Sarah Shun-lien Bynum (1972-) là nhà văn người Mỹ gốc Hoa. Bà đã xuất bản các tiểu thuyết Madeline is sleeping (2004) và Ms. Hempel Chronicles (2008) và đã sáng tác một số truyện ngắn.

Sarah Shun-lien Bynum (Grafilu - newyorker.com).jpg
Tranh: Grafilu – newyorker.com

‘Vua của các nàng tiên’ (The Erlking) là truyện ngắn của Sarah Shun-lien Bynum được đăng trong tuyển tập 20 under 40 (2010) của tạp chí The New Yorker. 


Vua của các nàng tiên

Đúng như Kate hi vọng. Con đường mòn, tiếng chuông kêu leng keng trên cổng. Những cây thông cao lớn rụng dần từng chiếc lá kim. Mùi nấm ngọt ngào, mấy bức tượng thần lùn được đặt trong bụi cây thấp, tiếng đàn mandolin xa xa trên đồi. “Chúng mình tới rồi, chúng mình tới rồi,” cô nói với con mình, nó không đi đủ nhanh và cần được dắt tay kéo đi. Qua cánh cổng, họ bước đi trên con đường đan đầy bóng nắng, dưới hàng cây thông, về phía bãi đỗ xe của trường và băng qua quầy bán bắp rang bơ, tiến vào trung tâm của lễ hội Elves’ Faire(1).

Con cô tên là Ondine nhưng nó chỉ thưa khi được gọi là Ruthie. Tay Ruthie thả lỏng ươn ướt trong tay cô, họ cùng nhìn thấy hai nàng tiên gây gổ đuổi nhau ngang qua, nàng chạy nhanh hơn vung vẩy một dây vé xổ số. “Con không muốn đeo đôi cánh của con à?” Kate hỏi ban sáng, nhưng Ruthie lúc ấy chẳng có tâm trạng nào. Thi thoảng hai mẹ con đồng điệu với nhau, thi thoảng không. Giờ họ đi vòng quanh bãi cỏ lớn râm mát, quan sát các hoạt động. Người ta làm nến, nuôi ong, dệt mắt Thần(2). Một tấm bảng viết chữ thư pháp màu tím nói rằng Vua Arthur sẽ xuất hiện vào buổi trưa. Có một khu vườn trà, một hàng cây việt quất, một người đàn ông có bộ râu mỏng lún phún và một trăm quả sồi đính lên những dải băng sáng màu trên những nếp gấp áo dài của anh ta, lũ con trai đánh nhau bằng mấy cây gậy bọc đệm hai đầu. Trên sân rải rác lá thông kim và cỏ khô. Các cốc đựng nước chanh là loại có thể phân huỷ. Mọi thứ đều chính xác như nó nên như vậy, tất cả mọi chi tiết quái quỷ trong chuyện này, nhưng, dù trái tim Kate đầy ắp niềm vui thú với tất cả mọi chuyện, cô thấy khó chịu bởi nhận ra mình đã có thể nhưng hoá ra lại không chuẩn bị được cho con mình, và trong đó hiện hữu một nhận định sai lầm, một sai lầm hoàn toàn có thể rất nghiêm trọng.

Họ thậm chí chưa từng nộp đơn xin học vào trường Waldorf! Các liên kết ý niệm của Kate cùng lúc ấy đều mơ hồ nhưng lại gây căng thẳng: gậy quỷ, ghi âm, đôi lúc vô học.Cô nghĩ mình nhớ đã nghe ai nói về một cậu bé, chín tuổi, có thể xác định trên bản đồ toàn bộ Đế chế Mông Cổ nhưng vẫn cứ mút tay. Như thế không thể gọi là ổn được. Ai rồi cũng phải đi tới cửa hàng 7-Eleven ở một thời điểm nào đó trong đời, vũ trụ thông thường vẫn vận hành như vậy. Thế nên cô đã không đăng ký một tour tham quan. Nhưng chưa từng có ai kể cho cô nghe toàn bộ phần hoá trang cổ tích. Và giờ thì nhìn xem Ruthie đã bị lỡ mất điều gì. Phép thuật. Tự nhiên. Các vòng hoa, các dải lụa bay phất phơ, một trải nghiệm hoàn toàn không hề có tính truyền thông, không ô nhiễm trên đời này. Cơ hội cho con bé được dành hàng ngày trời dính lấy sách vở và diễn lại các câu truyện cùng đám thú gỗ tuyệt vời hàng sản xuất ở Đức.

Sarag Shun-lien Bybum - The Erlking (ảnh - Tim Walker, “The Dress Lamp Tree, England” (2002) - Art + Commerce.jpg
Ảnh – Tim Walker, “The Dress Lamp Tree, England” (2002) – Art + Commerce – newyorker.com

Ruthie muốn lấy đem một con về nhà, một con hươu cao cổ con. Thật kì diệu, chúng kết cục lại tề tựu ở chỗ duy nhất trong khuôn viên lễ hội Elves’ Faire có các hoạt động thương mại và người ta chấp nhận thanh toán bằng thẻ. Ruthie còn chẳng buồn nhìn con hươu cao cổ con; với sự hờ hững, nó kẹp con thú dưới cánh tay khi nó chạm vào tất cả các con khác trên bàn.

“Một con vẹt đuôi dài!” nó khẽ khóc cho chính mình, với tay.

Kate tìm thấy một con hươu cao cổ con thứ hai, kẹp giữa một con trâu và một con cánh cụt. Mặc dù các sinh vật đại diện cho một phạm vị rộng lớn trong thế giới động vật, chúng đều thuộc về cùng một gia đình mũi tẹt đáng yêu. Con hươu cao cổ bé nhỏ nhẹ bẫng trên tay cô, nhưng khi cô xoay nó lại để nhìn cái mác giá bé tí hin gắn dưới lòng bàn chân nó, cô bỏ xuống ngay lập tức. Mười bảy đô! Đủ cho cả một gia đình ăn uống trong một tháng. Con Tàu Nô-ê, thấp thoáng ở giữa bàn, giờ trông như một thứ gì đó xấu xa. Từng đôi, từng đôi. Cứ thế cộng lại.

Làm sao mà các phụ huynh có con học trường Waldorf xoay xở được nhỉ? Làm sao mà bất kì phụ huynh nào lo được? Kate đưa cho người ta thẻ Visa của cô.

Cô nói với Ruthie, “Đây là một món đồ rất đặc biệt. Món đồ đặc biệt của con từ lễ hội Elves’ Faire, được không nào?”

“Được ạ,” Ruthie nói, lần đầu tiên nhìn vào con thú bây giờ đã thuộc về nó. Nó biết mẹ nó thích hươu cao cổ; ở vườn thú, mẹ đứng từ năm tới mười phút ở rìa khu giữ hươu cao cổ, nói về cặp mắt tuyệt đẹp của chúng và hàng lông mi dài đáng yêu của chúng. Cũng vì nó biết mẹ nó sẽ đồng ý, và mẹ không phải lúc nào cũng đồng ý—ví dụ như, khi hỏi về My Little Pony chẳng hạn. Thế là Ruthie phải vừa thông minh lại vừa tử tế. Nó nghĩ về mẹ nó trong khi cũng đồng thời nghĩ về bản thân mình. Bên cạnh đó, cũng chẳng thấy có con My Little Pony nào trong hội chợ này—nó đã để ý rồi. Có một con hươu cao cổ to hơn ở trên bàn, nhưng có thể trong năm phút nữa Ruthit sẽ hỏi xem liệu nó có thể cho con ấy vào danh sách quà tặng sinh nhật của mình không.

“Mẹ ơi,” Ruthie nói, “sinh nhật của con trước Giáng Sinh hay sau ạ?”

“Chà, tuỳ xem ý con trước nghĩa là sao,” Kate nói, chẳng giúp được gì.

Tay trong tay, họ rời khỏi khu vực hội chợ của lễ hội Elves’ và leo lên triền cỏ về phía ngôi nhà cũ kĩ nặng nề trên đỉnh đồi, có mái dốc thấp, những thân cột mập mạp và phần trần mái đua ra sơn màu xanh lục. Kate đoán toàn bộ nơi này từng là nơi nghỉ dưỡng trong lành của một người giàu mắc bệnh lao, còn giờ nó là một trung tâm phương pháp giáo dục sớm cho trẻ.

 

Trường của Ruthie được xây dựng từ một kết cấu dạng thùng xe móc, tiền chế, phẳng phiu, đặt ở phía sau bãi đỗ xe rộng rãi của một nhà thờ Hàn Quốc. Nó dễ thương theo cách riêng, với rất nhiều dây leo cây bìm bìm hoa tía làm quang cảnh dịu lại, và, thay vì cây cối thật, một bức tranh tường tả cảnh rừng cây được vẽ dọc suốt bức tường bao ngoài. Và đỗ xe chưa bao giờ là một vấn đề, đây là một điểm cộng, trong khi ở những trường khác thì dừng xe và đưa đón quả thật là chuyện nan giải. Ở trường Wishing Well, phụ huynh luân phiên mặc áo khoác phản quang và sử dụng bộ đàm, chỉ để điều tiết xe cộ buổi sáng di chuyển chậm và đúng làn dọc theo đường xe chạy trong trường. Hay còn có Cánh cửa Tạm biệt dữ dội ở trường Jewish Montessori, phía bên kia ngưỡng cửa màphụ huynh đưa con đi học bị cấm vượt qua. Vì những nguyên do đầy triết lý, tất nhiên, nhưng hễ ai từng thấy hàng dài xe đỗ sóng đôi bên ngoài toà nhà vào một buổi sáng trong tuần có thể sẽ dự trù một kế hoạch hành động thực tế hơn—cụ thể là, việc giới hạn đỗ xe trên đường khiến người ta không thể chào nhau thành cả quãng dài được. Nghĩ như thế thì trường Jewish Montessori đã từng chiếm được trái tim Kate! Cô sẽ không phải chịu đựng chiều ra kinh khủng ấy, tiếng khóc của chính cô khi cô tắt đèn tín hiệu khẩn cấp và chậm rãi tiến ra đường.

Nhưng cô đã thực sự bị ngôi trường Jewish Montessori làm cho mê mẩn, mê không sao cưỡng lại nổi, thậm chí chẳng buồn bận tâm (đúng là thế) những câu chuyện ghê rợn về Cánh cửa. Ngay lập tức cô đã yêu mái trần vòm và các giếng trời, những bức tranh Frida Kahlo treo trên tường, những chiếc chân nến Shabbat mong manh, và cảm giác về sự mát mẻ và ngăn nắp ở khắp mọi nơi. Trong ngày cô tới thăm, cô đã ngồi trên một chiếc ghế vải xếp và quan sát, lòng tự hỏi khi lũ trẻ trật tự trải mấy tấm thảm nhỏ của chúng ra quanh phòng và rồi ổn định vào những nhiệm vụ riêng tư, thú vị và phức tạp của từng đứa. Cô thấy tim mình bắt đầu đập chậm lại, cảm thấy sự nhẹ nhõm khi cuối cùng cũng nhấn nút tắt tiếng trên cái TV đang liến thoắng không thôi. Cô thấy mới rõ ràng làm sao, rằng lẽ ra cô đã chẳng cần phải chịu đựng gánh nặng từ những căng thẳng và kém hiệu quả của chính bản thân mình trong suốt từng ấy năm, rằng suy nghĩ của cô đã có thể thanh thoát hơn, con đường tự nhiên của cô đã ít tắc nghẽn hơn—chỉ nếu như cha mẹ cô đã chọn trường khác cho cô. Chỉ nếu như họ đã cho cô những thứ này!

Nhưng ngôi trường đã không thấy chút ấn tượng tối thiểu nhất nào về Ondine. Cứ mỗi sáng thứ Bảy trong mười tuần liền, hai mẹ con lại rảo bước cùng mười tám ứng viên khác và trải qua một quá trình sàng lọc ròng rã, nghiêm ngặt dưới tên gọi lớp học Mẹ và Tôi. Kate sẽ toát mồ hôi ngay lập tức. Ondine sẽ chỉ đôi lần thể hiện sự hào hứng trong trò dùng thìa chuyển mấy hạt đậu lima từ một cái bát gỗ nhỏ sang cái bát gỗ lớn hơn tí chút. “Nhớ này con, đó là công việc của bạn ấy,” Kate sẽ vội nói thầm khi Ondine chuyển cho một đứa nhóc khác lọ thuốc nhỏ mắt. Các phụ huynh lẽ ra phải trông chừng nguyên trạng cho không gian thao tác của từng đứa nhóc, và cả đống vật dụng be bé kì cục này nữa—mấy cái kẹp gắp và khuôn làm bánh, ngay cả các mảnh xếp hình—cũng đều được xem như công việc.

Mười tuần tò mò lao động, và rồi thư từ chối gửi tới, trong phong bì bảy sắc cầu vồng. Kate đúng là đồ ngu—cô ngồi ngay xuống và viết lời cảm ơn tới vị hiệu trưởng có sức hấp dẫn chỉ ở mức nhạt nhoà và khá đáng sợ với hi vọng sẽ cải thiện cơ hội cho Ondine vào năm sau. Biết đâu sẽ có thêm một vài chỗ cho các bé gái da nâu? Cô chưa bao giờ ham hố đến vậy. “Con còn chẳng phải người Do Thái (Jewish),” mẹ cô nói, không một chút khoan nhượng. Bạn cô, Hilary, một người bỏ giữa chừng lớp Mẹ và Tôi Montessori, thừa nhận rằng cảm thấy nhẹ nhõm thay cho cô. “Không phải có vẻ như, cậu thấy đấy, hơi robot hay sao? Hay là quá Dickens(3)? Giống như trẻ con ở trong nhà máy đánh giày.” Cô làm Kate nhớ về chiếc xe của hiệu trưởng, họ thấy đỗ trong chỗ đặc biệt dành riêng cho nó vào một sáng thứ Bảy. “Không vui hay sao khi cậu sẽ không chi tiền của mình cho con Porsche màu mận chín ấy?”

Kate không vui. Và cô giữ ý kiến cá nhân của mình, bất chấp lời khuyên của mọi người rằng đừng nên thế. Tuần này nối tuần nọ, cô và con của cô nộp mình cho đôi mắt thẩm định chuyên nghiệp của hiệu trưởng, và, sau tất cả những nỗ lực nghiêm túc của họ, họ vẫn thấy mình trong danh sách đợi. Lỗ hổng hay sự thiếu hụt nào cô thấy được ở họ mà họ lại không thể tự thấy được ở chính bản thân mình nhỉ? Mặc dù Kate nói về kinh nghiệm tấu hài, theo lối tự giễu nhại bản thân, cô có thể thấy phải nghe cô hỏi câu này thì mọi người không được thoải mái cho lắm, vậy là cô học cách thực hiện thật lặng lẽ, khi cô tự mình lái xe quanh thành phố với Ondine say ngủ trên ghế sau.

 

“Con muốn xin con hươu cao cổ mẹ vào dịp Giáng Sinh được không ạ?” Ruthie hỏi ở đoạn cuối của cái quãng nó áng chừng là năm phút. Nó dừng lại ở khúc dưới cùng của những bậc dẫn lên ngôi nhà lớn màu xanh lục và đợi câu trả lời. Nó muốn một câu trả lời, nhưng nó cũng muốn tập múa ballet, thế là nó bước nhiều bước rất nhỏ và nhanh hết tiến lại lùi, tiến lại lùi, như một bông tuyết “Kẹp hạt dẻ” trong đôi giày múa.

“Mọi người đang cố xuống cầu thang,” mẹ nó nói. “Con có muốn ngồi bô không? Mẹ con mình đi tìm bô nào.”

“Con đang múa!” Ruthie nói. “Mẹ đang làm tổn thương con.”

“Con phải đi ngồi bô,” mẹ nó nói. “Mẹ biết mà. Vầ bố đã dặn rồi: không được có tai nạn nào nữa.” Nhưng Ruthie thấy mẹ nó không thực sự tập trung—mẹ đang nhìn lên tấm bản đồ lớn của lễ hội Elves’ Faire và tìm xem có gì hay ho không—và Ruthie sẽ giữ cảm giác về bông tuyết lắc lư trong lòng mình thật lâu đến chừng nào nó muốn. Như vậy có nghĩa là nó thắng, vì khi nó không ngồi bô, những chuyện bình thường như đi bộ hay đứng tại chỗ đều trở nên thú vị hơn. Nó đang có cả một cuộc phiêu lưu.

“Ở đây nói là có một căn phòng búp bê. Nghe hay đấy nhỉ? Một con phòng đặc biệt chứa đầy búp bê các tiên.” Mẹ nó cúi gần hơn vào tấm bản đồ và rồi nhìn quanh cảnh thật, cố gắng hiểu cho khớp. “Mẹ nghĩ nó ở dưới đó.” Mẹ chỉ bằng bàn tay không nắm tay Ruthie.

Ruthie muốn nhìn xem mẹ chỉ vào chỗ nào, nhưng thay vào đó nó lại thấy một người đàn ông. Ông này đang đứng ở chân đồi và nhìn lên phía nó. Ông ấy không phải là ông hạt dẻ, và ông ấy cũng không có vương miện bằng vàng như loại mà vua hay đội, hay chiếc mũ nhọn của một phù thuỷ. Nó đã đừng thấy Ông già Noel ở gian hàng xổ số, và không phải là ông này. Đây không phải là một ông bố hay một thầy giáo hay một ông hàng xóm nào cả. Ông ấy không cười như ông da nâu bán kem trong xe đẩy. Ông này cao và gầy, có một cái áo choàng khoác quanh cổ không phải màu màu đen hay màu xanh lam mà là màu gì đó ở giữa, màu giữa-lưng-chừng-đêm, và ông ấy kéo chiếc mũ trùm đầu ra và nhìn nó như thể ông ấy biết nó.

“Con có thấy mẹ đang chỉ vào đâu không?” Kate hỏi, và đột ngột ngồi xuống và nhìn chăm chú vào mặt Ruthie. Trên gương mặt con bé phảng phất chút gì đó của một cú trễ, cô nhận ra, một cái nhìn thấp thỏm xa xăm. Có thể là do thiếu ngủ: họ vẫn chưa thể đi ngủ sớm theo giờ thích hợp mà bác sĩ Weissbluth nghiêm túc yêu cầu. Đọc thì thấy đủ đơn giản, nhưng thực tế thì khác! Đêm nào đồng hồ cũng kêu tích tắc—qua bữa tối, ăn tráng miệng, đi tắm, đọc sách, tiếng rít lên bất đắc dĩ cuối cùng trong ngày—rồi, với những thú tiêu khiển, sa ngã và mâu thuẫn rất đa dạng,Kate tự hỏi liệu tháo bom trong thời gian cho phép thì có dễ hơn không. Và thế là Ruthie thường bị mệt. Điều này giải thích rất hợp lý cho sự phản ứng chậm trễ, sự ương bướng, những cơn bộc phát sợ hãi, phát xấu hổ. Biết đấu còn làm cả tật mút tay mạnh thêm nữa? Cũng hoàn toàn có thể là Kate đang tự đánh lừa bản thân, lập luận đã sai ở đâu đó.

Tối nay cô sẽ lên mạng nghiên cứu một chút.

Chậm rãi, Kate đứng dậy và kéo tay Ruthie. Họ quay trở lại dưới chân đồi và đi kiếm phòng búp bê. Họ đang có một ngày đặc biệt, chỉ hai mẹ con với nhau. Cả hai đều thích cảm giác gắn kết với nhau bằng cái nắm tay nhưng suy nghĩ của họ thì rẽ nhánh mỗi người một hướng. Giống như chuyện cảm thấy buồn ngủ bên cạnh nhau, họ đôi lần vẫn vậy, bất chấp hướng dẫn của bác sĩ Weissbluth, cơ thể họ chạm vào nhau còn giấc mơ của họ thì riêng biệt đâu đó nhưng vẫn còn liên hệ. Cả hai đều thích cảm giác không biết ai là người dẫn dắt, liệu là người trưởng thành hay đứa bé con.

Nhưng Ruthie biết chẳng ai trong số cả hai là người dẫn dắt ngay lúc này. Người đàn ông khoác áo choàng mới là người dẫn dắt, và ông ấy muốn họ xuống chân đồi. Nó nhận ra qua cách ông ấy nhìn nó—tử tế, nhưng cũng như thể ông ấy có thể hơi bực tức một chút. Họ phải đi nhanh lên. Mau mau! Không phân tâm nữa. Đây là luật. Họ bước xuống bãi cỏ lớn, đi qua bàn vẽ mặt và vài nghệ sĩ tung hứng và mấy chú ong mật nhảy múa phía sau tấm kính, và Ruthie thấy trên gương mặt người đàn ông rằng mẹ nó chẳng hề phải tới làm gì. Chỉ có nó mà thôi.

Nó có cảm giác thập thò rằng người đàn ông đang giữ một món quà bên dưới tấm áo choàng. Đó hẳn phải là một ngạc nhiên. Một ngạc nhiên bé nhỏ và tinh tế, như một cái hộp nhạc chẳng hạn, nhưng khi mở ra thì nó cứ đi xuống đi xuống mãi, như một cái hang thỏ, và bên trong có mọi thứ—mọi thứ—mà nó từng muốn: hình dán, đá trang sức, sách, búp bê, giày cao gót, thú cưng, ruy băng, ví, giày múa, đồ trang điểm. Thậm chí còn chẳng bắt đầu mà đếm nổi! Một phần của món quà là nó không hề phải chọn. Quá nhiều thứ đẹp đẽ và đặc biệt, và nó muốn tất cả—nó sẽ có tất cả—và sẽ không còn cảm giác mãnh liệt mà nó có khi nó ở trong cửa hàng Target và thèm bộ búp bê Barbie Island Princess Styling Head đến mức mà nó nghĩ nó sẽ nôn ra mất. Đó là kiểu ngạc nhiên như thế. Người đàn ông đang giữ một món quà cho nó, và khi nó mở ra nó sẽ là người biết ơn nhất, may mắn nhất trên thế giới này. Cũng là người xinh đẹp nhất nữa. Không phải giả vờ—mà là thật. Người đàn ông là bạn của bố mẹ nó, và ông ấy mang món quà cho nó y như cách mà bạn bè bố mẹ nó ở New York hoặc Canada thi thoảng vẫn làm. Nó muốn ông ấy như thế, nó muốn ông ấy là ai đó trông quen thuộc. Nó hỏi, “Mẹ ơi, chúng ta có biết ông kia không ạ?,” và mẹ nó nói, “Cái ông đeo đàn guitar sau lưng á?” Nhưng mẹ đã sai, mẹ phá hỏng rồi: ông ấy không hề có cái guitar nào.

Ruthie không thấy người mà mẹ nó đang nói tới, hay không rõ tại sao giọng mẹ trở nên rất khẽ. “Ôi, chà chà,” mẹ nó thì thầm. “Đó là John C. Reily. Hài thật. Mấy đứa con anh ta hẳn là cũng ở đây.” Rồi mẹ thở dài và nói, “Mẹ cá là chúng ở đây.” Mẹ nhìn Ruthie một cách kì lạ. “Con biết chú John C. Reilly chứ?”

“Chú John C. Reilly là ai ạ?” Ruthie hỏi, nhưng chỉ một phần nhỏ của nó là đang nói chuyện với mẹ nó; phần còn lại của nó đang nghĩ về điều ngạc nhiên. Người đàn ông đã quay đầu đi hướng khác, và nó chỉ còn thấy được màu màn đêm trên tấm áo choàng của ông ấy. Nó thấy có thứ gì đó chuyển động phía dưới tấm áo choàng, như một con chuột nhỏ bò qua vai ông ấy và cố gắng thoát ra ngoài. Nó sợ rằng ông ấy có thể sẽ không tặng quà cho nó nữa. Nó đoan chắc rằng mẹ nó đã làm hỏng chuyện mất rồi.

“Một người trong phim ấy mà. Phim cho người lớn.” Kate rất thích phim mà anh ta đóng vai người cảnh sát cao ráo, u buồn; anh ta thật quá ư đáng yêu trong bộ phim ấy. Anh ta độc thoại với chính mình, lái xe vòng vòng cả ngày dưới cơn mưa. Bạn thật chỉ muốn trao cho anh ta một cái khăn và ôm lấy anh ta. Và dù cho có những tình tiết trong phim không hay cho lắm—người phụ nữ da đen bị còng tay, béo phì và la hét, và cậu nhóc phải đề nghị hát một khúc rap ngắn trang trọng ra sao—thì cũng không phải lỗi của John C. Reilly. Anh ta chỉ làm phần việc của mình. Đóng vai của mình. Ngay cả những cảnh vụng trộm ấy cũng đã được ghi hình với những gì tốt nhất của anh ta. Vẻ rạng rỡ khiêm nhường của anh ta! Phần trán dô lồi lõm của anh ta. Trong cái đầu to của anh ta chứa đầy những suy nghĩ tốt lành và những trò đùa ngớ ngẩn. Thử tưởng tượng ngồi cạnh anh ta trong buổi họp phụ huynh, hay là ở Đêm Trở-lại-Trường(4) xem! Cô đã bỏ lỡ mất cơ hội của mình. Giờ thì anh ta và cây đàn guitar của anh ta đang dần biến mất vào hàng cây thông phía xa bãi đỗ xe.

Kate thở dài. “Bố và mẹ hâm mộ chú ấy lắm. Chú ấy có những lựa chọn thực sự thú vị.”

“Mẹ!” Ruthie khóc. “Mẹ đừng nói nữa. Đừng nói nữa!” Nó rụt tay lại và bắt tréo tay chước ngực. “Con đang rất giận mẹ.”

Vì một bé gái khác, không phải nó, sẽ có được điều ngạc nhiên. Người đàn ông không buồn nhìn nó nữa. Ông ta trước đó đã rất thích nó, nhưng ông ta đổi ý rồi. Mẹ nó không hề thấy ông ta—mẹ chỉ thấy người mà mẹ muốn thấy—và giờ thì mọi thứ đã bị phá huỷ tan tành. Sẽ chẳng ích gì nữa. “Mẹ làm con tức quá đi mất,” Ruthie nói với mẹ. “Mẹ cố tình làm như thế! Con sẽ đá mẹ.” Nó nhe hết cả răng ra.

“Mình mới làm gì cơ?” mẹ nó hỏi. “Chuyện gì vừa xảy ra vậy?” Cô đang hỏi một người bạn tưởng tượng cũng là người lớn đang đứng cạnh cô, chứ không phải Ruthie. Cô chẳng có gì để nói với Ruthie cả; cô nắm lấy cổ tay con bé rồi hai mẹ con cùng đi nhanh xuống dưới đồi, cố gắng đưa cả hai thoát khỏi điều gì đó, khỏi tâm trạng tồi tệ của Ruthie, có lẽ vậy, còn Ruthie thì sắp khóc tới nơi, bởi nó đang trải qua một ngày chẳng tốt lành gì, cổ tay nó đang bị xiết rất đau, không có chuyện gì theo ý nó cả, nhưng như khi mẹ nó kéo nó qua cửa một nhà kho nhỏ, nó lại thấy người đàn ông với điều ngạc nhiên. Ông ta đã quay lại nhìn nó, giờ thì gần hơn rất nhiều, và khi ông ta với tay ra để chạm vào nó, nó thấy ông ta có móng tay dài vàng khè và, bên dưới tấm áo choàng, ông ta được làm từ rơm. Ông ta chậm rãi gật đầu với nó. Chuyện rồi sẽ ổn cả thôi.

 

Trong nhà kho, Kate hít một hơi. Nó thực sự có tác dụng. Không gì bằng một chút tác động và tốc độ! Ruthie đã được kéo thoát khỏi đám mây tăm tối quái quỷ nào đó mà nó khơi gợi trên đầu. Kate sẽ phải thử thêm lần nữa. Căn phòng búp bê, đèn Giáng Sinh trang hoàng khắp nơi, toả sáng lấp lánh đầy hân hoan quanh cô. Những mảnh vải tuyn và sợi bông treo đầy trên xà nhà. Khi mắt cô quen với sự nhập nhèm trong nhà kho và thứ ánh sáng lấp lánh ở đó, cô thấy búp bê ở khắp mọi nơi, đủ mọi kích thước, toạ trên những chiếc tổ bện bằng lá cây, đung đưa từ những cành cây bạch dương và say ngủ trong những cái nôi làm bằng vỏ gỗ óc chó bóng loáng. Giống như lũ thú gỗ, chúng có vẻ đều là họ hàng có cùng một tổ tiên đáng yêu và dịu dàng, một tâm hồn có môi mỏng, mắt to và gần như không có mũi, thêm cả mái tóc dày xoăn tít. Chúng thật đáng yêu, không sao cưỡng lại nổi; cô muốn ôm ghì lấy từng con một và ve vuốt những đôi giày nỉ đem lại cảm giác rất gọn gàng ở chân chúng. Mấy tờ nhãn bằng bìa các tông treo toòng teeng trên cổ tay hoặc cổ chân chúng, đề tên người làm, những bà mẹ Waldorf khéo léo và trung thành, những người cũng biết cả, người ta đồn rằng, xe sợi! Trên những khung cửi bằng gỗ thứ thiệt. Thật đúng là một kĩ năng thuần thục, nhẹ nhàng và màu nhiệm. Liệu chăng đó là thứ cô thiếu—một bộ khung cửi? Cô liếc xuống Ruthie—nó có đắm đuối không? có hạnh phúc không?—và rồi băn khoăn nhìn quanh căn phòng với các sắc thái ngọt ngào của những khuôn mặt mọng sữa thò ra từ những chiếc mũ tiên tí hin hoặc hàng nùi tóc quý phái. Cầu trời ở đó có vài con búp bê nâu! cô nghĩ. Và cầu trời cho chúng dễ thương. Mặc những trang phục cổ tích lấp lánh, mỏng manh như những con búp bê khác, và đừng mặc quần áo yếm hay đội mũ vành trùm đầu hay mặc váy làm từ vải trúc bâu. Một nàng tiên cá da nâu sẽ tuyệt phải biết. Một nàng Ondine da nâu. Cô xiết tay con gái mình trong lời xin lỗi bất lực, thậm chí cho cả lễ hội Elves’ Faire, nơi mà mọi thứ đều vô cùng cuốn hút, đầy nhận thức và có thể phân huỷ sinh học, Kate lại thêm lần nữa phơi mình ra trước những điều độc hại.

Nhưng Ruthie còn chẳng buồn đoái hoài tới mấy con búp bê, bởi vì bây giờ nó đang mắc tè gần chết. Nó cũng chẳng tìm thấy con hươu cao cổ của nó đâu. Con hươu cao cổ không còn ở dưới cánh tay nó, nó đã kẹp ở đó mà. Con hươu cao cổ con của nó! Chắc hẳn đã bị tuột mất ở đâu đó. Nhưng mà ở đâu cơ chứ? Có hàng sa số những chỗ khả dĩ. Ruthie nhìn xuống sàn nhà kho, phủ đầy từng đốm cỏ. Không phải chỗ này. Nó cảm thấy bụng bắt đầu đau. Đó là món đồ đặc biệt của nó từ lễ hội Elves’ Faire. Quà của mẹ nó. Có thể là món quà cuối cùng của mẹ, ai mà biết được, Nếu con không thể để tâm tới món đồ đặc biệt của mình, thì mẹ sẽ không thể nào mà tặng con những món đồ đặc biệt được nữa đâu. Nhưng nó không cần những món đồ đặc biệt nữa! Nó sẽ được nhận một điều ngạc nhiên, thứ mà nó càng nghĩ tới thì sẽ càng lớn hơn lên, bởi nó có cảm giác rằng người đàn ông ấy có khả năng làm những việc mà mẹ nó không thể, đại để như cho nó sống trông một toà lâu đài đồng thời cũng là một trang trại, nơi nó có thể sống trong một toà tháp xinh đẹp và có một con mèo nhỏ và xây một ngôi nhà rồi cất đầy đồ chơi trong đó. Nó cũng sẽ có năm—không, ý nó là mười—con bướm cưng.

Người đàn ông đang đứng bên ngoài nhà kho, chờ đợi nó, và biết đâu nếu nó không ra sớm, ông ấy sẽ bước vào và tìm gặp nó. Ruthie muốn chạy và hét lên; nó không thể phân định được mình đang hạnh phúc hay đang gặp phải nỗi sợ chưa từng có. “Khôngggggggg!” nó hét lên khi bố nó bế nó lộn ngược lên và cù nó, nhưng ngay khi bố dừng thì nó lại khóc, “Nữa, nữa!” Nó luôn muốn làm như thế nhiều hơn, còn bố mẹ nó thì luôn luôn dừng quá sớm.

Người đàn ông mặc áo choàng sẽ không dừng lại. Những con búp bê trong căn phòng này đều là trẻ con, những đứa trẻ bị ông ấy biến thành búp bê. Ruthie có thể giúp ông ấy—nó sẽ về phe ông ấy. Nó sẽ nói với bọn trẻ, “Tao sẽ nhốt chúng mày vào tù. Khoá lại, khoá lại! Chúng mày ở tù. Còn tao thì có chìa khoá. Chúng mày không bao giờ ra được trừ phi tao bảo chúng mày.” Bạn bè nó ở trường, cô Sara dạy ballet của nó, các bạn Lark và Chloe thân nhất của nó, cô Tanya dạy thể dục của nó, mẹ và bố nó, nhưng người nó yêu mến, những người đặc biệt nhất của nó, tất cả đều ngồi duỗi thẳng chân và mở to mắt, và chẳng ai có thể nhìn thấy họ ngoại trừ nó. Nó sẽ ở trên sân khấu bắt chước Dorothy, còn họ sẽ nhìn ngắm nó. Nó sẽ diễn toàn bộ vở “Phù thuỷ xứ Oz”(5) cho họ xem từ đầu, làm tóc thật mượt và tết tóc cho thật giống Dorothy. Đó sẽ là niềm ngạc nhiên lớn trong đời họ!

 

Kate biết chắc chắn phải có một con búp bê nâu ở đâu đó trong nhà kho, và rằng nó có thể sẽ hoàn hảo. Nếu ai đó có thể làm ra con búp bê mà cô đang tìm kiếm, thì đó chính là những bà mẹ Waldorf này: thứ gì đó có thể mộng mơ và có thể chạm tới, thứ gì đó cô có thể tặng cho con mình để nó ôm ấp, thứ gì đó con của cô sẽ yêu thích đặc biệt, thay vì cho có. Tâm niệm như thế, cô đã tìm con búp bê này ngay từ giây phút Ondine ra đời, một trăm ba mươi đô không phải là quá đắt. Mức giá ấy cho mỗi con búp bê trong nhà kho này, cô vừa mới phát hiện ra; ở mặt sau mỗi tờ nhãn các tông là một con số viết bằng bút chì, cô thảnh thơi làm mấy phép tính trong đầu: ngày hôm nay đã tiêu tốn bao nhiêu tiền rồi (mười bảy đô cho con hươu cao cổ, tám đô cho ly sinh tố, hai đô cho vé xổ số) và cho tới cuối ngày thì còn có thể tốn thêm bao nhiêu. Bởi, nếu cô tìm thấy con búp bê, sẽ thật tuyệt vời khi có thêm cái đợt màu trắng mà cô vẫn luôn nghĩ tới, một cái đợt màu trắng cô có thể mua ở Ikea với giá rẻ hơn nhiều so với một cái tương tự ở Pottery Barn Kids, mà cũng đẹp tương đương, một cái đợt cô có thể treo ở một chỗ vui tươi trong căn phòng màu vàng của Ondine mà từ đó đám búp bê sẽ nhìn xuống con gái cô bằng ánh mắt trìu mến và đọc câu thần chú hộ vệ. Tổng cộng, với con búp bê và con hươu cao cổ, ly sinh tố và cái đợt, ngày hôm nay có thể tốn gần hai trăm đô, nhưng ai mà lại chớp mắt cơ chứ? Cô đang nghĩ về con của mình cơ mà.

“Thưa quý bà và quý ông!” Ruthie sẽ nói. “Xin chào mừng tới buổi diễn!” Người đàn ông mặc áo choàng sẽ kéo tấm rèm lên và mọi người sẽ vô cùng ngạc nhiên trước điều họ thấy tới mức mà họ đưa tay lên miệng và hò hét.

Nhưng điều ngạc nhiên của riêng Ruthie đã biến thành một thứ khác mất rồi, không còn là một bí mật đẹp đẽ nữa mà chỉ còn là một thứ mà nó biết sẽ xảy ra, bất kể nó có muốn hay không, giống như nó biết rằng nó sẽ gặp một tai nạn trong nhà kho và sẽ bị mất con hươu cao cổ còn mẹ nó sẽ cứ mải nhìn vào mấy cái nhãn treo trên chân của bọn búp bê, nhìn gần cứ như là mẹ đang đọc thông báo gì quan trọng lắm, nhìn gần và không hề thấy vũng nước đang lớn dần trên sàn nhà. Khi điều đó xảy ra, mẹ nó sẽ nắm tay nó—mẹ luôn nắm, kéo và xiết tay nó—điều này là bất khả, thực vậy, vì Ruthie, cô bé thông minh, cô bé tốt bụng, vũ công ballet, kẻ mút ngón tay, Dorothy dũng cảm và sáng ngời, đã đi mất rồi.


(1) ND: sự kiện lễ hội/hội chợ hoá trang theo phong cách cổ tích cho trẻ em của trường tiểu học Linden Waldorf, Nashville, Tennessee, Mỹ.

(2) ND: mắt Thần là một linh vật được dệt từ sợi len lên hai thanh gỗ bắt tréo nhau.

(3) ND: Charles Dickens (1812-1870), nhà văn nổi tiếng người Anh.

(4) ND: sự kiện được tổ chức trong một, hai ngày trước khi tuần lễ đầu tiên của năm học bắt đầu.

(5) ND: bộ phim nổi tiếng của đạo diễn Victor Fleming, Dorothy là nhân vật chính trong bộ phim này. Tác phẩm được dàn dựng thành rất nhiều phiên bản.

Copyright © 2010 by Sara Shun-lien Bynum.

ThKh chuyển ngữ không có sự đồng ý của tác giả.

———-

ThKh – 2019

ThKh là một bút danh khác của ChuKim, một người viết tự do, sống và yêu tại một ngôi làng mang tên thành phố. Nếu có thể, hãy ủng hộ và khích lệ bằng cách đọc và chia sẻ những gì anh viết trong khả năng của bạn. Xin cảm ơn.

– natchukim.cogaihu@gmail.com –

PS: Tất cả nội dung trong blog này đều được tuyên bố quyền sở hữu và quyền tác giả về nội dung, ngoại trừ những bài sưu tầm có đề rõ. Mọi trích dẫn, đăng lại, vui lòng ghi rõ nguồn.