Truyện ngắn: Kịch bản thí điểm – Joshua Ferris

Joshua Ferris (1974-) làm việc trong ngành quảng cáo trong bảy năm sau khi tốt nghiệp đại học Iowa năm 1996. Sau đó ông theo học về nghệ thuật tại UC Ivrine và bắt đầu xuất bản các truyện ngắn. Tiểu thuyết đầu tay của ông Then We Came to the End ra mắt năm 2007, tiếp theo đó là các tiểu thuyết The Unnamed (2010) và To Rise Again at a Decent Hour (2014).

Joshua Ferris (Grafilu - newyorker.com).jpg
Tranh: Grafilu – newyorker.com

‘Kịch bản thí điểm’ (The pilot) là truyện ngắn của Joshua Ferris được đăng trong tuyển tập 20 under 40 (2010) của tạp chí The New Yorker. 


Kịch bản thí điểm

Anh không hay tin gì của Kate Lotvelt đã hai tuần nay. Không hẳn là anh cần phải như vậy. Anh và Kate, họ không phải . . . họ có phải là bạn không? Chà, ừ thì, họ là bạn bè. Họ quen biết nhau. Họ gặp nhau hai lần, một lần ở buổi gặp mặt thường tiên của nhà sản xuất Sydney Gleekman, rồi, vài tháng sau, ở bữa tiệc của diễn viên.

Thư mời của Kate được gửi qua e-mail. Cô cẩn trọng, hoặc cô khôn khéo, không để kèm địa chỉ của những khách mời khác. Cô gửi thư cho chồng mình và bbc(1) cho mọi người.

“Từ: Kate Lotvelt. Tới: Eaton Aken. Tiêu đề: Cái chết chỉ là Vỏ bọc!‘Hãy tới vì thức đồ uống & ở lại vì bể bơi.’ “

Anh trả lời(2), nhưng không phải ngay lập tức. Hai ngày sau khi nhận được thư. Hai ngày cộng thêm chắc là một giờ. Và nói đại loại: Không thể đợi được nữa. Sẽ tới thiên đường thuế Winston-Salem trong vài ngày để ghi hình màn quảng cáo thuốc hôi nách thảm hại này. Nhớ cái ga đặc biệt ấy ở chỗ ngã tư chứ? Chắc là không rồi, có lẽ đã tẩy khỏi bộ nhớ từ đời nào. Nhưng, giời ạ, công việc là công việc. Kịch bản thí điểm mà tôi kể cho cô sắp ra lò rồi, tôi nghĩ vậy. Nhiệt tâm của Gleekman, hoặc chí ít Pleble cũng thay mặt ông ấy mà nói lên lòng nhiệt thành. Nhưng thực tế đáng buồn thì lúc nào cũng là truyền hình thực tế. Đó là lý do mà tôi ngưỡng mộ “Cái chết.” Nó thực là một cú địt-mẹ nhỏ nhẹ bệnh hoạn hàng tuần vào mặt những bà vợ đổi chỗ cho nhau và bọn ăn thịt nhện tarantula. Dù sao, xin chúc mừng. Ba mùa phim! Chúa nguyền rủa nếu điều đó không gây ấn tượng trong thời buổi này. Nhưng về loạt phim . . . chà, cô có bao giờ thấy mệt mỏi vì phải nghe mãi những lời khen về nó? Còn tôi đã nghĩ cuộc sống thế là đã hết sau khi “Đường dây”(3) kết thúc. Nghe này, không cần hồi âm cái e-mail dài dòng này đâu. Cô đang hoàn thành mà! Nhưng không thể chờ để gặp cô ở buổi tiệc được. Coi đây như là tôi nhận lời nhé. Không đời nào tôi bỏ lỡ đâu. Không một tẹo nào hết. Hura! Chúc mừng chúc mừng, Lx.

Anh không mong đợi nhận được hồi âm. Đó là e-mail gửi hàng loạt—cô ấy không thể hồi âm từng người trả lời thư được. Cô ấy bận, cô ấy đang hoàn thành mùa thứ ba. Anh thì vẫn muốn nhận được hồi âm. Vài ngày trôi qua, anh muốn nhận được hồi âm vô cùng. E-mail của anh có ăn thua gì không nhỉ? Liệu có sai không khi dùng từ “bệnh hoạn” để nói về loạt phim của cô ấy? Hay có thể cô ấy chỉ đơn giản là đang bận quay tập phim cuối cùng? Anh lẽ ra chỉ nên viết ngắn gọn, đại loại “Cảm ơn vì đã mời tôi, Kate. Hẹn gặp ở đó.” Rồi cô ấy có thể sẽ nhanh chóng ấn nút Hồi âm, với một lời xác nhận, và anh sẽ biết rằng cô ấy biết anh sẽ tới. Liệu cô ấy có biết rằng cô đã mời anh không? Đôi khi, dùng e-mail, vài phần mềm, bạn ấn nút Toàn bộ Danh sách liên lạc hay tương tự thế và mời cả những người mà bạn không định mời. Tất nhiên là cô ấy chủ ý mời anh. Anh chỉ không có xác nhận rằng cô đã nhận được lời đồng ý của anh. Chuyện này thật là làm mất tự tin. Nhưng, nghĩ mà xem, liệu sau đó anh có phải xác nhận cả lời xác nhận của cô ấy không? Không thực sự khả thi cho lắm. Chỉ là . . . Mọi thứ đều ổn. Cô ấy đang hoàn thành phim. Anh quá háo hức. “Một cú địt-mẹ nhỏ nhẹ bệnh hoạn”: nói thế này có lẽ là—không, ổn đấy chứ—hơi xúc phạm chăng? Không, không, ổn đấy chứ, ai mà biết được, anh không biết.

Ở bữa tiệc của diễn viên, cái đêm mà họ trao đổi địa chỉ e-mail, anh và Kate đã ngồi cùng nhau. Mất mười phút anh mới ổn định được lòng mình. Rồi họ chuyện trò về phim Bang hội (4) và mớ bòng bong của nó. Khi anh nghĩ cô đã thật ấm áp với anh, anh rắc cả mớ tiêu vào mặt cô bằng những câu hỏi về loạt phim của cô—cô điều hành một độithế nào, thói quen viết lách của cô là gì. Anh tung ra những dấu hiệu cho thấy sự nể phục của bản thân nhưng lại thận trọng tránh tỏ ra thần phục. Trước đây anh từng thần phục những tay quay phim thuần tuý, và niềm thôi thúc của anh khi trở về nhà là phải hạ gục đứa trẻ mê muội trong lòng mình, phải đẩy nó vào trạng thái hôn mê vĩnh viễn. Sau món tráng miệng, trong khi các vị khách khác đang uống thứ rượu porto đắt tiền—anh đã không đụng vào cồn mười sáu tháng nay—Eaton Aiken, để góp vui, bỏ giày và, đứng trên mớ báo cũ, vẽ một bức tranh lên bức tường phía xa của phòng ăn cho diễn viên bằng sơn nhà và một cái chổi vẽ cứng.

Anh nghĩ tới chuyện mình sẽ đóng góp khác thế nào cho bữa tiệc nếu anh là Eaton Aiken. Nếu anh là Eaton Aiken, đây sẽ là bữa tiệc của anh. Anh sẽ chẳng phải lo nghĩ về bất kể thứ gì ngoài những điều anh đã sẵn có: một toà nhà phong cách kiến trúc Địa Trung Hải những năm một chín hai mươi, có cổng hiên đón xe tận cửa, trên đỉnh Công viên Griffith; một cái bể bơi vô cực ốp lát gạch thẻ Ma Rốc gợn sóng có vảy sáng màu xanh lam (anh đã thấy ảnh trên tạp chí People, dù không muốn, trong lúc đang xếp hàng mua kẹo cao su); tiền chi cho rượu và thuê người phục vụ rượu; và một triển lãm đơn ở Getty(5) trước tuổi bốn mươi. Giờ, khi nhớ tới buổi triển lãm ở Getty, anh không thể coi mình như Eaton Aiken nữa; anh chỉ có thể nghĩ về Eaton Aiken mà thôi. Thành công, quyến rũ, không thị phi. Eaton Aiken còn chưa quay xong quảng cáo thuốc khử mùi ở thiên đường thuế Winston-Salem.

Một phần của vấn đề là đã hai tuần trôi qua và cô ấy không hề gửi lời nhắc tới mọi người rằng phòng khi bạn quên mất buổi tiệc, rất mong được gặp bạn, v. v.. Bữa tiệc sẽ diễn ra tối nay. Liệu còn tổ chức không nhỉ? Anh không dám đoan chắc một trăm phần trăm, giờ này đang là giữa buổi chiều. Anh đang ở trong căn phòng tối của mình—cái nắng có một không hai của L.A. đập vào tấm rèm cửa đóng kín, ga trải giường chưa giặt bốc mùi khói thuốc—xem bản ghi hình lạc hậu DVR trên TV sót lại từ thời W.-S.và kiểm tra đi kiểm tra lại xem có nhận được e-mail lời nhắc hay chưa. Tất nhiên là bữa tiệc sẽ vẫn diễn ra. Nếu bạn là Kate Lotvelt, liệu bạn có lo về việc khách có đến hay không? Cô ấy đã thành công vượt xa khỏi nỗi sầu muộn tẻ nhạt của sự thấp thỏm xã hội.Thực là tuyệt hảo khi chứng kiến chuyện này, hòm thư tới của anh chẳng có một cái e-mail nhắc nhớ nào. Quả là bất ổn. Chẳng phải là khả thi hay sao khi giờ đây cô ấy đã hoàn thành phim và cô ấy nên để tâm hơn tới việc lựa chọn từ danh sách liên lạc những người mà cô ấy thực sự muốn có mặt tại bữa tiệc và gửi e-mail nhắc nhở cho họ?

Cuối cùng anh nhận được một lời nhắn từ Pleble: “Ây người anh em, quay thế nào rồi? Tao đang ở Indio. Đừng có tới cái chốn Coachelle chết tiệt nhé. Đã có thời ở đó có cả trăm ban nhạc đỉnh cao mà chỉ nhõn mười người biết điều này. Bây giờ đó là một cái trại tị nạn cho lũ đầu khấc tân hippie. Chính xác thì mày đang đòi hỏi gì ở một cái e-mail nhắc nhở từ phía Kate Lotvelt vậy? Cô ta nên bỏ quách cái thằng Rumani giẻ rách ấy đi và kí hợp đồng với tao đây này. Thứ Hai tao vê, nếu mày cần nói chuyện. Trong lúc ấy, sao không làm cho xong kịch bản thí điểm của mày đi nhỉ? Pleeb khiêm tốn của mày.”

Chả tích sự gì. Anh đã hi vọng sẽ hay tin Pleble cũng sẽ tới dự tiệc để cả hai có thể đi cùng nhau. Hoặc là, nếu họ không đi cùng nhau, ít nhất anh cũng biết là anh quen ai đấy ở đó. Nhưng có lẽ Pleble không được mời. Nhưng nếu anh được mời thì Pleble cũng sẽ được mời. Kate và Eaton quen thân Pleble hơn là với anh. Phải không nhỉ? Giờ thì anh đang nghĩ chắc chắc đã có một sai sót trong danh sách liên lạc. Sẽ rất tuyệt nếu Pleble xác nhận hoặc phủ nhận rằng cậu ta đã được mời. Nhưng Pleble rất sáng suốt. Nếu cậu ta không được mời, cậu ta sẽ không nói, “Kate tổ chức tiệc à? Sao tao không được mời?” Cậu ta chỉ nói những gì cậu ta đã nói. Nên có thể Pleble được mời, nhưng cậu ta đang ở Indio, chả ra cái mẹ gì, bởi sẽ rất tuyệt khi có người đi cùng hoặc ít nhất là quen ai đấy ở đó. Hoặc có thể Pleble không được mời, trong trường hợp này thì chắc chắc đã có một sai sót trong danh sách liên lạc, và anh lẽ ra cũng không nên được mời. Kiểu gì đi chăng nữa, giờ mọi chuyện trở nên không chắc chắn hơn cả trước khi nhận được cái e-mail hoàn toàn vô dụng và đầy toan tínhcủa Pleble.  Có thể cậu ta còn chẳng ở Indio! Cậu ta không cưỡng nổi nên viết cho Gleekman và hỏi anh liệu anh có được mời không và liệu anh có đi không hay chí ít thì anh có nhận được e-mail nhắc nhở không. Nhưng cậu ta không muốn làm cho Gleekman có ấn tượng rằng cậu ta đang cảm thấy bất an về vị trí của mình trong buổi tiệc của Kate. Như thế khác nào gửi sai tín hiệu. Kịch bản thí điểm là một cú đánh lạc hướng.

Kate Lotvelt là tác giả và là người vận hành loạt phim “Cái chết trong Gia đình,” đồng thời cũng là người viết kịch bản chính và cũng nằm trong đoàn diễn viên. Loạt phim lòng vòng, gần như không có cốt truyện xoay quanh gia đình Michaelson: ông Connor và bà Jean, cậu con trai đã trưởng thành Mike cùng cô vợ Sally, cô con gái tuổi vị thành niên Irene, đứa con nuôi người Hàn Quốc Koko, con chó Cách Mạng, và gia đình Washington nhà hàng xóm. Cứ mỗi tập phim, ai đó lại chết. Ông Connor giết mà Jean, bà Jean thiêu cháy Sally, Mike bị hành quyết một cách sai lầm, Irene bị cảm lạnh, Koko ngã xuống bể bơi, con Cách Mạng bị bắn, nhà Washington bị đầu độc bởi món bí ngòi phô mai đút lò của Sally. Tất cả những điều bất khả xâm phạm về cái chết đều bị giễu nhại: bệnh tật, bệnh viện, nỗi khổ hạnh mãnh liệt ở phòng điều trị bỏng, nhà tang lễ, và cả nỗi buồn khôn kham. Rồi trong tập tiếp theo tất cả mọi người sẽ sống lại! Tất cả mọi người đều tuyệt vời! Không có kí ức gì về nỗi đau đớn của tuần trước và không chút hồ nghi nào về cơn ác mộng sắp ập tới. Câu hỏi cho khán giả là: Lần này đến lượt ai đây? Và như thế nào? Những tập hay nhất khiến anh nghẹt cả thở. Tính châm biếm của loạt phim đem tới hiệu quả, nhưng đồng thời sự trừu tượng của nó cũng mang lại tính giải trí tới mê mẩn. Làm sao mà, tuần này nối tiếp tuần kia, Kate Lotvelt làm cho thứ gì đó bệnh hoạn và đáng sợ trở thành loạt phim hài hước nhất trên truyền hình?

Anh hi vọng mình làm được điều như vậy với “Đời sống Tiệc tùng,” nhưng nó cần được đánh bóng. Nó cần những cặp mắt tươi tắn. Ai đó thông minh. Nhưng biết đâu lại tốt hơn khi anh ở nhà và đánh bóng kịch bản thí điểm bằng tất cả những gì anh có, nhân chuyện anh đã không còn cơ hội nào mà tạo ra đột phá nữa, và rồi thứ Hai tới anh sẽ đưa kịch bản thí điểm cho Pleble, để chuyển cho Gleekman, rồi họ cuối cùng cũng có thể bắt đầu cộng tác nghiêm túc với nhau. Nếu anh ở nhà và đánh bóng kịch bản thí điểm, anh có thể thôi lo âu về chuyện anh có được mời tới bữa tiệc của Kate không, hay liệu anh có quen ai ở đó, hay tại sao anh lại không nhận được e-mail nhắc nhở.

Nhưng quan hệ chiếm tới một nửa của công việc này. Và đâu là phương án hay hơn—đi tới bữa tiệc của năm, mà anh đã được mời, và tạo quan hệ với các diễn viên và giám đốc điều hành? Hay về nhà ở Atlanta và chết? Đó là các lựa chọn của anh. Vậy thì nghi thức hôn chào xã giao đang dâng lên trong lòng anh là gì? Vậy thì chuyện anh chưa từng thiết lập một giao thức dễ dàng để có thể đối diện với những con người xinh đẹp là sao? Quả đúng là có cả cơ số các hành vi được trình diễn tại các bữa tiệc mà khi trở về nhà và nằm xuống giường, cuối cùng cũng được bỏ cặp kính râm cho buổi tối ra, anh mới tỉnh táo mà hồi tưởng lại cho bản thân những khoảnh khắc thiếu tỉnh táo của mình. Anh có nên thoải mái hơn không? Cuồng nhiệt? Nịnh hót? Thờ ơ? Vui sướng? Liệu vui sướng có phải một phương án không nhỉ?

Anh cần một cái nhìn mới cho kịch bản thí điểm, ai đó thông minh, như Kate Lotvelt. Anh cũng cần một cặp kính râm mới. Đã lâu rồi anh ẩn mình phía sau gặp kính râm ấy, loại kính trong loạt phim Tay Anh Chị. Nhưng thậm chí còn chẳng phải là Tay anh chị sừng sỏ! Chỉ là kính râm của em họ của Tay anh chị sừng sỏ. Họ ghê tởm sự say xỉn của anh và, sau đó, làm nhoà đi ánh sáng khôn thấu của thế giới tỉnh táo. Anh đã bỏ nó lại ở nhà trọ W.-S. CountryAirvà chưa tìm thấy loại nào để thay thế, loạt phim về dân anh chị đã kết thúc từ mấy mùa trước, còn thời trang thì vẫn cứ tiến lên.

 

Anh đang bàn bạc chuyện mời bạn cùng nhà. Một mặt, anh có người để đi cùng. Mặt khác, bạn cùng nhà của anh là một nhạc sĩ, và anh run rẩy trước cuộc ganh đua bí hiểm trong đời sống khi về đêm của một nhạc sĩ.Bạn cùng nhà của anh luôn có chuyện đáng kể hằng đêm, có thể là chuyện gì đó sôi nổi và độc đáo hơn so với chuyện tẻ nhạt đang xảy ra với anh, và anh cảm thấy sẽ tốt hơn khi giữ lại lời mời thay vì mạo hiểm chịu đựng cơn cuồng nộ vì bị khước từ, ngay cả nếu như sự khước từ ấy bắt nguồn từ một xung đột lợi ích giản đơn—những kế hoạch từ trước đó chẳng hạn. Thật khó để không hứng chịu những xung đột lợi ích cá nhân, vì những lý do nào đó—đặc biệt là, tính khả thi rằng bạn cùng nhà của anh sẽ thấy biết ơn vì có một xung đột lợi ích đầy hợp lý, điều này sẽ bào chữa cho cậu ta khỏi việc phải mua vui cho những vụ khác, những lời mời khác nhỏ nhoi hơn chẳng hạn, dù cho khi đêm nay lời mời “nhỏ nhoi hơn” ấy là bữa tiệc của Kate Lotvelt.Nếu lời mời ấy vẫn còn giá trị. Nếu lời mời không còn giá trị, điều cuối cùng anh muốn làm là xuất hiện ở chỗ của Kate với người bạn cùng nhà bị kéo đi cùng và phát hiện ra Kate chẳng nhớ đã gặp anh ở nhà Gleekman hay ở bữa tiệc của diễn viên và cũng chẳng mảy may biết tại sao anh lại tới và đem theo cả bạn cùng nhà—người mà, chẳng nghi ngờ gì, sẽ thích được làm gì đó trong thế giới ngầm của giới âm nhạc hơn là ở đây. Thế nên anh quyết định không mời cậu ta.

Song le, anh hỏi mượn cái áo khoác của cậu ta.

Anh không thích mượn quần áo của người khác, nhưng có điều gì đó trong suy nghĩ về việc mặc đích xác cái áo ấy làm cho buổi tiệc trở nên bớt đáng sợ hơn. Có một chút nhẹ nhõm khi bị mất cặp kính râm, bởi thứ khởi đầu như một lá bùa hộ mạng giờ đã trở thành một loại nạng què, và nếu anh có thể đi mà không uống rượu thì anh cũng có thể đi mà không cần kính. Bước tiếp theo trong sự phục hồi của anh, khỏi sự làm mất cặp kính—đó là anh nhìn nhận chuyện đó ra sao. Anh rất mê chiếc áo khoác, dầu vậy, lần duy nhất anh nhìn thấy bạn cùng nhà mặc nó, đã gần một năm trước rồi.

Bạn cùng nhà của anh đang ngồi trên sofa, gù mình trên chiếc guitar của cậu ta, cởi trần, mặc quần đùi tập gym bằng tơ nhân tạo màu trắng và đi một đôi boots cao bồi. Đều đặn, cậu ta dừng chơi để ghi chép lên bản nhạc phất phơ trên bàn cafe. Phía trên cậu ta đội một cái vòng hoa đội đầu giá một đô kết bằng hoa lei và hạt cườm nhiều màu sắc,một chiếc mũ sắt từ thời Đệ nhị Thế chiến móc trên nhánh của một bộ sừng hươu.

“Này, vậy, tối nay cậu làm gì đấy?”

Anh vẫn lưỡng lự—có lẽ anh nên mời cậu ta. Nếu anh không được mời, có thể sẽ an ủi phần nào khi có ai đó còn được mời ít hơn anh đi cùng, bất chấp sự ngượng ngùng, và nếu anh được mời thì sẽ tốt thôi nếu có ai đấy ở đó để loại bỏ bất kì điều kì cục gì lỡ rảo bộ ngang qua.

“Tự trao tối hậu thư cho chính mình” là câu trả lời của cậu bạn cùng nhà, khi cậu ta ngả người lên ghế sofa. “Viết cho xong ba bài hát mới trong hôm nay, hoặc tự bắn thẳng vào đầu mình.”

Anh không thường xuyên bị đạo đức công việc của cậu bạn cùng phòng làm cho phải xấu hổ. Anh quan sát khi cậu ta ngồi thẳng dậy, nhặt bút chì, và điền thêm vài nốt vào bản nhạc. Ví dụ này anh chắc mẩm điều duy nhất để làm giờ này là ở nhà và tô điểm cho kịch bản thí điểm. Liệu thực sự có phương án nào khác không? Anh đang nghĩ gì vậy, đi tới một bữa tiệc, ngay cả là bữa tiệc của Kate Lotvelt, trong khi kịch bản thí điểm, với chút chút công sức, có thể đưa cho Pleble được rồi, và cuối cùng anh cũng có thể nói lời giã từ tới những miệt thiên đường thuế xa xôi và bắt đầu có những cuộc gặp thực sự với các diễn viên và các giám đốc điều hành? Vậy là chuyện được giải quyết. Ở nhà, lôi kịch bản thí điểm ra làm việc. Hoàn thành nó, hoặc tự bắn thẳng vào đầu mình.

“Tại sao, chuyện gì thế?”

“À, có bữa tiệc này,” anh nói, “nhưng tớ không biết nữa. Tớ nghĩ tớ sẽ ở nhà và lôi kịch bản thí điểm ra mà làm. Cậu có tí hứng thú nào đi dự tiệc không?”

“Kịch bản thí điểm tới đâu rồi?”

“Gần được rồi. Tớ thấy gần lắm rồi. Vì thế mà tớ nên ở nhà. Nhưng tớ không biết nữa. Tớ định hỏi xem tớ có thể mượn cái áo khoác của cậu được không, trong trường hợp tớ đi. Cậu muốn đi không?”

“Này, người anh em. Tớ có đùa đâu. Nếu tớ không viết xong ba bài hát trong đêm nay, hãy tìm tớ với một viên đạn trong đầu. Tớ sẽ không làm thế trong nhà đâu, không trang nhã. Tìm tớ trong xe nhé. Áo khoác nào?”

Cậu bạn cùng nhà bỏ đi và quay lại với cái áo mà anh mô tả. Vừa in! Anh vào phòng tắm để ngắm mình trong gương, và khi trở ra anh hỏi bạn cùng nhà xem cậu ta thấy nó vừa thế nào.

“Hoàn hảo luôn,” cậu bạn nói. “Cậu muốn nó hả? Của cậu đấy.”

“Cậu không thích nữa à?”

“Tớ chẳng bao giờ mặc.”

“Sao không?”

“Không mặc từ lúc cái-thằng-tên-gì-ấy bắt đầu mặc nó, và rồi tất cả mọi người đều bắt đầu mặc.”

“Từ lúc ai bắt đầu mặc cơ?”

“Cái-thằng-tên-gì-ấy, thằng cha cớm chống-khủng-bố ấy. Tên hắn là gì?”

“Ờ,” anh nói, bình minh ló dạng trong anh—tay cớm, cái áo khoác, loạt phim. “Phải rồi.”

“Đừng hiểu nhầm ý tớ, cái áo này ngon đấy.”

Anh mang nó vào phòng mình và để nó trên giường. Quỷ tha ma bắt. Nó cũng vừa. Anh nhất quyết không có tiệc tùng gì giờ này, trong cái áo ấy thì lại càng không, thật là khó chịu. Nhưng anh cảm thấy nhẹ nhõm khi ở nhà và đánh bóng kịch bản thí điểm. Thế là anh ngồi vào bàn làm việc và bật tài liệu lên. Chỉ có hoàn thành hay là chết. Chỉ có hoàn thành hay là vác mặt về Atlanta. Hoàn thành hay là mãi mãi sống mà làm quảng cáo lăn khử mùi buổi sớm chẳng có lấy một chút dư vị.

Vấn đề là, lăn chuột hết một lượt, anh đang nhìn cái kịch bản thí điểm vẫn y nguyên. Điều nó cần không phải là nỗ lực đánh bóng trong một đêm. Nó cần một cái nhìn mới.

 

Anh khựng lại trong bãi đỗ xe khi mẹ anh gọi điện. Lúc này mà gọi thì thật khó hiểu, anh cân nhắc không nghe máy. Nghi lễ gọi điện của bà giờ đây đã trở thành một phần tất yếu trong ngày và nó đã vượt qua khỏi giai đoạn đầu của việc chu cấp và nuôi dưỡng mà trở thành điều gì đó ái ngại, mang tính thờ phụng, và đầy khó chịu. Mười chín tháng nay ngày nào bà cũng gọi—giờ thì sự trao đổi bé mọn của họ là hoàn toàn chính thức và vô nghĩa. Nhưng liệu lần nàynó có vô nghĩa không, ngay khi anh đang đợi trong bãi đỗ xe, lưỡng lự? Ngày đã sắp tàn ở Atlanta. Thường thì bà không đợi đến tận giờ này. Có phải điềm báo gì không nhỉ? Thường thì anh thích để bà gửi tin nhắn thoại, nhưng đêm nay thì anh không dám chắc. Biết đâu nghe máy lại là sáng suốt. Có thể bà sẽ nói điều gì đó giúp anh ra khỏi bãi đỗ xe và hướng thẳng tới nơi cần đến.

Anh chào bà và rồi bà nói, chẳng làm ai ngạc nhiên, “Hôm nay con giúp mẹ một việc được không, Lawrence?”

Anh trả lời chịu đựng, “Việc gì vậy Mẹ?”

Câu trả lời hồn nhiên “Con hứa với mẹ là con sẽ không uống rượu hôm nay nhé?”

“Con hứa với mẹ,” anh nói, “hôm nay con sẽ không uống.”

“Cảm ơn con,” bà nói.

“Cảm ơn Mẹ đã gọi cho con.”

“Mẹ yêu con, Lawrence,” bà nói.

“Con cũng yêu Mẹ.”

“Mai nói chuyện con nhé,” bà nói.

“Vâng,” anh trả lời. “Con chào mẹ.”

“Chào con,” bà nói.

Cuộc gọi kết thúc, anh ra khỏi xe và bước vào khu vực bar. Anh bước qua một trạm chờ với một hộp đựng tăm và một bát kẹo bạc hà để đi vào căn phòng tối tăm gần như trống rỗng, ở đây anh kéo ra một chiếc ghế nhựa vinyl màu đỏ và ngồi xuống trước mọi nhãn mác của sự khốn khổ trong anh. Đôi mắt anh ầng ậng nước. Người nhân viên pha chế phá vỡ sự thất thần của anh bằng cách thảy xuống một tấm lót cốc phong cách đĩa Frisbee(6). Anh dừng lại rất kịch, như thể đang tranh luận, rồi gọi một ly whiskey và một ly chaser. Một ly whiskey và một ly chaser là tất cả những gì anh cần để có thể tới dự tiệc của Kate Lotvelt mà không băn khoăn gì về vai trò của mình ở đó và có thể thoải mái mà không cần cặp kính râm của mình hay chiếc áo khoác của cậu bạn, và đủ vững dạ để nếu cơ hội mà ập tới anh sẽ có thể hỏi Kate xem qua kịch bản thí điểm của mình. Chỉ có hai mươi tư trang. Chỉ cần một ly whiskey và một ly chaser.

Trong lúc đợi đồ uống, anh quay lưng lại phía mấy người khách ở bên tay phải. Tốt hơn là không để bị nhìn ngó gì. Các anh ở yên đó trong nỗi thống khổ của các anh, tôi trú ngụ vô hình trong nỗi thống khổ của tôi. Giờ thì anh đối diện lối vào quầy bar, mắt anh dừng lại ở cái hộp đựng tăm. Nhìn ngắm, anh nghĩ, Hở, hay đấy nhỉ. Anh có trực giác. Có điều gì đó ở đây liên quan tới tất cả các chương trình truyền hình anh đã xem trong ngày. Anh thấy mình bước qua và đặt ngón tay lên nóc hộp. Anh ấn xuống, một que tăm nảy lên. Anh kẹp que tăm giữa ngón tay và nhìn nó. Anh cho nó vào miệng và đảo nó qua lại, làm vị bạc hà dịu nhẹ của nó tan ra. Rồi anh bỏ que tăm ra đâm mạnh đầu nhọn vào không khí,nheo mắt và nhả ra vài lời, như thể đang trừng phạt ai đó. Cử chỉ này tràn đầy những chỉ dẫn ngay thẳng. Rồi anh lại đút que tăm vào miệng và đứng đó, nhìn chăm chú vào đôi mắt tưởng tượng của kẻ vừa bị trừng phạt. Anh đảo que tăm vòng quanh, vẫn cứ nhìn, biến đổi.

Ai làm điều đó?

Đó là Huấn Luyện Viên. Huấn Luyện Viên đã làm điều đó.

Huấn Luyện Viên lên sóng mỗi tối thứ Sáu, chiến thắng các trận đấu, dạy lũ con trai cách trở thành đàn ông.

Anh quay lại đúng lúc người pha chế đặt đồ uống của anh xuống. Làm gì đây? Anh đi lại quầy bar và nói người pha chế rằng cậu ta có thể uống mấy món ấy—anh vừa bị người ta gọi đi. Anh lịch sự để lại một khoản tiền boa. Trên đường ra, anh lấy vài que tăm và cất trong túi áo.

 

Giờ chúng ta cùng rẽ ra khỏi tâm trí của Lawrence, anh nghĩ, và tiến vào một không gian mới. Một không gian của kỷ luật nghiêm ngặt, của tinh thần cao thượng, kiệm lời, và những mục tiêu tốt đẹp nhất. Để tìm kiếm Huấn Luyện Viên trong lòng anh—đó chính là mục tiêu tốt đẹp nhất. Hay không phải Huấn Luyện Viên, một cách chính xác, bởi anh không phải là huấn luyện viên của bất kì điều gì, nhưng lại mang diện mạo đỉnh cao của khí chất Huấn Luyện Viên—bị giới hạn, phải, bởi sự kiềm chế cảm xúc của những người có đầu óc thể thao, cùng trí tuệ chừng mực và không tò mò của họ, nhưng lại được giải thoát bởi trái tim rộng mở, đầy cảm hứng và đậm chất chiến thắng của họ.Huấn Luyện Viên luôn luôn chiến thắng, ngay cả khi bị đánh bại. Nhưng liệu có thiếu lành mạnh không khi đào xới Huấn Luyện Viên? Anh dừng lại ở một tiệm bán đồ thể thao để mua một cái áo gió màu xanh để kết hợp với que tăm, và một chiếc mũ lưỡi trai tốn của anh kha khá để lết thân lên xe tới dự bữa tiệc của Kate. Anh thậm chí có thể dùng trí tuệ chừng mực của Huấn Luyện Viên. Tư duy là kẻ thù. Mọi người tin rằng đó là tại rượu. Không phải tại rượu. Sự lặp lại của những suy nghĩ gặm nhấm tàn phá mới là kẻ thù. Rượu chỉ là một phương thuốc. Một phương thuốc, cuối cùng thì, còn tệ hơn cả căn bệnh. Chẳng phải tốt hơn là đào xới Huấn Luyện Viên thay vì quay lại uống hay sao? Tốt hơn, có thể, nhưng có hơi đáng sợ không? Suy nghĩ quá đủ rồi. Anh đưa chìa khoá cho người phục vụ và bắt đầu tiến về phía ngôi nhà.

Anh ở đó, giờ thì không phải để tạo quan hệ với các diễn viên và giám đốc điều hành, những người đứng sau Huấn Luyện Viên (nếu, coi như là, Huấn Luyện Viên được kì vọng có thể đột ngột xuất hiện trên TV, thay vì trở thành một huấn luyện viên bóng đá trên TV), hoặc để thưởng thức bữa tiệc, mà là để hỏi xin Kate Lotvelt một đặc ân. Huấn Luyện Viên, khi anh ta mở mồm ra cậy nhờ—lúc nào cũng ở dưới danh nghĩa của thứ gì đó còn quan trọng hơn cả chính tay Huấn Luyện Viên—sẽ gạt sang một bên lòng kiêu hãnh của anh ta và tiếp cận mục tiêu với lòng quyết tâm đầy khiêm nhường của một người đàn ông khiến bạn phải ngưỡng mộ. Anh bước theo lối đi ra sân, nơi ánh sáng lung linh hắt tung toé lên những viên đá được lát thật hoàn hảo, tán lá cọ hiện lên vàng vọt lẩn khuất trong bóng tối, và đài phun nước phong cách baroque mạnh mẽ vang tiếng leng kheng. Mọi người đứng ở phía cửa đi, những con người lộng lẫy, hay có lẽ chỉ là những nhân vật phụ, anh chào họ bằng một nụ cười nhẹ kèm theo một cái gật đầu. Cùng cái đầu đội chiếc mũ lưỡi trai có vành cong rất đẹp. Đảo que tăm quanh miệng. Đó là tất cả những gì anh phải làm suốt cả buổi tối: bắt gặp ánh mắt mọi người, gật đầu lịch sự, chẳng nói gì, hớp từng hớp nước khoáng có ga. Lượn lờ bên lề cùng một bầu không khí hoàn toàn buồn tẻ sẽ truyền tải, hi vọng là, mối bận tâm thay vì sự thô lỗ, một nghĩa vụ cấp bách được kìm nén bởi những thói quen tốt đã lỗi thời. Tập kịch bản thí điểm gấp dọc nằm yên trong túi sau của anh.

Anh bắt đầu chuyến vừa-đi-vừa-gật-đầu của khắp ngôi nhà, tìm Kate. Từ phía bể bơi phát ra từng tràng tiếng rít trong khi, ở phía trong, mọi người đứng thành từng cụm thân mật với nhau hoặc ngả ngớn trên những chiếc sofa được ghép thêm nhiều ghế đôn ngoại cỡ. Đồ nội thất thông thường chẳng ăn thua gì trong căn phòng khổng lồ này, nó rộng bằng cả căn hộ ngách của anh. Vài phòng trong nhà được ngăn chia bởi điệu nhảy tap(7) của cầu thang, vài phòng lại được ngăn bởi sự chuyển từ thảm sang gỗ cứng. Trên tường không treo áp phích phim hay đầu hươu mà treo tranh sơn dầu đủ cỡ to nhỏ. Anh đoan chắc khi mình tìm thấy cô ấy, những nhóm nhỏ ồn ào sẽ vây kín chung quanh. Anh sẽ phải chờ tới thời điểm của mình. Anh phải cho thấy sự kiềm chế. Có thể sẽ mất cả đêm cho tới khi khoảnh khắc thích hợp tự nó xuất hiện. Nhưng cho tới khi đó, anh sẽ xuất hiện trước mặt cô ấy trong cái áo gió và chiếc mũ lưỡi trai, gật đầu mỉm cười và chìa tay ra, và hỏi liệu cô có thời gian đọc kịch bản thí điểm của anh không. Chỉ nhìn anh một cái là cô sẽ biết anh tới với ý định trong sáng nhất.

Joshua Ferris - The pilot (ảnh - Jessica Craig-Martin, Camouflage, Southampton Hosbital Benefit Gala (2007) : Greenberd Van Doren Gallery - newyorker.com)
Ảnh: Jessica Craig-Martin, “Camouflage, Southampton Hosbital Benefit Gala” (2007) / Greenberd Van Doren Gallery – newyorker.com

Nhưng anh không thể chờ tới thời điểm của mình—anh sẽ không bao giờ có thể chờ tới thời điểm của mình. Chờ tới thời điểm tức là tư duy. Thế là anh đi thẳng tới chỗ cô ấy, tới nhóm cô đang đứng cùng, giống như trung tâm của nhóm đó hơn là như vậy, bởi cô là Kate Lotvelt, người phụ nữ cao nhất trong phòng—anh quên mất chuyện này, cô mới cao làm sao—nhưng, quan trọng hơn, Kate Lotvelt, điều đó có nghĩa là mọi người ở đây đều say sưa nghe cô kể chuyện, kể cả cái gã đóng vai Connor trong “Cái chết trong Gia đình,” và nữ viễn kiên đóng vai Irene, và một người nhà Washington. Tất cả bọn họ đều đang lắng nghe câu chuyện của Kate mà anh không thể theo dõi hoàn toàn vì anh bỏ lỡ mất phần mở đầu, và anh đang hồi hộp; nhưng có gì đó liên quan tới thằng cha bán móc treo áo khoác ở đường quốc lộ, loại bằng nhựa màu xanh, và làm sao mà Kate, thấy chuyện đấy quá mức buồn cười, đã hạ cửa sổ xe hơi để hỏi hắn bán bao nhiêu, thằng cha nói hai mươi lăn xen một chiếc, và cô đã tự hỏi, giá ấy có hợp lý cho một chiếc móc áo bằng nhựa xanh nhìn khá trang nhã không nhỉ? Nó thực tế khá mới, có lẽ thậm chí là loại mới nhất. Liệu cửa hàng Container có bán rẻ hơn không nhỉ, hay đây chỉ là một vụ chặt chém mà thôi?

“Vậy là từ giờ tôi sẽ mua móc áo của anh ta. Đây là anh chàng móc áo của tôi.”

Ai đó hỏi cô đã mua bao nhiêu móc áo.

“Hai chục chiếc, bốn đô.”

“Đợi đã . . . bốn đô?”

“Anh ta vô gia cư, và anh ta bán móc áo trên đường cao tốc,” cô nói. “Anh sẽ không mặc cả à?”

Ai cũng cười.

“Này, tôi cần móc áo,” ai đó nói. “Đường quốc lộ nào thế?”

“Thứ lỗi cho tôi,” anh nói. “Kate?”

Tất cả mọi người quay lại nhìn anh. Anh đang không đứng kế bên cô, đại loại tựa như cách khoảng ba, bốn người trong cái vòng tròn be bé bất định ấy. Cô cũng quay lại nhìn. Tay anh đang đặt trên que tăm. Nửa ngoài của que tăm, mặc dù ướt nhẹp, vẫn có đầu nhọn, nhưng nửa trong thì đã nát bét giữa hàm răng của anh. Anh ước gì mình có thể bỏ quách nó đi. Toàn bộ vấn đề của việc ngậm tăm là để làm dáng, nhưng bỏ ra khỏi miệng lúc này lại không phải là một ý hay, nó đang tơi ra thành thớ. Thêm vào đó các miếng nhỏ đang bắt đầu rời ra và nổi quanh miệng anh. Mấy que tăm sạch đang nằm trong áo gió, nhưng liệu anh có nên thay không, khi ai cũng đang nhìn? Mọi người đang im lặng mà nhìn.

“Xin lỗi đã ngắt lời,” anh nói. “Kate, liệu tôi có thể nói chuyện với cô một chút được không?”

Anh lớn lên ở Atlanta, không phải Texas, nơi Huấn Luyện Viên huấn luyện, nhưng đây là miền Nam, nên giọng không phải là hoàn toàn không chân thành.

Trông cô hơi giật mình. “Chắc rồi,” cô rồi Cô quay lại và lịch thiệp chạm vào tay của người kế bên phải. “Xin phép một chút nhé,” cô nói.

Họ lui ra cách đó vài bước chân. Anh nhanh tay chớp cơ hội nhét que tăm cũ vào túi và thay một que mới, que này dùng cái lưỡi oặt oẹo của anh đảo từ phía này miệng sang phía kia dễ hơn nhiều, một chuyển động nhẹ nhàng đồng thời cũng giải phóng cho răng của anh khỏi việc nhai và tạo cho anh dáng vẻ, anh hi vọng, của một người đàn ông uy quyền, điều mà anh không hề có, bởi cô có vẻ như chẳng nhận ra anh.

“Xin lỗi vì đã kéo cô ra đây,” anh nói.

“Không sao,” cô nói. Cô cao hơn anh vài inch, vì đôi giày cao gót, có lẽ, một phần. “Mọi việc vẫn ổn chứ?”

“Tôi chỉ muốn nhờ cô một việc.”

“Tôi xin lỗi,” cô nói. “Tôi có biết anh không nhỉ?”

“Tôi nghĩ là có,” anh nói. “Tôi tên là Lawrence? Lawrence Himshell?”

Cô bỏ mũ anh ra. Ai đó đang nhìn, anh nghĩ, có thể nghĩ rằng điều đó thật ngọt ngào, cái cách cô cầm mũ của anh như thế, như thể họ là bạn bè lâu năm. “Lawrence!” cô nói. “Tôi đã không nhận ra anh đấy!”

“Ừ, tại chiếc mũ,” anh nói.

Cô đội lại mũ lên đầu anh. “Anh trông như anh chàng tên-gì-ấy-nhỉ,” cô nói. “Với chiếc mũ đó và cái áo gió.”

“Ừ, tôi biết mà.”

“Anh biết ý tôi nói tới ai không?” cô nói. “Tên anh ta là gì nhỉ?” Cô búng tay, cố lục tìm trong trí nhớ. “À, tôi chịu thôi. Và tôi lên TV cơ mà! Không sao. Anh cần tôi giúp gì nhỉ, người lạ mặt?”

“Cô đã mời tôi phải không?” anh hỏi.

“Gì cơ?”

“Cô đã mời tôi tới đây tối nay phải không?”

“Tất nhiên,” cô nói. “Ý anh là gì? Anh đang ở đây mà, phải không?”

“Tôi chỉ tự hỏi cô có ý đó thật không.”

“Tất nhiên là tôi có,” cô nói.

“Tôi cứ nghĩ đó có thể là một sai sót trong danh sách liên lạc.”

“Một sai sót trong danh sách liên lạc?” cô hỏi. “Là gì cơ?”

“Cô biết đấy, đại thể như cô ấn Chọn Toàn Bộ mà không hề có chủ đích.”

“Tôi chưa nghe thấy ai làm vậy bao giờ,” cô nói. “Này, gặp lại anh vui thật đấy. Kịch bản thí điểm của anh thế nào rồi?”

“Kịch bản thí điểm của tôi?” anh nói. Anh ngạc nhiên khi được hỏi. “Kịch bản thí điểm của tôi gần được rồi, tôi nghĩ. Gần được lắm rồi.”

“Tốt quá,” cô nói. “Chúc mừng anh.”

“Tôi nghĩ chỉ cần đánh bóng cho nó thêm một chút,” anh nói.

“Quá hay.”

“Mà này, chúc mừng cô nữa.”

“Cảm ơn anh,” cô nói.

“Vì hoàn thành mùa thứ ba.”

“Cảm ơn.”

Họ nói về việc kết thúc mùa thứ ba, và rồi có người gọi cô. Trước khi đi, lần đầu tiên cô chạm vào tay anh và hứa sẽ quay lại. Anh cảm thấy nhẹ nhõm vô cùng. Anh đi thẳng tới quầy bar và gọi một ly whiskey. Trong khi người ta rót, anh tự hỏi mình đang làm gì và tự dặn mình câm miệng lại. Anh cầm ly thứ hai trong tay trước khi uống xong ly thứ nhất.

Anh di chuyển từ nhóm này qua nhóm khác, từ phòng này qua phòng khác. Anh hôn đúp, hôn trép và hôn đơn chiếc, thỉnh thoảng chỉ bắt tay với những con người đẹp đẽ. Một trong số đó, đại loại anh đã hơi đâm vào má cô ta bằng que tăm. Nhưng, phần lớn, thật tốt khi chạm vào nhau trong lúc anh không uống rượu. Đó là một bữa tiệc dễ chịu và thoải mái. Sự thất vọng với chính bản thân mình là thứ dày vò anh. Anh kệ. Anh đi tới chỗ Eaton Aiken và nói tên mình khi nhìn vào lưng hắn. Eaton bị ép phải xoay trục khỏi cuộc hội thoại hắn đang tham gia. Hắn mặc một cái áo khoác vét nhung màu hạt dẻ và một đôi giày lười màu đỏ nổi bật. “Vâng?” hắn nói.

Lawrence chìa tay ra. “Lawrence,” anh nói. Không còn giọng của Huấn Luyện Viên mà là một giọng khác, từ một vùng khác ở miền Nam, rõ nét hơn sau mỗi ly rượu. “Chúng ta đã gặp nhau ở bữa tiệc của Neil Connell?”

“Neil nào cơ?”

“Neil Connell?” Anh ta là diễn viên? Anh ta đóng vai—chà, anh ta đã đóng, cho tới khi họ huỷ loạt phim, bây giờ anh ta chỉ . . .”

“Neil Connell,” hắn nói. “Neil Connel. Tôi mơ hồ nhớ ra một thằng khốn ngu đần có cái tên ấy. Một nhân vật của nền công nghiệp tự sướng thông thường nhỉ?”

“Ai cơ? Neil á?” Lawrence nói.

“Ừ, tôi nhớ ra cái đêm tôi ở lại công ty của gã. Và tôi nhớ ra anh. Anh không bao giở bỏ kính râm. Bằng cách nào đó mà anh giữ được tỉnh táo suốt buổi tối hôm ấy. Anh có phải nghiện rượu không vậy? Không, anh đang uống. Tôi lúc ấy đang cai nghiện rượu. Tôi từng nghiện rượu, cũng lâu rồi.” Hắn cụng ly. “Càng lúc càng cảm thấy như ở nhà vậy, anh thấy đấy. Chúc vui.”

“Chúc vui,” anh nói.

“Anh không thể nâng ly chỉ với nước đá được. Như thế xui lắm.”

“Tôi đang trên đường tới—“

“Anh đã ngồi cạnh vợ tôi như thể cô ấy là nàng Helen của thành Troy. Tôi thì vẽ lên tường của thằng củ cặc ấy những vệt sơn nhà đầy ngẫu hứng và rồi hai chân tôi đã xuất tinh luôn vì mình vừa làm tăng giá thị trường cho ngôi nhà của nó thêm một trăm ngàn đô la. Có phải anh đang nhắc tới thằng Neil Connel đó không vậy?”

“Tôi nghĩ có thể đúng đấy.”

“Được rồi,” Eaton nói. “Dạo này anh thế nào?”

Anh viện cớ đi lấy thêm một ly nữa.

Anh ngồi trên sofa một lúc, rồi anh đứng trong phòng tắm tự nhìn mình trong gương, rồi anh ở trong bếp uống từng ly rượu nhỏ. Cho tới tận cuối buổi tối, anh đi theo nhà sản xuất Sydney Gleekman đi xuống sảnh lớn và bắt gặp anh ta đi ra từ phòng tắm. Gleekman nghe kể, mà chẳng gặng hỏi gì hết, rằng kịch bản thí điểm gần được rồi, chỉ cần đánh bóng thêm tí chút, và rằng anh ta nên trông đợi thứ Hai tới Pleble sẽ đưa cho mình kịch bản thí điểm.

“Nhắc lại giúp tôi,” Gleekman hỏi. “Pleble là ai cơ?”

“Mark Pleble? Người đại diện của tôi? Chúng tôi đã gặp ông ở bữa tiệc lớn của ông năm ngoái?”

“Anh ta có làm việc cho C.A.A. không?”

“Không.”

“William Morris?”

“Không.”

“United Talent?”

“Anh ta làm cho một bên dạng như cửa hàng đại lý, tôi đoán vậy.”

“Ồ, hẳn rồi,” Gleekman nói. “Tôi biết anh nói ai rồi. Bảo cậu ta gửi cho tôi nhé. À, cô ấy kia rồi. Thứ lỗi cho tôi.”

Gleekman bỏ đi, và anh quay lại quầy bar. Không khí bữa tiệc hạ nhiệt rồi à? Anh nghĩ có thể, vì xung quanh chỉ còn ít người. Có lẽ anh nên về, nên anh uống một ly cuối với một anh chàng chắc là nổi tiếng, rồi đi ra chỗ khoảng sân trước nhà, và nằm xuống một chiếc ghế dài.

Anh lấy tập kịch bản thí điểm ra khỏi túi và bắt đầu đọc trong ánh sáng xanh tù mù của bể bơi. Anh châm một điếu thuốc, rồi thêm điếu thứ hai. Anh không chắc tâm trí mình đang trong trạng thái chuẩn mực, nhưng khi anh đọc, và hút thuốc, và đọc, và hút thuốc, điều gì đó mới mẻ đã đến với anh. Kịch bản thí điểm của anh là một phim hài có nhân vật chính là một tay đang nghiện rượu, tay này trong mỗi tập, đều thấy bản thân bị vây quanh bởi lũ bợm. Trong mỗi tập—hoặc là anh hình dung ra; chưa có “tập” nào cả—nhân vật của anh phải chật vật để không đụng vào rượu. Anh ta là “sinh mệnh của bữa tiệc.” Cái tên thật éo le; sinh mệnh và sự hài hước xuất phát từ lũ bợm. Nhưng liệu văn cảnh ấy có duy trì được trong cả mùa phim không? Điều gì sẽ xảy ra nếu, anh nghĩ, chỉ là điều gì sẽ xảy ra nếu nhân vật của anh cứ lên lên xuống xuống xe chở hàng từ tập này qua tập khác? Rồi câu hỏi sẽ tới, mỗi thứ Năm hàng tuần, một cách lý tưởng, là liệu anh ta có uống hay không? Giống như “Cái chết trong Gia đình.” Lần này ai sẽ chết? Và lần này ai sẽ chết? Và lần này ai—

Anh ngủ thiếp đi. Tàn lửa của điếu thuốc hút được một nửa của anh đụng vào các trang tập kịch bản thí điểm, nó bắt đầu âm ỷ khói và, khi tới đúng thời điểm, bùng cháy. Anh bắt đầu ho, cơn ho mang vào trong giấc mơ của anh ly rượu chết tiệt đầu tiên của buổi tối. Anh tỉnh dậy khi ngọn lửa bập bùng trong lòng anh và bắn lên ghế. Lửa không lan ra. Anh phát hoảng. Anh không chắc lửa bắt đầu từ đâu và kết thúc ở đâu. Anh chính là ngọn lửa. Anh quăng mình xuống bể bơi.

Anh trồi lên mặt nước. Anh đang ho, không phải vì khói mà vì nuốt mấy ngụm nước. Có phải bình minh đang tới trên bầu trời cao xa đó chăng? Làn nước thật tươi mát. Anh kêu cứu và nuốt thêm vài ngụm nước. Nạp clo tỉnh cả người. Nước tràn vào khí quản đến không thở nổi. Thở khò khè mắt chớp loạn trong sự im lìm tuyệt vọng. Liệu những cú đập nước của anh có đánh thức được ai đó không? Với tới mép bể gần nhất. Hướng nào bây giờ? Quá vật lộn trên mặt nước. Bình minh mới ấy đang biến mất mới nhanh làm sao! Ban đầu thì lung linh. Anh không giữ được trên mặt nước, chìm dần. Tai hoạ ư? Vẫn quá nhiều để nghĩ, quá nhiều để làm. Tất nhiên bữa tiệc của Kate Lotvelt vẫn đang tiếp tục, nó vẫn luôn tiếp diễn, kể cả có hay không e-mail nhắc nhở. Cớ gì anh lại tự làm khổ mình vì những chuyện vớ vẩn? Anh nhận được lời mời của cô ta và vẫn băn khoăn mình có được mời không! Anh luôn tập trung vào chẳng đúng chuyện cũng chẳng đúng lúc. Tâm trí anh mới dễ rối bời làm sao. Nó xoay mòng quanh những tình huống kịch bản tồi tệ nhất. Nó xét lại những ý tốt của mọi người. Anh nghi ngờ giá trị của mình ở quá nhiều tầng bậc và thường xuyên đánh mất hoàn toàn điểm chính yếu. Chẳng có con đường nào để sống sót. Anh chạm đáy. Vùng lên đi! Anh chồm lên mặt nước thêm lần nữa, bình minh, một ngày mới, hai phổi đầy ắp, lại chìm. Làn nước sớm trở nên dày hơn, nặng hơn, và đặc lại quanh anh. Hai mắt anh mở. Mọi thứ thật quá tăm tối. Chuyện này cũng như kịch bản thí điểm vậy. Không phải kịch bản thí điểm của anh, tất nhiên. Anh biết phải sửa kịch bản thí điểm của mình thế nào. Ngày mai anh sẽ ở nhà và sửa nó hoặc tự bắn vào đầu mình. Anh sẽ không uống bất kì một ly nào trong ngày mai. Ở dưới đáy, hai cánh tay anh vẫn tiếp tục thực hiện những chuyển động hình cung trong một nỗ lực tương đối ôn hoà. Không còn nỗi lo lắng hồi âm nhận lời mời. Không còn những bộ trang phục lừa đảo. Không còn phải kìm nén lòng nhiệt thành tự nhiên của mình nữa. Điều đầu tiên anh làm trong ngày mai, đó là e-mail cho Kate Lotvelt, tuôn ra một lời cảm ơn nực cười vì đã mời anh tới dự bữa tiệc của năm.


(1) ND: chức năng gửi e-mail hàng loạt mà không để những người trong danh sách biết được địa chỉ e-mail của nhau.

(2) ND: nguyên văn ‘R.S.V.P.’

(3) ND: phim truyền hình The Wire.

(4) ND: phim truyền hình The Guild.

(5) ND: nhà triển lãm nổi tiếng ở Los Angeles, Mỹ.

(6) ND: môn thể thao ném đĩa.

(7) ND: điệu nhảy gõ gót giày

Copyright © 2010 by Joshua Ferris.

ThKh chuyển ngữ không có sự đồng ý của tác giả.

———-

ThKh – 2019

ThKh là một bút danh khác của ChuKim, một người viết tự do, sống và yêu tại một ngôi làng mang tên thành phố. Nếu có thể, hãy ủng hộ và khích lệ bằng cách đọc và chia sẻ những gì anh viết trong khả năng của bạn. Xin cảm ơn.

– natchukim.cogaihu@gmail.com –

PS: Tất cả nội dung trong blog này đều được tuyên bố quyền sở hữu và quyền tác giả về nội dung, ngoại trừ những bài sưu tầm có đề rõ. Mọi trích dẫn, đăng lại, vui lòng ghi rõ nguồn. 

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s