Truyện ngắn: Hướng về ngày mới – ZZ Packer

ZZ Packer (1973-) là nhà văn người Mỹ. Bà ra mắt tập truyện ngắn đầu tiên Drinking Coffee Elsewhere năm 2003. Hiện tại bà vẫn đang tiếp tục sáng tác truyện ngắn và tiểu thuyết.

ZZ Packer (Grafilu - newyorker.com)
Tranh: Grafilu – newyorker.com

‘Hướng về ngàymới‘ (Dayward) là truyện ngắn của ZZ Packer được đăng trong tuyển tập 20 under 40 (2010) của tạp chí The New Yorker. 


Hướng về ngày mới

Hẵng còn sớm, những đám mây màu như lông sói bạc giănhề nghe thấy lũ chó đang đuổi phía sau—cũng chẳng nghe được chính nó và cậu, nó bị điếc—và, bất chấp cậu ra hiệu cho nó về kế hoạch để nó có thể theo được hết khả năng, nó vẫn cứ thế bị lùa lên cây, ngay sau đó cả cậu cũng sẽ như vậy, nếu cậu gặp may và có thể kịp trèo lên một cây thông chẳng hạn. Một lúc trước cậu đã ném đá, chắc là đã làm bị thương hai con chó, cậu không nghe thấy động tĩnh gì của chúng được một lúc rồi, nhưng con thứ ba vẫn đang vừa truy đuổi vừa sủa ầm ỹ.

“Ở yên đấy!” cậu hét lên với con em. Nhưng tất nhiên là hò hét mà không ra hiệu thì chẳng ích gì, và cậu chỉ có thể hi vọng rằng chính nó tạo ra tiếng xào xạc mà cậu nhận thấy, cách đó độ mười cây thông. Thật đúng là thứ âm thanh cuồng nộ của loài súc vật mà cậu chưa từng nghe thấy và hi vọng sẽ không bao giờ phải nghe lại thêm lần nữa. Cậu không thể ngừng nguyền rủa cái số mình khi bị tách khỏi Mary Celeste, rồi nguyền rủa con bé vì cái tính bướng bỉnh, quá mức chua ngoa đã thế lại còn điếc.

Qua âm thanh nó tạo ra, con chó theo đuôi cậu chưa chiến thắng mà cũng chẳng rút lui; đó chỉ là những tiếng kêu cụt lủn không ngớt, phần là tiếng gầm gừ đe doạ, phần là tiếng hét của cảm giác bị đe doạ. Có thể nó đã tìm thấy con mồi của mình ở trên một cái cây rồi. Nếu vậy, Lazarus không còn gì để làm ngoài việc dừng lại và gạt dòng máu đang chảy rần rật trong đầu sang một bênvà nỗ lực dò xem từng đợt âm thanh vọng tới từ đâu. Có thể, chà, con mồi mà con chó tìm được chính là Mary Celeste. Cậu nghiêng tai, loại bỏ tất cả tiếng vang dội qua những cây thông cho tới khi tìm thấy một chỗ có vẻ chắc ăn. Không còn thời gian nữa, cậu chạy thẳng tới đó cho đến khi tới chỗ mấy cái cây mà trực giác về rừng  cho cậu biết con bé có thể đang ở đây. Không thực sự nắm được chính xác, nhưng con chó từ một chỗ quái nào bỗng nhảy chồm vào cậu cho thấy cậu đã đúng.

Hai năm tự do, Lazarus trèo lên một cây thông như một kẻ đào tẩu, bấu móng tay vào lớp vỏ cây mềm, ngẩng lên những đám mây trên cao, và cầu nguyện cho nhánh cây tiếp theo phía trên trông thì xa nhưng không quá xa, còn con chó ở dưới tiếng sủa thì gần nhưng đừng quá gần. Hai kẻ đồng hành của nó đi đâu mất, ai mà biết được, nhưng con này nghiến răng, cắn xé, gào rú và sủa điên tới mức Lazarus thề rằng cậu cảm thấy cái cây rung bần bật. Thứ để cho chó săn truy đuổi chính là một tên nô lệ đào tẩu, và một thứ khác hoàn toàn có thể là một kẻ đào tẩu sau khi đã có được tự do,với một con em gái bị điếc đã dành khúc đầu thoải mái của cuộc hành trình để đủng đỉnh cứ như thể nó có thời gian mà xem kĩ từng chiếc lá mà nó thấy thú vị.

“Quân khốn!” cậu gào lên, lấy hơi ở nhánh cành thứ hai hay thứ ba gì đấy, treo mình như giả chết, nhưng tất cả những gì con chó làm là gào và chửi lại bằng ngôn ngữ của riêng nó. Chỉ là một cảnh tượng nhỏ nhoi ở dưới, nhưng điều làm Lazarus hoang mang thậm chí còn hơn thế—không mùi, không cách gì đuổi được. Không cách gì đuổi theo được cậu, và con chó sé nhắm tới Mary Celeste, một đứa bé gái mới chín tuổi đầu, nó không thể trèo đủ cao đủ nhanh. Cậu đơn giản sẽ phải làm gì đó—bất kể dại dột ngu ngốc thế nào—bởi cậu không thể bỏ mặc đứa em gái bị điếc, việc của cậu, ở trên cây, là sẵn sàng thả mình xuống bất kì lúc nào.

“Mary Celeste!” cậu gào lên. Cậu biết chẳng ích gì, nhưng cậu vẫn làm thêm lần nữa. Không hồi âm.

Cậu không tài nào đoán được tình hình của con em ở trên cây, nhưng cậu tự leo cái cây của mình, tự hỏi thế này là để làm gì. Cậu có an toàn hay không cũng không phải là vấn đề. Con bé sẽ bị con chó của Kittredge giết mất, hoặc có thể mấy con còn lại sẽ từ xó nào chui ra và xé xác nó.

Tất cả là lỗi tại cậu. Quay lại lúc còn ở nhà Bốn Cô Con Gái, khi Lazarus kể cho Bà Thalia rằng cậu và Mary Celeste sẽ vượt thoát để đoàn tụ với đồng bào của mình ở New Orleans, bà chủ cũ của chúng gọi chủng tộc châu Phi là những kẻ trộm cướp vô ơn vì đã bỏ đi khi cuộc giải phóng diễn ra. “Tất cả những gì ta có thể nói,” Bà Thalia nói, thu mình lại như thể cô đang ở giữa một cơn mưa buốt giá, “đó là chúng ta luôn luôn cho bọn nô lệ các người cơm ăn và áo mặc.”

“Người khác có thể nói,” Lazarus đánh liều, “chính nô lệ chúng tôi mới cho các người cơm ăn và áo mặc.”

Chao ôi, bà ta tái cả mặt.

Lazarus đã không nhắc tới ngôi trường dành cho trẻ điếc cho Mary Celeste—chẳng phải việc của nó—nhưng cậu đã buông bỏ rất nhiều trong số những điều cậu nghĩ về bà chủ cũ. Cậu vướng phải rắc rối trước khi có cuộc nói chuyện lúc ấy, làm trước nghĩ sau. Egg, gã mù mà chúng cùng ở chung căn chòi, thường kể cho cậu nghe hắn  cám dỗ số phậnkhi hắn nói năng huyên thuyên. Rằng nếu hắn không phải cha cậu, và không thể đem lại điều tốt đẹp, hắn không nên nói như thể hắn là là cha cậu. Chắc rồi, cùng đêm đó, trong những ngày đều đặn sau khi cậu chôn Egg và nói với em gái rằng chúng sẽ rời đi, Bà Thalia gõ cửa căn chòi của chúng để thông báo rằng bà ta đã quyết định sẽ để bầy chó của Kittredge canh chừng chúng và tất cả các khả năng khác đều đã được tính tới, nhưng bà ta cho chúng xuất phát trước nửa ngày. Kittredge—tay quản nô của Bà Thalia, và kẻ chuyên xử lý nhanh gọn cho bà ta khi tự do xuất hiện—chắc hẳn sẽ sướng lắm khi lại một lần nữa được trọng dụng.

Nếu Lazarus từng nghĩ bà ta đang đùa về chuyện lũ chó, hay chuyện xuất phát trước, thì cậu đã nhầm hết. Tất nhiên, cậu và Mary Celeste ổn và chúng được pháp luật công nhận tự do nhờ ông Abe Lincoln quá cố tội nghiệp, nhưng Kittredge và bầy chó của hắn vẫn cứ theo sau chúng, và số hạt tiêu mà Lazarus vãi ra phía sau chẳng thể nào đánh lạc được cái mũi của chúng.

ZZ Packer - Dayward (ảnh - (trái) Katherine Wolkoff : Art + Commerce; (phải) Glen Wexler - newyorker.com) .jpg
Ảnh: (trái) Katherine Wolkoff / Art + Commerce; (phải) Glen Wexler – newyorker.com

“Lazarus!” Đó là Mary Celeste. Con bé sẽ không gọi toáng lên trừ khi nó nghĩ mọi nguy hiểm đã qua đi hoặc nó cho rằng nó sẽ còn gặp nguy hơn nữa nếu không gọi cậu.

Tất cả là lỗi tại cậu khiến cho hai anh em phải lâm vào cảnh này. Từng hoài nghi về một vị Chúa đã không nói chuyện với đàn ông, đàn , hay trẻ con trong hơn một ngàn năm, dẫu vậy cậu vẫn nói một lời cầu nguyện chớp nhoáng, cảm thấy cổ họng mình đang cố nôn mửa lên trái tim. Cậu biết cậu phải làm gì để bảo vệ em gái được an toàn tính mạng: cậu phải tự sát.

Cha cậu, người đã bỏ đi không chỉ một, hoặc hai, mà là ba lần, từng nghe kể về một thằng cha ở Misouri, tay này không có dòng sông hay con suối nay dòng nước nào chảy qua để che đậy mùi của mình, hắn cuộn vải len từ cái áo của hắn quanh cánh tay và nện vào cổ một con chó để làm nó nghẹt thở. Con cầy chẳng để lại gì trên cánh tay ngoài máu và sụn, vết thương lành bằng vài mũi khâu từ mấy sợi râu vàng, nhưng gã ấy vẫn giơ cao cái tay cụt với niềm tự hào, bày tỏ,“Cánh tay của ta trở lại làm nô lệ, nhưng phần còn lại của ta thì tự do, Chúa ban cho ta. Phần còn lại của ta tự do.”

Lazarus dùng một tay cởi cúc áo để giữ tay còn lại ôm nguyên vòng quanh thân cây. Cậu cuốn chiếc áo quanh cổ tay. Cậu tụt nửa đường xuống dưới và thả mình rơi trên mặt đất. Cậu không biết con chó nhảy lùi lại hay chồm tới trước, chỉ cảm thấy những sợi cứng đanh khủng khiếp của bộ lông chó rậm dày ở cổ họng cậu, quanh cổ cậu, quanh bụng cậu, con vật đang cố vặn cậu ra hỏi linh hồn cậu như một con gấu róc xương cá. Dù cậu có quay hướng nào, cũng chẳng có gì ở đó ngoài chó—răng chó, móng vuốt chó, cơn đói của chó, chẳng có gì ngoài chó vĩnh cửu—và cậu biết con chó hoặc sẽ chôn cậu ở đây, dưới bóng mát của những chiếc lá kim cây thông, hoặc bỏ mặc xác cậu ở ngoài hàng ngày trời như tảng thịt nướng ngày Chủ Nhật cắt một nửacủa Bà Thalia.

Và cậu tiếp tục chiến đấu cho tới khi, đột ngột và không hề hiểu chuyện xảy ra thế nào, cậu đánh liều mọi thứ—mạng sống của cậu, của Mary Celeste, của con chó, cậu hi vọng—và giáng tay mình xuống cổ họng con chó.

Con chó vừa nghẹt thở vừa giật nảy người như thể nó sắp chết đuối, tự làm chủ bản thân đủ để cắm phập răng nó vào thịt, và giờ thì Lazarus nghe thấy tiếng hét của chính mình khi những chiếc răng chạm vào xương, rồi cả hai đứng lên trở lại mà không hề thả lỏng; cậu hét lên thảm thiết, những chiếc răng kéo thịt cậu như thể kéo kẹo kéo.

Vẫn tiếp tục, bằng tay kia, Lazarus nện vào cổ họng con quái vật, nện vào cái lưỡi dày như tảng thịt lưng lợn, rên rỉ trong khi cả hàm răng trắng cắn cậu còn kinh khủng hơn những chiếc đinh đâm xuyên qua người Đấng cứu thế tội nghiệp. Lazarus kéo đủ mọi hướng để rút tay ra, nguyền rủa người cha đã nằm xuống của mình, ông ta chưa từng gặp cái gã ở Missouri, nguyền rủa Mary Celeste và chứng điếc vĩnh viễn của nó, nguyền rủa khi cậu rú lên còn bi ai hơn con chó, vật thân hình con chó từ bộ hàm cho tới khi cậu cảm nhận được tiếng hét câm lặng lạnh lẽo, bình thảnlúc dòng máu của cậu tiếp xúc với không khí lần đầu tiên, từng nhịp chảy ra khỏi người cậu như nước phun ra từ máy bơm, một số động mạch bị xé rách hay tĩnh mạch gì đó cầu xin lòng thương xót, cầu xin Tử Thần, lúc này đang nói với cậu bằng giọng nói của mẹ cậu, rồi bằng giọng của chính cậu, như thể cậu chẳng còn lựa chọn nào ngoài đồng ý.

Nhưng cậu đã làm được.

Lần đầu tiên sau một lúc lâu, cậu không còn nghe thấy tiếng gầm gừ, không cả tiếng sủa. Rồi cậu biết: cậu làm con chó ngạt thở bằng chính cánh tay mình, con chó đã chết.

 

Cậu trèo lên cái cây của Mary Celeste bằng tất cả khả năng của mình, nhưng hẳn là cậu đã ngất đi, hình ảnh tiếp theo mà cậu nhớ được là cậu nằm trên mặt đất còn con bé đang nhìn vào mắt cậu như thể chăm chỉ quan sát cá trong mương nước. Khi cậu đứng dậy, máu lại chảy nhiều hơn.

Thực sự là, trông không giống một cánh tay, hay bất kì thứ gì, cho lắm.

Thối quá, con bé làm dấu.

“Hầy, anh còn làm thế nào được bây giờ?”

Em chỉ nhận xét vậy thôi, con bé nói.

“Em chẳng nói gì cả, nên chỉ cần để tay em yên đi là được.”

Anh không thể bắt em được.

Mary Celeste không phải người bị chảy máu, chưa từng, nhưng khi cánh tanh bắt đầu phụt máu thêm lần nữa, con bé ngừng luôn ra dấu, chỉ dẫn đường cho cậu như một người mù cho tới khi chúng tìm thấy nước sạch, và để cậu nhúng cánh tay xuống dòng nước ở đâu đó phía ngoài Hạt Lafayette. Máu cậu lan ra thành màu đỏ, rồi hồng, trong nước, và lũ nòng nọc cùng cá bơi tới rỉa thịt ở tay cậu. Một niềm tự hào khủng khiếp dâng lên trong cậu, làm được việc đó, và kể cả cánh tay trông như thứ mà một cái cày cố gắng trồng vào trong đất, cậu đã cứu em gái mình, đã giữ lời hứa với những đồng bào quá cố của mình rằng sẽ không bao giờ để nó bị đau.

Giờ thì, sau chuyện đó, cậu hiểu chúng mới đi được tới đâu. Cậu không rõ liệu chúng đã ra khỏi bang Mississippi chưa hay thậm chí đã ra khỏi hạt chưa, nhưng cậu biết chúng đã đi bộ hai ngày, thêm một ngày bị lũ chó đuổi theo, như thế là đủ để tới được được đâu đó. Cậu vừa cảm thấy buồn lại vừa tin rằng mình đang ở xa nhà nhất trong đời.

Anh có nghĩ mình ở Canada rồi không? con bé hỏi.

“Không có đâu,” Lazarus nói. “Thật ra, đây là New Orleans. Không phải em muốn tới đó à? Đến trường học và đến với đồng bào mình?”

Con bé chẳng nói gì nữa, chỉ rít vài hơi, mấy hơi cuối cùng trong điếu thuốc của cậu.

Cánh tay, giờ sạch rồi, trông tệ hết sức: mấy cái lỗ răng, cơ bắp tơi tả, gân rách bươm, cả cái gì đó sùi bọt và có màu nâu đỏ chắc là lõi tay.

Mình phải quay lại và tìm bác sĩ thôi, con bé làm dấu.

“Hơn ai hết em nên là người biết về một bác sĩ hay đổ thừa.” Cậu cảm thấy tàn nhẫn, nói ra điều đó, nhưng không rút lại được nữa: nói thêm chỉ tổ làm cho mọi chuyện tồi tệ hơn. Khi con bé năm tuổi, nó thức dậy sau một cơn sốt, chẳng nghe được gì ngoài tiếng vù vù—một âm thanh, con bé kể lại, giống với tiếng của một con bọ da dính bẫy một cách đáng ngạc nhiên, đi từ miệng tới tai và rồi ngược lại. Thính lực của con bé lẽ ra đã cứu được nếu Bà Thalia và Ông chủ cũ Thompson gọi một bác sĩ da trắng thay vì Ông Swope, bác sĩ thú y của hạt, người chuyên về các loài bọ trên ngựa. Ông bác sĩ ngựa đã khuyên cả Ông chủ lẫn Bà hãy kệ cha việc chịu đựng sự khổ sở của con bé và thôi ngay việc cho nó nghỉ trên giường đi. Nếu họ chỉ đơn thuần có xu hướng sở hữu tài sản của mình và dừng hậu thuẫn cho sự giả vờ của con bé, ông ta nói, họ sẽ sớm thấy con bé nghe được trở lại. Rồi ông ta gói ghém cái ống nghe, cái gõ hình nón bằng bạc, muối chữa mụn cóc, cái bình đựng đỉa của mình lại. Một tháng qua đi, thính lực của con bé nghe được từ vù vù sang lùng bùng. Con bé nói âm thanh nghe như thể mọi người đang bị nghẹt thở, cố gắng trong tuyệt vọng để cất tiếng nhưng bị chặn lại bởi gối, hay nệm rơm, hay nước ao. Cậu không muốn biết thứ âm thanh ấy ra sao—nghe mẹ cậu rên rỉ về nó là quá đủ trừng phạt rồi—nhưng Mary Celeste vốn là đứa hay chuyện, rồi càng điếc thì nó càng ít nói với mọi người và lại càng nói nhiều hơn với cậu. Nó kể cho cậu nghe âm thanh trở thành sự thâm trầm nghiêm nghị của những hành lang dài, không kèm theo bất kì thứ gì. Con bé có vẻ không nắm được chuyện này là gì cho tới khi bị điếc hoàn toàn, và chẳng còn nỗ lực hay sự phân tích nào có thể đem âm thanh, dầu ít ỏi, đến cho đôi tai của nó. Khi nó hiểu ra, cuối cùng nó gào thét hàng ngày trời. Nhưng kể cả chuyện ấy cũng kết thúc, và nó quệt nước mắt với quyết tâm dũng cảm của một đứa trẻ chứng kiến gia đình mình bị đưa tới lò mổ.

Không bác sĩ!Đôi tay con bé xuỳ cậu thể hiện sự nghi ngờ. Anh hiếu thắng quá.

“Mày chẳng nói được lấy một lời cảm ơn. Anh là thằng có cánh tay tơi tả, chắc sẽ bị cắt lìa mất.”

Anh nhớ chuyện Cha kể về cái ông cụt chân chứ?

“Không.”

Có, anh nhớ mà.

“Bọn mình phải đi thôi. Ai mà biết được Kittredge đang ở đâu. Khéo ngay phía sau rồi.”

Hắn không ở sau đâu. Em chưa thấy nơi này bao giờ.

“Em chẳng mấy khi rời nhà và cánh đồng từ lúc bị điếc, em thì biết gì?”

“Em biết nhiều lắm,” con bé nói, thành lời. Khi nó muốn cậu hiểu ý mình, nó sẽ làm cả hai. Con bé lúc nào cũng nhắc tới quý bà ở miền Bắc đã uốn nắn chỉ bảo cho đôi tay nó ngôn ngữ kí hiệu, quen biết gì đấy với Bà Thalia và muốn đưa Mary Celeste tới miền Bắc để học ở một ngôi trường mà chẳng đứa trẻ nào muốn đến trừ những đứa điếc như Mary Celeste. Bà ấy không biết liệu dân da màu có được nhận không, nhưng bất chấp điều đó bà ấy dường như sẵn sàng đặt cược mọi thứ rằng Mary Celeste nên rời cha mẹ, và anh trai để tới đó. Khi Bà Thalia từ chối, bà dì hay chị họ hay chị họ đằng chồng này thu xếp cho Mary Celeste ngủ ở nhà Thompson, kể cả nếu có là ở chân giường, nơi Mary Celeste nói người phụ nữ bốc mùi hôi chân cực mạnh.

Và Mary Celeste đã đúng. Con bé biết nhiều hơn nó nên biết. Nó có thể nói khi nào trời sắp mưa, khi nào ai đó sắp chết. Con bé biết cách khiến cho một khu vườn sinh trưởng lớn gấp hai lần mà chỉ tốn có nửa thời gian. Lũ mèo luôn theo nó. Con bé thật là một phép màu, mọi người kì vọng nửa vời rằng con bé sẽ tự chữa lành cho đôi tai mình. Nhưng chuyện ấy không hề xảy ra.

“Câm mồm lại và để tay yên đi,” Lazarus bảo con bé.

Cậu đứng dậy khỏi dòng nước và bắt đầu bước đi. Cậu mặc cái áo vấy máu, đẫm mùi chó, rách lỗ chỗ với vô số vết cắn và nước mắt. Cậu đoan chắc rằng mình sẽ mất cánh tay. Mary Celeste rảo chânphía sau để bắt kịp cậu.

Cậu mười bốn tuổi. Có thể là mười lăm.

 

Trong bốn mươi hai ngày kể từ vụ lũ chó, cậu và Mary Celeste sống sót bằng quả việt quất, cá nhỏ tí hin, và những loại nấm đầy hoài nghi. Cánh tay cứ tệ dần đi, một thứ nhức nhối mà cứ vài giờ lại cảm thấy như thể nó sẽ chỉ dịu đi khi cậu ngâm nó vào thuốc mỡ, còn những lúc khác thì cứ như có cả dàn xe ngựa chạy cán lên nó qua từng bước đi của cậu. Ban đầu nó không đóng vảy, và chúng nghi ngờ nó bị hoại tử; Mary Celeste dùng cái yếm của mình để cuốn cánh tay lại. Nó bốc mùi như thịt lợn không ướp muối để dưới nắng mùa hè, và mỗi ngày chúng đi bộ cậu đều không làm sao mà tránh cái yếm bị bung ra khỏi tay, mọi vết thương còn mới lộ ra như da bị tách khỏi thịt, làn khí mới như một cái lưỡi dao cạo lên những vết thương này. Một đêm, cậu thức giấc vì tiếng rú lên của chính mình. Cậu vẫn tiếp tục đi, dù nó trở nên rất tệ ở cuối hành trình tới nỗi Mary Celeste lấy ra con dao và hỏi cắt ở đâu bây giờ.

“Em chẳng biết gì à? Cái này không ăn thua,” cậu bảo con bé. “Ít nhất là em cần phải có rìu.”

Anh cũng cần cả ai đó nữa. Em sẽ không chặt được cái gì khỏi người ai bằng rìu đâu.

Chúng bắt đầu ra được đường cái, rồi lại chọn đi đường nhỏ. Về sau, chúng đánh lừa những cựu chiến binh sống ở khu đầm lầy và những người giống kiểu thợ săn lang bạt, và vừa vặn trốn thoát khỏi một tay Liên minh miền Nam già nua bẩn thỉu, kẻ đã làm ăn kinh doanh bằng cách thu thập bọn trẻ nữ mồ côi trong chiến tranh, và bán sự trong trắng của chúng trong một bụi dâu tằm. Gã đó đã bắt Mary Celeste khỏi tay Lazarus khi cậu đang ngủ say như chết, và hắn giữ con bé nguyên một buổi mặt trời hiện diện trước khi Lazarus theo dõi và phục kích hắn, đốn ngã hắn. Sau rốt gã lại lừa được cậu và vớ được một khẩu súng lục cổ lỗ, dí nó vào mũ lưỡi trai của Lazarus định thổi bay đầu cậu.

Hắn bóp cò.

Sau khi khói và chất nổ tan đi và tiếng tru tréo của con nhóc không còn âm vang la hét đinh đoong nữa, Lazarus chạm vào thái dương của mình, ngón tay cậu tìm thấy một vết máu không lớn hơn giọt rượu vang. Gã kia lùi lại, kinh ngạc, giờ thì hắn đã tin rằng sọ của người da màu cứng như sắt. Trở lại hồi ở nhà Bốn Cô Con Gái, Egg mù đã đặt hai tay lên người Lazarus và nói với cậu rằng cậu bẩm sinh rất khó bị giết. Egg nhiều lần chúc mừng cậu vì cái tên của cậu sẽ đem lại may mắn cho cậu, nhưng Lazarus đã nhắc lão già rằng cậu đã nghe về đâu như bốn chục nô lệ tên là Lazarus chỉ riêng ở hạt Lafayette, và cái tên vẫn chẳng mang đến thêm mạng sống nào hoặc một cuộc du hành cải tử hoàn sinh cho bất kì ai.

Giờ thì Egg tội nghiệp đã chết. Ông ấy đoán ngày, và đã trễ một ngày, nhưng giờ giấc thì chuẩn: sau tám giờ, sau khi mặt trời lặn. Lazarus và Mary Celeste đặt ông ấy nằm trên mặt đất và bắt đầu vạch kế hoạch đi New Orleans.

Lazarus nghĩ về tất cả mọi sự. Làm sao mà cha chúng bị giết, không phải vì bị đóng đinh vào tai lên cây cột mà lại là vì gãi suốt ngày đêm cho đến khi nó rách ra. Làm sao mà mẹ chúng lại chạy vào rừng, ngu xuẩn và điên loạn, sau cái chết của cha chúng. Bà đã đi mất được gần ba ngày, rồi được tìm thấy bị viêm phổi và chết trước khi bà có thể bị đòn roi vì đã cố gắng đào tẩu—nếu như loay hoay quanh mấy cái xác cây đã chết trong vòng dưới bốn dặm có thể gọi là đào tẩu.

Mary Celeste ôm đầu cậu, những giọt nước mắt biết ơn của cậu chảy ướt mặt cậu; trong khi đó tay Liên minh Miền Nam đang chạy xa và nhanh hết cỡ mà đôi chân hắn líu ríu và đám con gái bị trói của hắn cho phép. Mọi hoạt động xử lý rắc rối của Mary Celeste làm cánh tay của Lazarus lại rách ra thêm lần nữa, và mặc dù cậu có thể nhìn thấy mạch vẫn đang đập, cậu hoàn toàn không thể cảm nhận được thông điệp của nó.

Lazarus nghĩ về cuộc chạy trốn ở Missouri và món quà lưu niệm tua tủa lông vàng hoe trên tay cậu.Cánh tay của ta trở lại làm nô lệ, nhưng phần còn lại của ta thì tự do, Chúa ban cho ta. Phần còn lại của ta tự do

Đó là chuyện kể ưa thích trước giờ đi ngủ của cha cậu.

Cha của hai anh em từng thích thỉnh thoảng lại tẩn chúng trước khi đi ngủ, và khi chúng hỏi ông “Tại sao vậy, Bố?” sau khi đã mang rêu vào đánh dấu giường và đánh trứng, đổ tro và cắt tóc trên khu vườn cải nhỏ và hoàn thành mọi nhiệm vụ rất đúng và hợp lý, hoàn toàn vâng lời, cha chúng sẽ chẳng, hoặc không thể, nói gì. Nhưng những lần khác ông lại bóc vỏ quả pawpaw và kể cho chúng nghe những câu chuyện khiến chúng thức rõ khuya vì cái kết đáng sợ, mà chẳng hề giống với những câu chuyện Bà Thalia kể khi bà tập hợp kẻ dưới quanh bà trong dịp Giáng Sinh và Phục Sinh để đọc một trang “Ivanhoe” hay “Vua Arthur” hay “Robin Hood.”

Cô gái ngày xửa ngày xưa của Lazarus, Savannah, từng kể cho cậu rằng cha cô ấy cũng làm điều ấy—tẩn cô—nhưng đó là cách duy nhất mà ông ta có thể làm đàn ông, hệt như Ông chủ Thompson hay Kittredge; ông ta chỉ cố nói nhiều hơn rằng ông ta sở hữu cô ấy. Điều này khá dễ hiểu với Lazarus, và sau đó tâm trí cậu không quá tổn thương để bị đánh gục, mặc dù thể chất và tâm hồn đã tổn thương.

 

Thời điểm mà chúng đặt chân đến Louisiana, đứng trên bờ đất phía xa sông Pearl hướng bắc Bogalusa, mặt trời trên Vịnh dõi theo chúng chẳng ngừng lúc nào, và mỗi ngày đều bị nướng đến ra mùi của nước đầm lầy bị đun nóng và tiếng muỗi bay. Cậu xỉu đi không thể đi nổi; điều này giống như thể bầu không khí thanh thoát chứa đầy đinh ốc và mặt trời là một chiếc búa, giã vào tay cậu mỗi lần nó chiếu tới. Lần đầu tiên sau một khoảng thời gian, Mary Celeste thấy cậu khóc, nước mắt cứ thế tuôn rươi, con bé trông thật bối rối và rụt rè.

Lazarus có vẻ như đang đóng khố thay vì mặc quần; tay áo và tạp dề trên váy Mary Celeste cũng được tháo ra làm giẻ để cầm máu ở bàn chân con bé từ lâu rồi. Chúng tiếp tục, chân tay trĩu nặng trong cái nóng, lòng tơi tả âu lo. Mắt chúng khô khốc, các khớp xương mất sạch cảm giác. Chúng gần như vừa đi vừa ngủ gật trong quãng nỗ lực cuối cùng hướng tới New Orleans. Đói khát, bị bọ đỏ cắn, có thứ gì đó bong khỏi da chúng hệt như gỉ sét.

Và cánh tay lại càng tệ hơn, nhưng lúc này thì cậu đã chẳng còn cảm thấy nó chút nào nữa.

 

New Orleans dường như còn cách vài ngày đường. Lũ diệc cất cánh bay qua đầu hai anh em, rợp cánh, những cú đập cánh không phát ra tiếng động trở thành những tấm giẻ trắng nổi bật trên nền trời mây trắng vụn bay. Dù Hồ Pontchartrain ở phía sau cách đó cả dặm, vẫn có rất nhiều diệc, bay theo chúng như lũ ăn xin. Chẳng có hơi sức nào mà sinh sự, chúng bỏ không đi đường ấy nữa mà chuyển qua đường khác, một lối đi quanh co, dài miết, và đầy đá cuội. Mary Celeste thì cứ đi thong dong, còn cậu thì phải thúc nó, thi thoảng, bằng cánh tay lành lặn. Rồi lũ bọ trĩ và chuồn chuồn nhường chỗ cho dân Ả Rập đường phố, bọn lai da đen hung hãn(1), và bọn da trắng có vũ trang cầm vung vẩy mấy con dao cạo lưỡi gập tàn dư của những kẻ ly khai(2). Nhìn thấy đèn đường thắp bằng gas và đường dạo lát gỗ, chúng biết chúng đã tới được New Orleans.

Thành phố thật xinh đẹp, dù ngập trong rác rưởi. Ở các góc đường, người thì bán quả mọng, hoặc táo hay bánh ngô nóng hổi; người thì mời chào sửa giày ngay tức thì, nếu bạn đủ may mắn có giày mà đi ngay từ đầu. Những người bán cá đeo găng tay ráp giơ lên mấy con cá bóng loáng, hẵng còn quẫy, rồi nhúng chúng trở lại vào cái túi đựng nước đeo bên người. Hai anh em đi qua các cửa hàng bán xì gà, giày, kèn clarinet—thậm chí cả một chiếc piano.

Những người chạy bộ—những chàng trai da trắng—chạy tới trước bất kì cặp đôi nào, mấy người đàn ông ăn vận bảnh bao, hoặc xe cộ hỏng hóc và la hét, nài nỉ, hoặc hát những khúc ca ngợi khách sạn hay nhà trọ đã trả tiền cho họ đi quảng cáo việc kinh doanh. Những người đàn ông đi bộ trên vỉa hè như những nhà thuyết giáo, mời chào bạn những bông hoa y hệt như bạn thấy mọc miễn phí đầy trên mặt đất.

Làm sao mà,Mary Celeste ra dấu, chúng mình tìm được Dì Minnie ở đây?

“Chúng mình phải hỏi thăm đường tới đồn điền của dì,” Lazarus bảo em gái.

Anh có muốn em nói chuyện với người ta không? con bé ra dấu.

“Em yên đi.”

Đừng có nói thế nữa. Em sẽ nói chuyện. Chúng mình sẽ gặp ít rắc rối hơn nếu làm thế.

Cậu làm cử chỉ lờ con bé đi. Nó đã dõi theo cậu suốt từ sau vụ lũ chó, và, hình như, chuyện nhỏ nhặt gì nó cũng đều cảm thấy cậu sẽ mất bình tĩnh và làm rối beng lên. Lũ chó là chuyện ít đáng kể nhất: không có ván gỗ để ngủ, không cách nào biết còn cách Louisiana bao xa, rồi không cách nào biết còn cách New Orleans bao xa. Con bé có lẽ trách cậu về cái chết của Egg. Của cả Mẹ và Bố nữa.

Hai đứa đi bộ trong thành phố cứ như chẳng có mục đích gì, cậu mua cho Mary Celeste một cái kẹo bạc hà, dù con bé để cậu chia đôi. Cả ngày cậu chẳng tìm được ai đủ cho cậu tin tưởng, không người da màu nào để giúp đỡ hai đứa như những người chúng gặp trên đường. Càng đi, chúng càng gặp nhiều binh lính, sĩ quan miền Bắc ở khắp nơi.

Đã nguyên một ngày trôi qua từ khi binh lính miền Bắc tới Oxford, Mississippi. Tất cả dân da trắng lên cơn cuồng loạn, chạy khắp quanh, cả thị trấn bị thiêu rụi, tất cả nô lệ vui mừng như  Giáng Sinh đến, nói những chuyện về người da trắng và với người da trắng mà Lazarus chưa từng bao giờ nghe thấy từ thưở cha sinh mẹ đẻ. Sỉ nhục, thề thốt và đe doạ về một chủ nô ngu ngốc là điều mà một người đã có thể lẩm bẩm trong sự an toàn của phòng ngủ với vợ anh ta, cô vợ này cũng đã nghe hết từ lâu rồi, nhưng tuyệt chưa bao giờ xảy ra giữa thanh thiên bạch nhật.

Cậu nhớ tới Bà Thalia, hiển nhiên là gào thét lên với đám lính miền Bắc đang dùng nhà của bà ta như thể cái chuồng lợn, chỉ để mang đi bất kể thứ gì không cố định chắc chắn. Gà mái, ra đi. Piano, phá hỏng. Họ lấy hết rau diếp xoắn. Họ lấy cả ở khu của nô lệ, nên chuyện này chẳng có gì hay ho với chúng và Egg, nhưng cũng bõ công thấy người như Bà Thalia bị nhấn chìm. Nếu không phải vì bà ta, Mary Celeste rất có thể đã nghe được. Nếu không phải vì Bà Thalia, cha mẹ cậu có thể vẫn còn sống. “Kẻ dưới lên trên, kẻ trên xuống dưới!” Egg nói. Nhưng đêm đó, khi Lazarus từ xa chứng kiến ngọn lửa rực cháy ở Oxford, cậu cảm thấy mình có thể kiên định một thoả thuận tốt để nhiều kẻ trên bị hạ bệ hơn, và biết rằng, chỉ cần được trao nửa cơ hội, cậu sẽ giết Bà Thalia và cả Kittredge. Kể cả nếu cậu có phải quay trở lại để làm việc đó.

Mary Celeste luôn có thể ngửi được suy nghĩ y như một cây gậy dò mạch nước vậy: Đừng nghĩ về Bà ấy nữa.

“Anh không,” cậu nói dối.

 

Chúng biết tên đồn điền và đường tới đó, nhưng ngày đầu tiên chẳng đi được bao xa ra ngoài thị trấn, bởi Lazarus phải cuốn đi cuốn lại cánh tay khi nó rỉ máu mãi không thôi. Buổi sáng thứ hai cuối cùng chúng cũng tới nơi, và sau khi hỏi về Dì Minnie chúng được chỉ cho đường tới chỗ dì ở. Trên thực tế, cách đồn điền vài dặm toạ lạc một khu đô thị ổ chuột, nhà cửa của người da màu thắp sáng New Orleans và Baton Rougesau cuộc giải phóng và tìm thấy tự do của mình chính tại nơi này, trong một thị trấn của  rừng ngập mặn và loài gặm nhấm, mắc kẹt và vô dụng.

Con đường hẹp lại thành một lối mòn mọc đầy cây catalpa đung đưa dưới thấp và các cây ngập mặn khiến chúng cứ phải gạt cành lá lủng lẳng và rêu Tây ban Nha qua thì mới bước đi nổi; dường như chẳng có ai lại đi làm nhà ở cái chốn tận cùng thế giới này.

Vậy mà, Lazarus nghe thấy vài tiếng động qua đám cây, tiếng khóc của một đứa bé sơ sinh bị đau bụng, gào thét không ngừng và tưởng như một con mèo đực lúc đêm hôm. Rồi có thêm nhiều tiếng động: nhịp điệu đều đặn của thứ gì như là cái trống, tiếng lèo xèo của thứ gì đang bị chiên lên. Càng tới gần, chúng càng nghe rõ hơn: một lũ trẻ phun ra những lời thoá mạ,cuộc tranh cãi gay gắt của chúng bị chấm dứt bởi tiếng đồ thiếc rơi loảng xoảng. Giọng một người phụ nữ trấn áp sự ồn ào của bọn trẻ, quát lên, “Tao có hẳn hai chữ để nói với cả đám chúng mày? _Cư_xử!”

Tiếng quát của bà ấy lập tức có hiệu quả: tất cả trật tự.

Chúng chưa bao giờ gặp Dì Minnie, nhưng dì ấy dù sao vẫn là người họ hàng còn sống cuối cùng của chúng trên đời này. Và khi mẹ cậu kể chuyện về Dì Minnie, Lazarus chỉ nghe loáng thoáng những hồi ức, dường như chẳng có đầu có cuối, không như “Ivanhoe” và “Robin Hood,” không có người hùng nào hiện ra cả. Lúc nào cũng là chuyện dì Minnie khâu vá giỏi nhất ra sao, hoặc chuyện dì ấy có một mảnh gương bạc mà dì không cho ai khác dùng thế nào. Dì ấy yêu chị gái mình hơn bất cứ điều gì trên đời, nhưng năm mười lăm tuổi lại trộm đồ rồi trốn đi mất, mặc tất cả số váy của bà chủ trên người—ba chiếc, chiếc này tròng vào chiếc kia.

Trời buổi sáng bắt đầu đổ cơn mưa, giọt nào giọt nấy to như hạt bí ngô. Hàng cây lá lại lên cơn cuồng nộ thêm bận nữa. Cậu ghé tai, nghiêng đầu về phía đó cho Mary Celeste thấy. Dì ấy ở lối này, Lazarus ra dấu cho con bé bằng cánh tay lành lặn, rồi lôi con bé đi về phía cậu nghe thấy mớ âm thanh lộn xộn. Mary Celeste không thể nghe thấy tiếng huyên náo, nhưng con bé luôn nhận ra khi có chuyện không ổn. Nó lắc đầu từ chối.

Nhưng Lazarus kéo con bé theo, thế là cả hai đứa phải chiến đấu với mớ dây leo và lũ ruồi trâu và bụi rậm. Chính Mary Celeste cuối cùng là người tìm ra cái lán, lẩn khuất trong hoang địa.

“Mày nói chúng mày là con của Clarissa à?” người phụ nữ ra mở cửa nói.

“Dạ, vâng.”

“Thế Crassia đang ở chỗ quái nào rồi?”

“Dạ, mẹ cháu mất rồi ạ.”

Khuôn mặt người phụ nữ có nhiều sắc vàng hơn mặt mẹ hai đứa, và cũng không phải là sắc vàng khoẻ mạnh, mà là sắc ốm yếu, bệnh tật của bột ngô đã qua thời hảo hạng. “Clarissa,” bà nói trong bóng tối của căn phòng, chẳng với ai ngoài chính bản thân mình. “Clarissa, Clarrisa . . . “ Bà tụng cái tên như thể bà ấy biết một cô Clarissa nào hoặc đang cố nhớ xem mình có biết không.

“Dì là Minnie?”

Người phụ nữ chẳng nói gì; thay vào đó, bà rút ra một điếu xì gà cuốn và hút, má bà hõm vào sau cú rít. Vẫn dùng tay ấy, bà dụi lông mày, rồi các nếp nhăn. Lazarus xem xét các diện mặt và điệu môi của bà xem có điểm giống nào với người mẹ quá cố của cậu không. Đúng rồi. Có nét giống, quanh đôi mắt, nhưng nó nháy liên tục như một con đom đóm vậy.

“Mùi gì vậy?” bà hỏi. Lazarus giơ cánh tay thối rữa của mình lên, giờ trông nó hệt như giống nấm dại.

“Lũ chó săn,” cậu trả lời.

Bà gật đầu, một lần, như một nữ giáo sư da trắng. Cứ như mọi thứ mà cậu kể, bà đều đã biết. Nên cậu không kể về Bà Thalia và Ông chủ Thompson nữa, cả những chuyện họ đã làm với Mary Celeste khiến nó bị điếc; hay cả cha và mẹ đã đi đến cái kết như thế nào. Cậu không hé thêm lời nào về chuyện lũ chó dồn Mary Celeste lên cây hay chuyện cậu gần như mất nửa cánh tay.

Đêm đó, khi Mary Celeste bắt đầu mộng du, run rẩy và khóc lóc không thành tiếng, Lazarus phải đánh giá caomấy ngón tay của con bé ở chỗ nó cào lên cửa nhà dì Minnie, cố gắng gạt đi mấy tờ giấy mà nó nhầm tưởng là lũ chó, bối rối giữa việc con bé tự quật ngã mình với bị lũ chó săn xé xác.

Cậu dẫn con bé trở lại chỗ ván gỗ của chúng, ở đây con bé quên sạch những gì nó mới làm. Bảy đứa con của dì Minnie rên rỉ và cằn nhằn trowcs khi chúng kịp ngủ trở lại, và Lazarus nằm trong bóng tối, không sao ngủ nổi, không muốn dậy khỏi chiếc giường tử tế đầu tiên của cậu sau hàng tháng trời. Cậu nhìn dì Minnie, lúc này đã dậy xem điều gì đã hành tội đứa trẻ bị điếc này và giờ thì ngồi ở cái bàn đơn trong phòng.

“Tận chín đứa,” dì nói với bóng tối. Đó không phải một lời nguyền rủa, cũng không phải là than thở mà là một lời hứa.

Lazarus nhìn dì. Nhưng dì Minnie yên như tượng; cả lỗ mũi to như miẹng kèn trumpet của dì hay đôi môi mỏng như cái nẹp gỗ sồi của dì cũng không. Chỉ có làn khói từ điếu xì gà của dì uốn lượn trong không khí, như một linh hồn.


(1) ND: nguyên văn ‘ornery Creoles.’

(2) ND: nguyên văn ‘the loss of the Sesesh.’

Copyright © 2010 by ZZ Packer.

ThKh chuyển ngữ không có sự đồng ý của tác giả.

———-

ThKh – 2019

ThKh là một bút danh khác của ChuKim, một người viết tự do, sống và yêu tại một ngôi làng mang tên thành phố. Nếu có thể, hãy ủng hộ và khích lệ bằng cách đọc và chia sẻ những gì anh viết trong khả năng của bạn. Xin cảm ơn.

– natchukim.cogaihu@gmail.com –

PS: Tất cả nội dung trong blog này đều được tuyên bố quyền sở hữu và quyền tác giả về nội dung, ngoại trừ những bài sưu tầm có đề rõ. Mọi trích dẫn, đăng lại, vui lòng ghi rõ nguồn. 

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s