong số đó có kết cục phải vào bệnh viện, vì nhiễm trùng và biến chứng. So với mấy trường hợp ấy, thử thách của cô khó mà bì được.

Bằng cách của riêng mình, Polina và Maxim đã giữ kín chuyện phá thai. Maxim đã đưa một hộp trứng cá muối cho vị bác sĩ tại phòng khám đa khoa khu vực đã chuyển Polina đến bệnh viện. Như thế được hiểu rằng bác sĩ sẽ không nói gì với bố mẹ Polina. Polina cũng không chia sẻ kể lể gì với em gái mình. Thế nên, vì chẳng biết gì, cả mẹ và em gái cô đều bình phẩm về màn lãng mạn khác thường của Maxim.

“Ba bó hoa một tuần. Đúng là một cử chỉ rất chọn lọc và thấu đáo nhé,” mẹ Polina nói.

“Anh ấy sắp cầu hôn cũng nên,” Nadja nói.

Maxim đã nói chuyện nghiêm túc về hôn nhân. Nhưng anh đã dằn mình khỏi một lời cầu hôn thông thường, bởi họ đang ở thời điểm quan trọng của cuộc đời. Cả hai đều sẽ phải vượt qua các bài kiểm tra và, một cách lý tưởng, có vị trí ở top đầu trong lớp của mỗi trường. Sau đó, Maxim sẽ phải thực hiện nghĩa vụ quân sự. Anh sẽ đi mất hai tháng và sau đó sẽ bắt buộc phải làm một bài kiểm tra nữa. Nếu anh vượt qua bài kiểm tra, anh sẽ được đeo quân hàm, trở thành trung uý dự bị, và được tự do theo đuổi cuộc sống thường dân như mọi người. Nếu trượt, anh sẽ phải phục vụ trong Quân ngũ hai năm. Rất hiếm người trượt, nhưng để đưa ra một quyết định trọng đại trong hoàn cảnh chưa biết chắc ra sao thì quá là liều lĩnh. Sau cùng, cả hai đều chưa biết họ sẽ được phân công đi làm ở đâu. Chẳng có gì đảm bảo rằng họ sẽ có vị trí ổn định ở Riga hoặc, nếu trượt Riga, rằng họ sẽ có vị trí ổn định ở đâu đó gần nhau. Nên họ thống nhất cùng đợi.

Trong ngày làm lễ tốt nghiệp của mình, Polina ngồi với bố mẹ và Nadja bên dưới mái kính của đại sảnh trường đại học. Theo tục lệ, bố cô cầm một bó hoa—hoa loa kèn trắng, thơm ngát. Mái tóc Polina, mới được mẹ gội và tạo kiểu, toả sáng rạng rỡ, như thể toả ra bức xạ trí tuệ. Cô mặc chiếc váy mới may bằng vải xanh lục dạ quang—mẹ cô mua vật tư và một thợ may may theo mẫu của Pháp. Polina là người đầu tiên trong gia đình được nhận bằng tốt nghiệp đại học. Những gì bố cô học được trong tám năm ở trường tư đã trở thành lợi ích của Hải quân Xô Viết. Mẹ cô lớn lên trong một thị trấn nhỏ ở Byelorussia, ở đó chẳng mấy ai có nhu cầu học lên cao, nhất lại là phụ nữ. Vì vậy, khi Polina nghe thấy tên mình được gọi, cô đứng dậy khỏi ghế và cảm thấy mình bị đẩy lên sân khấu bởi sức mạnh tích tụ trong ước mơ của cha mẹ cô.

Buổi tối, Polina cùng bạn học dự một buổi tiệc ở quán Café Riga trong phố cổ. Khắp thị trấn, các cử nhân nhảy nhót và uống mừng ngày cuối cùng của đời sinh viên. Một số bạn học của Polina mang theo nhạc cụ và chơi các bài của Beatles, Raymon Pauls, và Domenico Modugno. Các ly rượu sâm banh rót đầy, tất cả bọn họ đều thả cái ghim cài ve áo hình kim cương được tặng thưởng vào ly rượu, rồi uống cạn một hơi, để lại lớp men xanh sáng bóng lấp lánh giữa hai hàm răng. Khoảng mười giờ, Maxim rời tiệc của lớp anh và tham dự cùng Polina ở quán Café Riga. Khi cô nhận ra anh trong đám đông, cô ngạc nhiên thấy mình vui biết chừng nào khi nhìn thấy anh. Một cảm giác của sự sở hữu, ấm áp, bừng nở trong cô. Người đàn ông này, hấp háy mắt qua làn khói thuốc, chăm chú nhìn khắp phòng tìm cô, lơ đãng dụi tay lên vết sẹo bên trên lông mày, khi anh còn là một thằng nhóc, một đứa bạn cùng trường đã đánh anh bằng vợt cầu lông—đó là người đàn ông của cô. Trong số bao nhiêu con người, anh là của cô, và sự thừa nhận giản đơn này là đủ để làm cô thấy thương anh. Đỏ bừng mặt với niềm lạc quan, rượu, và tình cảm, Polina ngã vào vòng tay anh và cuốn anh lên sàn nhảy. Bạn học của cô đều đặn tiếp sâm banh, vodka và rượu cho họ. Chẳng bao lâu, Maxim quên phắt giới hạn thường khi của mình, nới lỏng cà vạt, và nhảy hoang dại, vụng về cuồng nhiệt theo màn biểu diễn bài “Get Back” của Beatles của ban nhạc.

Lúc bình minh, khi họ cùng nhau lảo đảo đánh võng qua những viên đá cuội của khu phố cổ, Maxim cầu hôn và Polina đồng ý. Tương lai của họ dường như đã chắc chắn như nó phải vậy. Giống như Polina, Maxim đạt điểm tốt trong bài kiểm tra và được quyền chọn những nhà máy uy tín. Cô có công việc đợi cô ở V.E.F., còn anh sẽ có một vị trí ở nhà máy Popov Radiotechnika vốn được đánh giá rất cao. Họ sẽ kết hôn, chuyển về sống cùng bố mẹ anh, nộp đơn tới cơ quan quản lý nhà ở thành phố xin được cấp một căn hộ riêng, và bắt đầu xây dựng gia đình. Họ sẽ bắt đầu đời sống trưởng thành đầy hiệu quả và thoả mãn.

 

Với Alec, Polina giống như điểm tĩnh tại tâm của một con quay. Anh gặp cô, ngày qua ngày, ở bàn của cô tại ban công nghệ, cân đối và tinh tế như một bức tượng trung quốc nhỏ. Bên cạnh là một bà cô goá chồng nghiêm nghị. Mỗi lần Alec nghĩ cách tiếp cận Polina, bà goá đều có mặt, làm nản lòng anh bằng cái nhìn doạ thiến. Anh mất ít nhất một tháng để nghiền ngẫm cách công phá hệ thống phòng thủ này. Ban đầu, anh chỉ muốn nói vài lời với Polina, chỉ để xem liệu anh có thể làm nụ cười hé nở hay không. Chỉ có vậy. Không gì hơn. Chỉ để khởi đầu mà thôi.

Cuối cùng, một buổi chiều, khi Polina chuẩn bị ra về, người canh gác cô bỏ trống vị trí của mình và Alec tiến đến, cùng em trai anh, Karl.

“Anh em tôi sắp ra ngoài tìm kiếm chút phiêu lưu. Chúng tôi cần một người bạn đồng hành có trách nhiệm để đảm bảo chúng tôi không làm gì quá trớn.”

“Liên quan gì đến tôi?”

“Cô có khuôn mặt tử tế và đầy trách nhiệm.”

“Đồng chí Lenin cũng thế mà.”

“Quả vậy. Nhưng đồng chí Lenin đâu có rảnh. Và, phải mạo hiểm để nói những lời nghe không ái quốc cho lắm, tôi chắc chắn chúng tôi thích có cô đồng hành hơn.”

Buổi tối hôm đó cô không nói nhiều; cô để anh làm mình vui. Sau khi uống xong, cô kín đáo xem đồng hồ và đứng dậy nói lời tạm biệt.

“Cô chưa thể đi được,” Alec nói.

“Vậy ư?” Polina hỏi, dừng lại, như thể đồng ý rằng có nội dung gì đó trong lời nói của Alec.

Cô đứng trong thoáng chốc và chăm chú nhìn anh, đợi anh nặn ra lý do. Alec ngước nhìn cô từ chiếc bàn café tròn, gần như không đủ chỗ cho họ để kính và gạt tàn.

“Cô thấy đấy,” Karl nói, “em trai tôi không thể chịu đựng nổi việc một cô gái lại bỏ đi khi cô ấy chưa thú nhận rằng cô ấy nghĩ nó là người đàn ông quyết rũ nhất, đáng thèm khát nhất trên trái đất này.”

“Nhiều phụ nữ nói vậy lắm hả?” Polina hỏi.

“Một cách đáng ngạc nhiên,” Karl nói.

“Hoặc không,” Alec gợi ý.

“Vậy đó là lý do tôi chưa thể đi?”

“Chỉ nếu như cô nghĩ đó là lý do hay,” Alec nói.

“Thành thực mà nói, không đâu,” Polina nói.

“Vậy thì không phải rồi,”

“Thế lý do là gì nào?”

“Nhiều lắm. Những lý do rất quan trọng. Để liệt kê tất cả thì cần có thời gian. Xin cô ngồi xuống đi, tôi sẽ mời cô một ly nữa.”

“Lý do để ở lại của anh là để nghe lý do để ở lại?” Polina hỏi.

“Không đủ hay ư?”

 

Đêm đó cô ra về, nhưng Alec cảm nhận được đèn xanh đã bật. Vượt qua ánh hào quang của Marina Kirilovna, anh tạo thói quen ghé qua ban công nghệ để chào một tiếng. Không lâu sau buổi tối với Karl, trong ngày Hội khoẻ Lao Động và Quốc phòngthường niên, Alec lẻn được vào nhóm Polina. Việc kiểm tra được thực hiện theo từng ban, nhưng Alec, một phần nhờ vị trí của bố anh, nhưng chỉ yếu là do tính cách đoàn thể của mình, đi lại trôi chảy khắp nhà máy. Chẳng có cái nhướn mày nào khi tên anh nằm cùng những cái tên khác của ban công nghệ. Rộng rãi mà nói, chẳng ai quan tâm tới mấy cái sự kiện chính thức và thủ tục. Trong các buổi họp, mọi người đứng, ngồi, nói khi cần thiết, với thời lượng cần thiết, chấp hành những câu nói cần thiết. Chúc mừng Người lao động trong lễ kỉ niệm Cách mạng? Tại sao không? Vinh danh Hồng Quân trong Ngày Hồng Quân? Ai phản đối nổi? Cũng là lý do tốt để trốn việc. Ngày sinh đồng chí Lenin? Đồng chí Stain mọc cái răng đầu tiên? Đồng chí Brezhnev mổ nội soi? Cái nào cũng xứng đáng uống một ly, vài miếng đồ ăn nhẹ, có thể là vài miếng bánh ngọt nữa. Thế nên, cũng vậy với Tập luyện Lao động và Quốc phòng—chỉ ít đồ uống hơn và không có bánh ngọt.

Buổi sáng hội khoẻ, Alec chọn chỗ giữa những người lao động tuổi trẻ của ban công nghệ và ban kĩ-thuật-radio-bán-dẫn. Trong trang phục thể thao và đi giày chạy bộ, họ băng qua đường từ nhà máy thích hợp đến địa điểm sân vận động V.E.F. và khu vực bắn súng. Ở khu vực, súng trường nòng .22 lấy từ kho quân khí đã đợi sẵn. Trong sân vận động, thành viên ban thể thao V.E.F.—các huấn luyện viên và giáo viên hướng dẫn của rất nhiều đội thể thao của nhà máy—đã chuẩn bị sân chơi ném tạ, nhảy xa, nhảy cao, và chạy thi cự ly ngắn. Các huấn luyện viên và giáo viên hướng dẫn đi khắp nơi, tay cầm đồng hồ bấm giờ, thước đo, và danh sách các tiêu chuẩn phải đáp ứng. Đâu đó, có lẽ là điện Kremlin, một chuyên gia về văn hoá thể chất đã xác định mức độ thể lực cơ bản mà người lao động trẻ của Liên Xô cần đạt được để thiết lập sự vượt trội của họ so với người Mỹ và người Trung Cộng. Nếu những kẻ thù này tràn qua biên giới, chúng sẽ phải đối mặt với một trụ cột đáng sợ, sẵn sàng đẩy lùi chúng bằng những màn thể hiện hiển hách dưới hình thức chạy, nhảy, ném tạ và bắn súng ngắn.

Trước khi sự kiện bắt đầu, Alec kiếm Polina và cố gắng thoả thuận với vô. Anh nói với cô rằng anh muốn gặp lại cô.

“Anh đang gặp tôi đấy thôi,” Polina nói.

“Thêm một tối nữa,” Alec nói. “Tôi chỉ xin có thế. Trong tổng thể cả cuộc đời, một buổi tối có là gì?”

“Tuỳ thuộc vào việc dành buổi tối ấy với ai.”

“Một điểm hợp lệ,” Alec nói.

Để đi tới quyết định, Alec đề nghị thi đấu. Nếu anh ghi nhiều điểm hơn ở môn bắn súng trường, Polina sẽ ban cho anh một buổi tối nữa; nếu cô ghi nhiều điểm hơn, anh sẽ để cô yên.

“Tôi phải cảnh báo cô trước,” Alec nói. “Hè năm ngoái, trong đợt huấn luyện nhân viên luân phiên, tôi đứng thứ tám trên bảng xếp hạng thiện xạ.”

“Trên tổng số bao nhiêu?” Polina hỏi.

“Mười sáu,” Alec nói.

“Nghe đâu có giỏi lắm,” Polina nói.

“Đúng, nghe không giỏi lắm,” Alec nói. “Ý tưởng chính là như thế.”

“Tôi không hiểu,” Polina nói.

“Chà, tôi đã cố tình tranh vị trí thứ tám.”

“Sao lại thế?”

“Trong Quân đội, tốt nhất là cứ xếp ở khúc giữa. Rắc rối thường tìm đến với những người ở đáy hoặc đầu bảng.”

“Ý anh tức là anh bắn rất giỏi?”

“Đứng thứ tám,” Alec nói.

“Trong trường hợp ấy, tôi nên kể với anh, hai năm trước ở Hội khoẻ Lao động và Quốc phòng. Tôi xếp thứ hai trong ban. Tôi được thưởng một cái ruy-băng và tên tôi được in trên báo của nhà máy. Chồng tôi dán một bản vào album.”

Alec nhận thấy Polina không vung từ “chồng” như một cây gậy. Cô dường như nhấn vào “chồng” giống như cô nhấn vào “ruy-băng” và “album.” Nhưng Alec không ngu tới mức tin rằng cô vô tình chêm cái từ ấy vào. Theo một nghĩa nào đó, kể từ lúc cô không dứt khoát từ chối anh, mọi thứ cô nói về chồng mình đều đứng trên bờ vực của sự phản bội. Bất cứ thông tin nào Alec có được về anh ta đều là những thông tin mà anh có thể để chống lại anh ta. Ví dụ, thực tế anh ta là loại đàn ông lưu lại bản in của tờ báo ngu ngốc của nhà máy. Rồi lại thêm lần nữa, rất khả thi là Polina thấy cử chỉ ấy đáng yêu. Cô có thể đang ám chỉ rằng nó chính xác là loại đàn ông mà cô muốn. Một người không như Alec, người mà, trong sự tinh tế trớ trêu của bản thân, không thể hi vọng sẽ có hoặc trân trọng thứ cảm xúc trong sáng, uỷ mị như vậy.

Nhưng, bất kể ý cô là gì, cô đã ngầm đồng ý thi đấu.

David Bezmozgis - The train of their departure (minh hoạ - Yvetta Fedorova - newyorker.com).jpg
Minh hoạ: Yvetta Fedorova – newyorker.com

Trọng tài môn bắn súng là Volodya Zobodkin, một trong những người Do Thái trẻ tuổi đã cùng chơi bóng đá trên bãi biển Majori cùng Alec và Karl. Khi Volodya phát súng trường, Alec hỏi liệu anh có thể được nhận cái nào có ống ngắm đáng tin cậy không.”

“Cậu là ai chứ? Zaitsev à?” Volodya nói. “Đây không phải là Trận Stalingrad. Cứ nhắm theo hướng chung của đích bắn là được.”

“Cậu có cái nào có ống ngắm đã điều chỉnh hay không nào?” Alec kiên trì.

“Cậu sao đấy hả?” Volodya hỏi. “Đang uống rồi đấy à? Còn chưa tới bữa trưa cơ mà.”

Không cần quá chi tiết, Alec kể cho Volodya chuyện anh đang thu xếp. Volodya liếc nhanh Polina, nhướn mày đồng ý, và chọn trong đống súng trường xem có gì phù hợp không. Anh ta đưa một khẩu cho Alec rồi lại tìm tiếp, một khẩu kém hơn nhiều, cho Polina.

“Khẩu này bắn thường bị lệch sang bên,” Volodya nói.

Nhưng đó không phải kiểu thi đấu Alec muốn, phần nhiều vì anh cảm thấy đây không phải kiểu thi đấu Polina chấp nhận. Cô dường như là mẫu người tôn trọng luật lệ, kể cả những luật bắt buộc phải phá luật khác.

Alec bắn trước. Với tất cả niềm kiêu hãnh cho vị trí thứ tám, anh phải thừa nhận rằng anh không thể so sánh nỗ lực đòi hỏi để có thứ hạng tầm thường với nỗ lực đòi hỏi cho sự xuất sắc. Nước chảy chỗ trũng về phía sự tầm thường; vì điều này, thế giới ít cần cái cách mà bạn hợp tác. Trong khi hoàn toàn vô năng hoặc cực kì xuất chúng lại đòi hỏi vài yêu cầu.

Với sự tin tưởng và một chút nhạc nhiên của mình, Alec bắn tốt. Volodya hô ngừng bắn và trao tro Alec bia bắn của anh—một cụm lỗ thủng nhóm lại gần nhau rất hợp lý, gần hồng tâm rất hợp lý. Ngay cả nếu Polina có bắn tốt hơn, Alec cảm thấy anh đã thể hiện đủ tốt để đảm bảo có được cuộc hẹn.

“Đó là cách anh bắn trong Quân đội à?” Polina hỏi.

“Cả đời mình tôi chưa bao giờ bắn tốt đến thế,” Alec nói. “Nhưng tôi chưa bao giờ có được động lực như vậy. Các thầy cô của tôi thường ghi trong học bạ, “Alec tốt bụng và có những biểu hiện thông minh, nhưng lười, lơ đễnh, và thiếu động lực.”

Để cho công bằng, Polina bắn bằng khẩu súng trường Alec đã dùng. Alc quan sát cô tiến vào vị trí nằm và chậm rãi ngắm bắn, thân súng tựa chính xác lên má, báng súng ở ngay chỗ cong của vai. Khi cô bắn, Alec đứng phía sau hơi lệch sang một bên và tận dụng cơ hội để thèm khát cô theo cái cách trước đây anh chưa từng chạm tới. Không bị cản trở, anh để đôi mắt mình nán lại trên cái tai mịn màng của cô, những nếp nhăn ở khoé mắt nheo lại của cô, những đường gân mạnh mẽ, như điều khắc trên cổ cô, và thân hình cân xứng hoàn mỹ của cô. Anh quan sát cô bắn rất ổn định, siết chặt một phát rồi trượt chốt sang đạn vòng tiếp theo. Alec trông như thể cô đang bắn để dành chiến thắng, điều mà anh không thể không nhận thấy là một dấu hiệu xấu.

Sau đó, khi chuyện giữa họ đã xác định rõ ràng hơn, Polina giải thích rằng cô bắn theo lối ấy không phải vì cô muốn tránh mặt anh lần nữa mà bởi cô không thể thể hiện khác đi được.

“Ngoài nghĩa địa và trong các tập ca khúc đầy những người như em,” Alec nhận xét, một thực tế cô không thể tranh cãi nổi.

Sau khi Polina bắn xong, Volodya lấy bia bắn và so sánh với kết quả của Alec. Polina đã bắn tốt, nhưng chẳng nghi ngờ gì Alec bắn còn tốt hơn.

“Tưởng tượng được không,” Alec nói, bày đặt thẹn thùng.

“Có lẽ chưa quá muộn đâu,” Polina nói. “Anh vẫn có thể lên tướng được đấy.”

“Suy nghĩ gây quan ngại đấy,” Alec nói.

Sau đó, họ chạy, nhảy, ném tạ vội vàng, giết giờ cho tới khi hội khoẻ kết thúc. Khi Alec rời khỏi sân vận động, Volodya bắt kịp anh và chúc mừng anh lần nữa vì chiến thắng tưng bừng của anh. Anh ta muốn thông báo với Alec rằng màn bắn súng của anh ăn được không chỉ cuộc hẹn với Polina. Anh đứng nhất toàn đoàn. Là xạ thủ đứng đầu, Volodya giải thích, Alec sẽ được xếp hạng nhận bằng khen thiện xạ Stakhanovite, và thành tích này sẽ bao gồm chính thức ghi nhận ở đại hội Thanh niên Cộng Sản và được đặc biệt nhắc tới trên tờ báo của nhà máy.

“Thôi nào, Vovka,” Alec nói. “Đừng làm hỏng ngày của tớ. Cứ viết là tớ xếp hạng tám và trao vinh dự ấy cho thằng đần nào khác đi.”

“Đứng thứ hai chính là cô nàng của cậu,” Volodya nói.

“Hoàn hảo,” Alec nói. “Chồng cô ấy thích cắt dán mấy bài trên báo nhà máy.”

Tuần tiếp theo, khi tên Polina được in, một người quen nhìn thấy và kể với Maxim. Như trước đây, anh hỏi xin một bản. Polina tả cho Alec nghe cô đã phải nhìn Maxim dán bài báo ngu si vào cuốn album của anh ta như thế nào. Giá mà anh ta không khờ đến thế, Polina nói, Alec không đón nhận điều này như tiếng chuông chứng thực vai trò của mình như một người tình. Nhưng Polina luôn nói một cách bình dị. Giá mà Maxim không khờ đến thế, cô nói, cô sẽ giữ được sự chung thuỷ với anh ta, sẽ không bao giờ đến với Alec, và sẽ sống một cuộc đời giản đơn, lặng lẽ.

 

Họ tiếp tục ngoại tình qua mùa hè và mùa thu. Có những thời điểm họ gặp nhau khá thường xuyên; những lúc khác hàng tuần liền mới gặp nhau. Polina có cuộc hôn nhân với Maxim, và khi cô chưa sẵn sàng, Alec cố gắng đóng vai của cuộc đời theo cách của anh. Suốt thời gian này, họ không hề hay biết, chuyến tàu ra đi của họ đang tới, lúc đầu rất xa và hầu như không nghe thấy nổi, nhưng có thêm quán tính sau mỗi tuần trôi qua.

Thế rồi, vào một buổi chiều náo nhiệt tháng Ba, sau khi Karl thô báo dự định đi tìm vận may ở phương Tây của nó và đã bắt đầu một chiến dịch thuyết phục Alec đi cùng, Poline đến gặp Alec ở căn hộ độc thân bé tí của anh. Lạnh, ướt nhẹp vì cơn mưa, cô ngồi xuống chiếc bàn trong bếp và để mặc tóc và gấu áo khoác nhỏ nước.

Họ trao đổi cùng các câu hỏi và câu trả lời: Cô có chắc không? Chắc. Làm sao mà cô có thể chắc được? Cô chắc. Rồi đến những câu hỏi khó chịu, tế nhị hơn mà anh không thể kìm chế được: Và cô chắc chứ? Gần như là chắc chắn. Nhưng không chắc chắn? Chắc chắn hết cỡ có thể. Anh có muốn cô đi vào chi tiết không? Để làm kiểm điểm à? Cô có thể làm được. Sẽ không mất nhiều thời gian. Không, anh không muốn thế. Họ có thể chờ cho đến khi đứa bé ra đời, sau đó có thể làm xét nghiệm. Anh muốn như thế à? Không, anh cũng không muốn thế. Thế anh muốn cái gì?

Cố gắng dịu dàng trong khả năng bày tỏ của mình, anh cho cô biết anh muốn gì.

“Em làm thế một lần rồi,” cô nói. “Em đã thề sẽ không làm thêm lần nào nữa. Em đã không tin rằng mình sẽ lại phải đối diện với lựa chọn.”

Anh không thể nghĩ thấu đáo nổi. Đầu óc anh chạy đua, tìm một lối thoát. Như thế chẳng giúp được gì trong hoàn cảnh của cô, ướt sũng, ngấm lạnh, môi cô gần như bợt màu, Polina đem tới hình ảnh về vẻ đẹp thương tổn và cay đắng.

Sau đó, anh tham khảo ý kiến Karl và có sự liệt kê đau đớn các phương án: Anh có muốn cưới cô và nuôi nấng đứa bé? Anh không muốn cưới cô và để cô nuôi đứa bé? Một mình hay với chồng cô? Anh có muốn tham gia cùng Karl rời khỏi Riga không? Sau đó thì sao? Cưới cô? Đưa theo một phụ nữ có bầu? Hay một đứa bé sơ sinh? Di cư đã đủ khó khăn khi chưa có thêm gánh nặng ấy rồi. Karl biết những phụ nữ có hôn nhân hạnh phúc đã phá thai sau khi họ nhận được thị thực xuất cảnh. Và dự định của cô là gì? Cô muốn gì? Có thể làm gì với cô đây?

Kể cả đàn ông có làm như thế suốt đi chăng nữ, Alec nói, anh không muốn bỏ lại đứa con của mình phía sau. Anh không nghĩ rằng mình có thể quên đi một cách đơn giản. Nó sẽ luôn dày vò anh.

Nhưng anh có phương án thay thế nào nếu cô không đồng ý phá thai?

Ba ngày sau khi báo tin, Polina trở lại để nghe câu trả lời của Alec. Ngày hôm đó trời lạnh nhưng trong trẻo, và lần này cô đến trong một tâm thế rất khác. Thay vì lạnh lùng, quyết tử. Bên trong áo khoác, cô mặc một chiếc áo len cao cổ màu ghi tối, cổ áo cao tới tận cằm cô. Cô mặc kèm với chiếc váy xanh hải quân và đôi bốt đen cao cổ. Ngoài trừ khuôn mặt và đôi bàn tay, trông cô kín mít, buồn thảm. Trang phục dường như được chọn để chối bỏ cơ thể cô, để ngăn cản mọi suy nghĩ nhạy cảm, từ anh hay từ bất kì ai khác. Còn có thể có lý do nào khác cho bộ đồ không tôn dáng như vậy? Không phải để giấu chuyện có bầu. Sinh linh bé nhỏ trú ngụ bên trong cô mới chưa được ba tháng tuổi. Alec tưởng tượng nó mới chỉ có mạch mờ và kích thước bằng quả mận gai. Anh hình dung nó trong dòng đối lưu đỏ của tử cung, lớn dần lên, phát triển mạnh, và xâm chiếm cuộc đời anh. Anh cố gắng nghĩ về nó theo một hướng khác, tích cực hơn, để mường tượng về nó trong mạch nguồn hạnh phúc. Tại sao lại không? Nhiều người rất vui mừng vì có con. Và anh thì không phải loại ở phía đối nghịch trong chuyện một ngày nào đó sẽ có con. Nhìn về tương lai, anh đôi lần thấy mình ở giữa lũ trẻ, làm ngựa cho chúng cưỡi, dắt chúng đi học, cho chúng đi ngủ. Nhưng không phải như thế này. Như thế này, anh chỉ thấy trước một mớ chuyện phức tạp.

Và, trong cả mớ chuyện phức tạp, tâm trí Alec nắm bắt được chuyện rắc rối nhất. Trong ngày thứ ba, anh nắm bắt được nó để kết luận mọi chuyện khác. Anh càng nghĩ về kịch bản tồi tệ nhất—đi di cư và bỏ lại đứa bé phía sau—chuyến di cư càng bắt đầu trở nên gượng ép. Anh hình dung lương tâm mình bị dày vò đâu đó chung chung ở phương Tây, hoặc, ngược lại, anh bị mắc kẹt bởi lương tâm mình tại Riga, không sẵn sàng từ bỏ quyền làm cha của mình.

“Lương tâm cái con khỉ,” Karl chế nhạo. “Lương tâm là vấn đề nhỏ nhất của anh ở đây. Anh vẫn có thể mắc kẹt lại ở đây bất kể lương tâm của anh thế nào.”

Ý nó nói nếu Polina có con và anh được chứng minh là cha đứa trẻ, anh sẽ cần cô viết giấy đồng ý cho anh được rời khỏi đất nước. Cô sẽ phải kí một bản cam kết rằng cô không đòi hỏi vật chất gì từ phía anh.

“Chuyện ấy chẳng cần phải nói,” Alec quả quyết, “nếu anh mà bỏ đứa bé lại thì anh sẽ gửi tiền về. Polina biết thế mà.”

“Cô ta có thể, hoặc không,” Karl phản đối.

“Cô ấy không có tính thù hằn. Cô ấy không bao giờ gây chuyện cả.”

“Anh đã bao giờ xỏ cô ta cùng một đứa bé chưa?”

“Cô ấy không phải loại người ấy. Chuyện này thì anh chắc.”

“Anh không biết đâu, và anh không thể nào biết được đâu. Chẳng tài nào mà nói được một người sẽ phản ứng thế nào từ hôm nay qua hôm sau. Chỉ có một cách để tránh rắc rối thôi, đó là ngay từ đầu đừng có tạo ra rắc rối.”

“Hầy, rắc rối thành chuyện rồi.”

“Đúng mà cũng không đúng,” Karl nói. “Nhưng cứ đợi thật lâu đi rồi chuyện sẽ tự nó finita la commedia (ND: thành ngữ Ý, nghĩa là ‘kết thúc trò hè’).”

“Cô ấy sẽ không đồng ý đâu.”

“Đây là lần đầu anh làm cho con gái nhà người ta mang bầu à?”

“Như thế thì sao chứ?”

“Anh buông lời đường mật lúc vào—buông lời đường mật lúc ra.”

“Buông lời đường mật dễ hơn quá nhiều.”

“Đấy, chà, viết lên trán anh đi, để lần sau mà nhớ.”

“Còn gì nữa không?”

“Gì nữa nào? Anh phải tự lo thôi. Em làm sao lo hộ anh được. Nhưng, nếu anh chưa biết bác sĩ nào, thì em biết một bác sĩ giỏi đấy. Kín miệng, chuyên gia, và sạch gọn.”

“Rosner à?”

“Anh từng đến chỗ ông ấy rồi à?”

“Chưa bao giờ cần. Còn mày?”

“Em biết ông ấy trực tiếp qua tiếng tăm.”

Bên cạnh việc giới thiệu ông bác sĩ, Karl chẳng giúp được gì. Alec bị bỏ mặc với những lời khuyên của chính mình. Và, khi Polina ngồi trong bếp nhà anh, anh đã hiểu ra rằng cuộc sống, điều anh vẫn coi như một thú tiêu khiển, thứ mà anh nghĩ anh có thể vượt lên trước, cuối cùng đã bắt kịp anh. Và anh khám phá ra, đúng như anh đã ngờ ngợ, rằng một khi cuộc sống bắt kịp bạn, bạn sẽ không bao giờ có thể xoay chuyển được thêm lần nữa. Nó nỗ lực gây trở ngại cho bạn với tần suất càng ngày càng mạnh hơn. Cách mà bạn xoay xở để giữ cho mọi sự được thẳng thớm sẽ trở thành phong cách, thành con người bạn.

Phong cách là điều khác biệt giữa anh và Polina. Trong buổi chiều tháng Ba hôm ấy, anh muốn tiếp cận vấn đề từ phía diện bên, khoanh tròn vài lần, cho tới khi lượn lờ với những chuyển động vòng vo như vậy, hai người bọn họ sẽ khám phá ra đích đến như một lẽ tình cờ.

Polina, trong lúc ấy, lại muốn xộc thẳng vào trực diện vấn đề.

“Đó là một tai nạn,” Alec bắt đầu, “Em không lên kế hoạch như thế này.”

“Làm sao em lên kế hoạch cho điều mà em nghĩ là bất khả thi?”

“Nhưng, nếu em có thể, liệu em sẽ lên kế hoạch như thế chứ?”

“Không. Nhưng thế thì làm sao nào? Nó xảy ra rồi. Em không hối tiếc vì chuyện đã xảy ra. Kể cả nếu anh có muốn em như thế,” Polina nói bằng sự thách thức chủ đích.

“Anh không muốn em thấy hối tiếc,” Alec nói. “Anh muốn em được hạnh phúc. Giữ đứa bé sẽ làm em hạnh phúc chứ?”

Cô không trả lời ngay lập tức, nhưng có vẻ cẩn thận cân nhắc.

“Có thể.”

Một cách dịu dàng, Alec cố gắng kể ra các phương án anh đã phân tích cùng Karl.

“Em có hạnh phúc khi có con với Maxim không?”

“Nếu đây là cách anh bắt đầu,” Polina nói, “anh không cần nói thêm gì nữa. Em tự có câu trả lời cho mình.”

“Anh nghĩ em nhầm rồi.”

“Anh muốn em có con ư?”

“Không,” Alec nói.

“Vậy là em đã nhầm.”

“Nếu đó là câu hỏi duy nhất, thì, không, em không nhầm.”

“Đó là câu hỏi duy nhất quan trọng,” Polina nói.

“Vậy còn chuyện gì sẽ xảy ra với em và đứa bé?”

“Chúng ta sẽ tìm ra cách của mình. Chúng ta không phải những người đầu tiên.”

“Ở Riga này á?”

“Em hình dung thế. Còn ở đâu nữa?”

“Sống cùng Maxim hay em sống một mình?”

“Hoặc, lúc ấy, với ai đó khác.”

“Ừ, thế nữa đấy. Nuôi con anh.”

“Về mặt sinh học thôi.”

“Không phải là không có nghĩa lý gì đâu.”

“Với ai cơ?”

“Với anh.”

“Em sợ rằng anh không thể có tất cả mọi thứ được.”

“Có thể cũng không phải không có nghĩa lý gì với đứa bé.”

“Alec, như thế cũng là muốn có tất cả rồi. Anh không thể đòi hỏi được quan tâm tới cảm xúc của đứa bé anh muốn bỏ được.”

Lời cô nói có lý, nhưng nó không làm thay đổi thực tế rằng Alec cảm thấy khá chắc chắn rằng anh có thểquan tâm tới cảm xúc của đứa bé anh muốn bỏ. Đó là, một khi đứa bé được sinh ra.

“Polina, anh hiểu đứa bé có ý nghĩa với em như thế nào,” anh nói. “Anh hiểu em cảm thấy thế nào về việc từ bỏ. Em có tin ở anh không?”

“Điều ấy quan trọng à?”

“Quan trọng với anh. Nếu anh có thể đồng ý sinh con, anh sẽ làm ngay. Nếu anh có thể làm cha đứa bé, anh sẽ làm ngay.”

“Em không bao giờ bắt anh làm cha nó.”

“Vậy em hi vọng anh sẽ nói gì nào?”

“Em không biết. Hoặc là, hơi hơi, em biết,” Polina nói, và cười khô khốc. “Vấn đề không phải là em muốn anh nói gì mà là em muốn anh không nói gì. Thế thôi.”

Sự tĩnh lặng của màn kết bao trùm lấy cô, hoặc cô triệu hồi từ trong lòng mình. Điều đó nhìn Alec như thể cô đã sáng tác ra khuôn mặt chia tay của mình. Bằng cách nào đó cuộc chuyện trò mà anh đã lên kế hoạch đã vuột khỏi tầm kiểm soát của anh. Không phải anh tự đánh lừa bản thân rằng chuyện sẽ dễ dàng. Anh đã tưởng tượng ra một con đường gai góc dẫn tới, ở đoạn cuối, một giải pháp thuận lợi. Anh đã hình dung ra niềm hạnh phúc của Polina—thậm chí cả lòng biết ơn—trước lời cầu hôn của anh. Nhưng giờ thì, thực tế, anh sợ rằng cô sẽ bỏ đi trước khi anh kịp thực hiện lời đề nghị cứu chuộc lớn lao của mình. Lời đề nghị sẽ tái hiện anh đầy triệt để và anh hùng, không chỉ trong mắt cô mà còn cả trong chính mắt anh.

Cảm nhận thời gian của mình còn rất ít, anh gấp rút tiến tới và kể với cô rằng anh sắp tời Riga.

Rồi anh trải lòng kế hoạch lớn của mình, như một tấm thảm dẫn tới tương lai bội thu. Polina sẽ li dị Maxim. Hai người họ sẽ kết hôn. Một bác sĩ chuyên gia sẽ làm việc phải làm với sự chăm sóc không thể so sánh được trong một bầu không khí hoàn toàn riêng tư. Sẽ hoàn toàn không giống với sự man rợ của phòng phá thai công cộng. Cô sẽ không bị thương tổn gì hết. Cô sẽ vẫn hoàn toàn có thể mang bầu. Một khi họ đã ổn định ở đâu đó, họ có thể thử lại một cách hợp lý. Đây là cơ-hội-có-một-không-hai-trong-đời để họ vuột khỏi gông cùm của Liên bang Xô Viết.

“Tất cả đều màu hồng,” Polina nói.

“Có thể mà. Anh nghĩ chúng mình có thể gây dựng cuộc sống tốt đẹp cùng nhau ở đó. Anh thực sự tin tưởng như thế.”

“Đừng cố quá, Alec,” Polina nói. “Điều tiếp theo anh sẽ nói với em là anh yêu em.”

Với lời cảnh báo ấy, cô đóng khung một khoảng lặng mênh mông, đủ dài để chứa đựng mọi chuyện đã xảy ra hay sẽ xảy ra: phòng phá thai, Maxim, bố mẹ Alec, bác sĩ tư nhân, bố mẹ cô, các đồng nghiệp cay nghiệt của họ, cái ngày nắng như đổ lửa khi cô ngồi trên ghế băng công viên chờ đợi nói lời tạm biệt em gái mình, và chiếc găng tay của khoang tàu đông đúc, ngột ngạt cuối cùng sẽ đưa họ từ Riga tới phương Tây.


Copyright © 2010 by David Bezmozgis.

ThKh chuyển ngữ không có sự đồng ý của tác giả.

———-

ThKh – 2019

ThKh là một bút danh khác của ChuKim, một người viết tự do, sống và yêu tại một ngôi làng mang tên thành phố. Nếu có thể, hãy ủng hộ và khích lệ bằng cách đọc và chia sẻ những gì anh viết trong khả năng của bạn. Xin cảm ơn.

– natchukim.cogaihu@gmail.com –

PS: Tất cả nội dung trong blog này đều được tuyên bố quyền sở hữu và quyền tác giả về nội dung, ngoại trừ những bài sưu tầm có đề rõ. Mọi trích dẫn, đăng lại, vui lòng ghi rõ nguồn.