Một con chuột triết gia

Sau nhiều năm đằng đẵng tưởng chừng như vô tận của quá trình tiến hoá, cuối cùng loài chuột cũng đã có một con chuột triết gia. Tất nhiên, điều làm nên sự khác biệt giữa nó và những con chuột khác cũng na ná như sự khác biệt giữa những con người triết gia và những con người bình thường. Lần đầu tiên, nhờ có con chuột triết gia mà thế giới loài chuột biết đến cảm giác vỡ oà trước mặt trời chân lý; những khoảnh khắc trầm ngâm đến ngu xuẩn trước những câu hỏi theo kiểu ‘chuột là gì?’, ‘đời chuột vì điều gì?’, hay ‘chuột?’; niềm ham thích được chạm tới một cuộc sống cao cả hơn, mãnh liệt hơn. Nói chung, kể từ ngày con chuột triết gia xuất hiện, loài chuột cứ như thể đã thoát thai hoàn cốt, chúng đã giác ngộ được cái chính mình, đã biết dừng lại và suy tư, nên chúng tồn tại.

Con chuột triết gia cũng không biết tại sao nó lại trở thành con chuột triết gia, chỉ biết ngay khi vừa có nhận thức, nó đã mang đầy đủ phẩm chất và năng lực của một con chuột triết gia. Khi suy nghĩ về điều này, nó đồ rằng do đời sống ở đô thị loài người với đầy rẫy những triết lý được truyền tải qua những phương tiện lưu giữ và biểu đạt kiến thức của loài người mà nhiều không đếm xuể các thế hệ trong dòng dõi của nó đã vô tình thẩm thấu từ lúc nào không biết, và bùm, thời gian chỉ chờ cho thời cơ chín muồi là đời chuột sang trang.

Ban đầu, con chuột triết gia đảm nhiệm vai trò của một bậc thầy. Nó thu thập môn đệ, nhưng nó không dạy những con chuột môn đệ ấy bất kì điều gì, nó chỉ làm cho chúng biết suy nghĩ. Thâm sâu đến vậy là cùng. Và thế là ánh sáng của tư duy cứ thế lan toả trong thế giới loài chuột. Nhưng phàm ở đời, hễ cứ đơn giản như thế thì không có chuyện gì mà nói cả. Những con chuột vốn dĩ đã ngu muội và mọi rợ suốt chiều dài lịch sử của giống loài mình. Chúng bệ rạc, tuỳ tiện, bản năng, yếu ớt, kém cỏi không thể tưởng tượng nổi, dẫu cho đã trải qua và chứng kiến tiến trình phát triền nền văn minh của loài người, cho đến giờ phút này chúng mới chỉ sản sinh ra được duy nhất một con chuột triết gia.

Vậy là con chuột triết gia nay phải gánh thêm trọng trách của một con chuột chúa tể. Nó bừng sáng để khai mở kỉ nguyên vĩ đại của loài chuột, kỉ nguyên chuột triết gia. Nó hô hào, nó hiệu triệu, nó truyền cảm hứng, nó truyền lệnh, nó thị phạm, nó dẫn dắt loài chuột từng chút từng chút đi qua đêm trường tăm tối. Không, nó làm gì đã đi qua được đêm trường tăm tối, nó mới chỉ đang lần mò bước đi trong màn đêm đen kịt, nhưng chỉ nội việc sử dụng được phép ẩn dụ và làm cho những con dân của nó phấn khích với hình ảnh ví von ấy đã là một chỉ dấu vĩ đại cho sự thăng tiến trong những tâm hồn chuột.

Tất cả mọi việc diễn ra trong một năm rưỡi.

Một ngày, khi đã đi qua ba phần tư đời chuột, con chuột triết gia bình tâm nhìn lại những gì mà nó đã làm. Là một bậc thầy, một chúa tể, hiển nhiên là con chuột triết gia có mọi đặc quyền và sự cung phụng từ những con chuột khác mà một con chuột có thể có. Nó xứng đáng với những điều ấy. Nó nhìn quanh, thấy giống loài của nó đã có sự chuyển mình, rồi đây, có thể là hàng ngàn, hàng vạn thế hệ nữa trôi qua, sẽ tới một ngày có những con chuột với đầy đủ khả năng để nhìn lại và ghi dấu điểm bước ngoặt của loài chuột với sự hiện diện của con chuột triết gia là nó.

Con chuột triết gia cho phép mình trở lại làm một con chuột triết gia vẹn nguyên và hoàn mỹ. Nó muốn được trở về với bản thể sơ khai và trong sáng nhất mà nó vốn có, để được thêm lần nữa vươn tới chân lý của đời chuột, lần này là cho riêng mình nó, chỉ riêng mình nó mà thôi.

Loài chuột. Tại sao lại là loài chuột? Loài chuột với loài người. Tại sao lại là với loài người? Nó tự hỏi.

Con chuột triết gia bắt đầu với suy tưởng về những giống loài khác sống quanh loài người. Mèo (nó nghĩ tới mèo đầu tiên), chó (sau đó là tới chó), trâu, bò, gà, vịt, ngan, lợn, ngựa, dê, ruồi, muỗi, kiến, gián, cá, tôm, chim, ong, bướm. Rồi nó thả mình vào dòng tư duy trừu tượng theo lối của một triết gia, hằng mong tìm về triết lý sâu thẳm của sự tồn tại.

Một ngày, hai ngày, ba ngày, rồi nhiều ngày trôi qua. Bỗng nhiên, một tia sáng loé lên trong tâm trí con chuột triết gia khi nó đang lặng ngắm cảnh hoàng hôn từ trên đỉnh cao của đời chuột. Nhân tạo. Câu trả lời chính là nhân tạo. Mọi sự nằm ở ranh giới giữa nhân tạo và phi nhân tạo, trên ranh giới ấy, loài chuột đã được lựa chọn. Chúng có những năng lực sinh học phi thường mà những loài quá bé nhỏ không thể có cho sự thoát thai; lại thiếu đi những ưu điểm đem lại lợi ích sinh tồn sát sườn cho đời sống loài người. Loài người đã bỏ qua loài chuột. Loài người không ngu chuột để trị, không biến toàn bộ giống loài của chúng trở thành một giống loài nhân tạo như những loài vật hàng ngày ở cạnh họ để mua vui hay làm nô lệ, hoặc bi ai hơn là làm nguồn cung cấp thức ăn, cũng không cố công huỷ diệt loài chuột mà để mặc chúng tồn tại như một loài sinh vật nhỏ bé rác rưởi. Loài người đơn giản chấp nhận sự hiện diện song song của loài chuột với mình, chỉ thi thoảng đưa bàn tay đầy quyền lực của họ ra và chọn lấy vài con chuột, cố gắng biến chúng trở thành những con chuột siêu đẳng, họ dành cho loài chuột một tình cảm đặc biệt mà những loài vật khác không bao giờ có được.

Con chuột triết gia bật khóc. Giống loài của nó đã ăn những thức ăn nhân tạo, ngủ trong những ngõ ngách nhân tạo, sinh con đẻ cái trong những bối cảnh nhân tạo, sống trong một thế giới nhân tạo với ranh giới giữa sự sống và cái chết đầy mong manh mà chúng chưa bao giờ biết được tại sao. Chúng không trở thành một loài vật nhân tạo chỉ vì chúng may mắn vượt qua được cuộc chọn lọc nhân tạo. Không có gì là chọn lọc tự nhiên ở đây cả. Không có gì là huyền diệu trong sự tồn tại của nó cả. Giọt nước mắt cuốn theo cả đời chuột lăn dài trên khuôn mặt con chuột triết gia.

Lại thêm lần nữa, con chuột triết gia ngoái đầu nhìn lại những gì đã trải qua. Nó không ân hận vì những gì mình đã làm. Lịch sử loài chuột, hay biết đâu cả lịch sử loài người, dám lắm chứ, đều sẽ dấn bước để trở thành những dạng sống không ngừng thay đổi, và sẽ ghi dấu di sản mà nó đã để lại cho loài chuột. Với điều kiện loài chuột tiếp tục vượt qua được cuộc chọn lọc nhân tạo mà chúng sẽ phải không ngừng tranh đấu.

Con chuột triết gia quyết định lên đường, nó nhẩm tính thời gian của mình không còn nhiều, nó muốn đi thật xa, đi đến những nơi không có dấu chân loài người, nó muốn một lần được sống và chiêm nghiệm về một thế giới phi nhân tạo, một thế giới tự nhiên như bản thể của tạo hoá, để nó có thể cảm nhận niềm hạnh phúc vui sống mà cuộc đời nhân tạo của nó chưa từng được nếm trải.

Trước khi nó bỏ đi, những con chuột khác hỏi nó, ‘Thưa thầy, thầy đi đâu? Chúng tôi biết phải làm gì khi thiếu thầy đây?’ Con chuột triết gia kể cho những con chuột ấy một câu chuyện cuối cùng, câu chuyện về một kiếp sống khác mà mỗi con chuột đều xứng đáng có được nếu như chúng có thể trân quý hết mình từng khoảnh khắc của đời chuột, sống với niềm khát khao và lòng dũng cảm vô bờ bến mà chúng chưa bao giờ hình dung nổi về bản thân mình. Nói đoạn con chuột triết gia co rúm người lại rồi bắn vọt đi.

———-

ChuKim – 2019

ChuKim là bút danh của một người viết tự do, sống và yêu tại một ngôi làng mang tên thành phố. Nếu có thể, hãy ủng hộ và khích lệ bằng cách đọc và chia sẻ những gì anh viết trong khả năng của bạn. Xin cảm ơn.

– natchukim.cogaihu@gmail.com –

PS: Tất cả nội dung trong blog này đều được tuyên bố quyền sở hữu và quyền tác giả về nội dung, ngoại trừ những bài sưu tầm có đề rõ. Mọi trích dẫn, đăng lại, vui lòng ghi rõ nguồn.

Truyện ngắn: Đứa trẻ – Salvatore Scibona

Salvatore Scibona (1975-) là nhà văn người Mỹ. Ông được biết đến qua các tiểu luận, truyện ngắn cùng hai tiểu thuyết The end (2008) và The volunteer (2019). Hiện ông là giám đốc quỹ Sue Ann và John Weinberg của trung tâm Cullman tại thư viện New York Public cho các học giả và cây viết.   

Salvatore Scibona (Grafilu - newyorker.com)

Tranh: Grafilu – newyorker.com

‘Đứa trẻ’ (The kid) là truyện ngắn của Salvatore Scibona được đăng trong tuyển tập 20 under 40 (2010) của tạp chí The New Yorker. 


Đứa trẻ

 

Thằng bé mặc cái áo khoác parka đen, đội mũ trượt tuyết nhìn khá hợp, quần jean, giày sneaker; trông khoảng năm tuổi; và nó đang khóc.

Nó đứng ở Cổng C3, sân bay Hamburg-Fuhlsbüttel, hai ống tay áo lủng lẳng bên hông. Nó vừa nói vừa nức nở—không gào toáng lên hay van lơn, chỉ nói chuyện với hết người tiếp viên hàng không này tới người tiếp viên hàng không khác—nhưng không ai có thể nhận ra nó đang nói thứ ngôn ngữ nào. Có vẻ như là, giông giống, tiếng Ba Lan. Thứ phương ngữ hỗn tạp của một thành phố từng chịu cảnh mười đế quốc khác nhau đã đi qua chiếm đóng trên đường chinh phục một vùng đất xa xăm nào đó.

Salvatore Scibona - The kid (Lorenzo Mattotti - newyorker.com)

Minh hoạ: Lorenzo Mattotti – newyorker.com

 

Một chuyến bay của hãng AirBaltic vừa nhả khách ở một cổng gần đó mới gần một giờ đồng hồ trước. Chuyến bay khởi hành từ Riga, có thể là thằng bé nói tiếng Latvia chăng. Nhưng khi thằng bé xuất hiện trước quầy thủ tục ở khu C3 thì chiếc máy bay đến từ Riga đã lại cất cánh khỏi phi trường và chẳng còn nhân viên nào của hãng AirBaltic có mặt ở cổng hay ở bất kì đâu khác trong khu sảnh. Thằng bé nhìn lên phía những người nhân viên phía sau quầy, diễn đạt chuyện của nó theo cách không ai hiểu nổi, trong khi hai trăm hành khách quan sát, chăm chú, chờ đợi chuyến bay Lufthansa 531 tới Amsterdam.

Rất có thể đó là tiếng Lithuania.

Không lâu sau đó thằng bé chẳng ừ hử gì nữa; nó chỉ chỉ trỏ về hướng đi Cổng C1 và C2. Nhưng người phụ trách của nửa tá nhân viên Lufthansa và các hành khách bắt đầu tìm đi khoang hút thuốc và phòng vệ sinh, còn người mà hệ thống loa sân bay réo gọi bằng tiếng Đức, thì cũng không thể tìm thấy ở bất kì đâu trong tầng dưới cùng của khu sảnh.

Je m’appelle Laurence. Comment t’appelles-tu?”

Ich heiße Elisabeth. Wie heißt du?”

Nhưng không ai có thể làm nó nói ra bất kì từ nào nghe giống một cái tên. Và vài người lớn quanh đó bắt đầu cho rằng họ gặng hỏi như thế chỉ tổ khiến thằng bé thêm căng thẳng. Cứ sau mỗi câu hỏi thì thằng bé lại ít phản ứng hơn.

Một y tá người Kazakhstan quỳ xuống bên cạnh thằng bé, vuốt tóc nó, nhưng nó vẫn cứ khóc lóc. Cái áo khoác của thằng bé chẳng vừa với nó chút nào: tay áo chẳng dài đủ tới cổ tay nó. Một chút bông lót thòi ra từ mấy chỗ rách trên mặt áo, ai đó đã cố vá lại bằng băng dính dán điện. Một nhân viên quầycủa hãng Lufthansa—người mà độ tuổi (quãng chừng sáu mươi) và kiểu tóc phồng to nổi bật có vẻ cho thấy bà ta là người chịu trách nhiệm—cố dùng tiếng Anh, tiếng Nga, và tiếng Hà Lan để moi được cái tên. Và rồi, với cô y tá Kazakhstan, dường như thằng bé biết họ đang hỏi tên nó; và, trong cơn ác mộng đang hiện hữu này, cái tên vẫn chưa được tiết lộ ấy chính là thứ duy nhất níu thằng bé vào mép bờ vực mà nó đã lỡ xảy chân. Nó cong cong một ngón tay hướng về phía vùng mê cung rộng lớn còn lại của sân bay, cứ như thể đang rà soát một sai lầm nào. Nó để cô y tá nắm bàn tay ướt đẫm của nó. Nó dẫn cô ấy cùng bà nhân viên quầy đi xuống chỗ hành lang đông người.

Một người Mỹ trẻ tuổi giới thiệu mình là là một nhân viên cấp cứu y tế hỏi, “Liệu thằng bé có muốn thở vào cái túi này không? Quieres hablar conmigo, hermano?”

Bà nhân viên quầy nhấn mạnh, “Không phải, nó là người Estländer(1).” Nhưng đó chỉ là đoán vậy thôi.

Loa nhắc đi nhắc lại lại bằng tiếng Anh, “Nhà ga số 1, một cháu nhỏ bị lạc và đã được giữ lại,” trong khi thằng bé lật đật đi theo, trông phi lý: một cơ thể được chế tạo để vận hành tự động, như thể nếu bạn tới đủ gần bạn sẽ nghe thấy tiếng tích tóc từ trong cơ thể ấy. Còn nữa, bên dưới cái mũ đội lệch, khuôn mặt nó trông đầy bất tuân, cứ liên hồi nháy mắt và sụt sịt mũi. Ngực ưỡn ra trong cái áo khoác nhỏ. Cô y tá cố cởi khoá áo cho nó. Cô nghĩ hẳn thằng bé phải thấy nóng khủng khiếp. Nhưng nó vặn người né tránh khi cô đụng vào. Không thể tin nổi là cái đầu nó lại chứa được nhiều nước đến thế; nó đã khóc lâu lắm rồi mà không uống miếng nước nào. Cô y tá và bà nhân viên quầy đưa nó vào phòng vệ sinh nữ để lấy cho nó vài tờ khăn giấy.

Khi họ trở ra, nó chẳng cho ai nắm tay nó nữa. Nó rụt tay lại khi họ cố làm vậy, và chỉ về hướng này, rồi hướng kia, cho đến khi họ bắt đầu nhận ra nó không hề tìm về lại chỗ cũ.Nó đang mò mẫm trong một mê cung. Tìm cha mẹ. Và nó không muốn ai trong hai người phụ nữ xa lạ này giúp nó hết. Nhưng nó mong rằng họ sẽ vẫn ở gần quanh đó.

 

Không lâu sau khi Elroy Heflin nhập ngũ, anh được điều về Văn phòng Hợp tác Quốc phòng tại Đại sứ quán Mỹ ở Riga, Latvia, khi nước này chuẩn bị gia nhập NATO. Những ngày ấy thật tuyệt. Cả lũ con trai đóng quân ở một khách sạn ba sao—một cung điện từ thế kỉ mười tám, gần đây được cải tạo lại theo phong cách Thuỵ Điển—đã từng được Hồng Quân sử dụng làm doanh trại trong năm mươi năm.

Sĩ quan chỉ huy của anh nói, “Tôi muốn giúp cậu có cái nhìn tổng thể. Cậu đến từ đâu ấy nhỉ, Heflin?”

“Khắp nơi ạ,” Elroy nói. “Las Cruces, Albuquerque, Radium Springs, Vado.”

“Hãy tưởng tượng cậu là một tay người Nga sinh sống ở trung tâm thành phố Albuquerque. Mấy thằng nông dân trong đồng phục Xô viết đang ăn trưa ở cửa hàng Lotaburger. Cậu là một trong số chúng. Phe của cậu đã thắng trong Chiến tranh Lạnh mà không phải nổ phát súng nào. Cậu cảm thấy sao?”

“Vô địch thiên hạ, thưa ngài.”

“Ờ đúng rồi đấy.”

Bọn con gái bạn địa ăn mặc rất đĩ. Đám tân binh không nên hiểu nhầm. Đối với bọn này, mặc như thế là có ý, hãy thử tiếp cận em coi nào. Còn với bọn con gái, ý chúng nó, đây là cách mà những người châu Âu đích thực ăn mặc, hiểu chưa? Vậy nên bỏ đi. Các cậu chỉ ở đây có tám tháng thôi. Bọn con gái Latvia muốn lập gia đình y như tất cả mọi người vậy.

Elroy nghe thấy ổn phết. Anh nhận ra anh là loại người thích kết hôn. Và trong vài tháng anh đã có một cô bạn gái nghiêm túc. Dễ như bỡn. Không như ở nhà. Anh đi uống với vài thằng bạn ở khu phố cổ, tại một quán cafe trên con phố rải sỏi chỉ đủ rộng cho một con ngựa béo đi vừa. Cô bồi bàn đã khá tử tế với anh. Cô ta muốn luyện nói tiếng Anh.

Trên giường cô hỏi anh, “Sao anh mê tai em quá vậy?”

Vị của nó hay hay. Cô đã không vệ sinh kĩ tai mình. Anh cảm thấy một chút vị của Liên bang Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Xô viết ngay trong miệng mình. Nó có vị mồ hôi, chất nhờn, và hương hoa chanh.

“Hai mươi năm trước,” anh nói, “họ có thể đã đưa anh tới đây để hãm hiếp em và đốt nhà em.”

“Đần thế,” cô nói, lật vài trang cuốn tạp chí du lịch. “Bọn em làm gì có nhà.”

Anh tỉnh dậy trong căn hộ một phòng của cô và thấy cô đang đánh giày cho anh bằng nước bọt và một cái tất cũ. Có vài lần cô đề nghị giặt quần áo cho anh, nhưng anh không chịu theo ý cô. Anh đã luôn tự giặt quần áo và tự nấu ăn, trừ lúc trong quân ngũ, từ hồi anh mười một tuổi.

Gió nồm, rồi mưa tuyết. Anh mang theo hai cái ô cho hai đứa. Họ rảo bộ qua quận Nghệ thuật Mới, cô chỉ cho anh những bức tượng mặt người quằn quại trên đường diềm mái của trường luật. Đó là một ngày Chúa nhật. Họ dự Thánh Lễ trong nhà thờ Công giáo, và vì một trò đùa khó chịu mà cả hai đều chịu Lễ, mặc dù đêm hôm trước mới tập thể dục. Anh không biết cha xứ đang nói gì, chỉ trừ, hầu hết, là anh biết. Thánh Lễ phổ biến ở khắp nơi. Anh nhìn lên những con dơi đang treo mình trên xà nhà và chuyện trò với Chúa ở đây. Anh nói muốn gặp bố mẹ cô, nhưng họ đã qua đời cả rồi.

Tên cô ấy là Evija.

Anh muốn gợi ý để cô trang điểm theo lối truyền thống hơn một chút; tuy vậy, anh tôn trọng những khác biệt văn hoá. Trước khi đợt dàn quân kết thúc, anh làm cô mang bầu. Anh muốn kết hôn, nhưng cô thì chưa. Và bằng cách nào đó, sau một chuỗi các quyết định—không có cái nào có vẻ là quyết định đúng thời điểm nhưng đều là chuyện tất yếu phải xảy ra—anh thấy anh, khi đóng quân ở phía Bắc Afghanistan, gửi một phần ba lương của mình tới một ngân hàng ở Liên Xô cũ để chu cấp cho một thằng nhóc anh chỉ gặp mỗi năm một lần. Rồi, chưa hết, Evija đang hẹn hò vớimột thằng điếm háo danh người Nga, và viết e-mail cho Elroy hỏi, cô ta có thể có số thẻ tín dụng của anh không? Cô ta muốn đưa thằng nhóc đi du thuyền tới du lịch Na Uy. Anh xin sĩ quan chỉ huy mới cho lời khuyên, xem có hợp lý không, vì nhỡ đâu có ai tấn công được tin nhắn và lấy được số thẻ tín dụng của anh thì sao?

Vị sĩ quan chỉ huy nói, “Binh nhì Heflin, một cái du-con mẹ nó-thuyền á?”

Anh e-mail cho cô ta, nói rằng anh sẽ không chi tiền cho chuyện đi du thuyền, thế là anh không nhận được tin gì từ cô ta suốt vài tháng. Để gây sức ép cho cô ta, anh dừng luôn không chuyển tiền. Thế rồi, khi đang về nhà nghỉ phép, anh nhận được e-mail nói rằng, do hoàn cảnh cuộc sống cá nhân, Evija sẽ chuyển tới Tây Ban Nha; cô ta sẽ không đưa con theo; gia đình cô ta cũng không nhận thằng bé, nên chỉ còn Elroy; vậy bao giờ anh sẽ tới đón thằng bé, Janis; và xin lỗi vì báo gấp quá, nhưng trong tháng được không?

Elroy được thăng hàm lên hạ sĩ. Anh trở nên can trường hơn, tàn nhẫn hơn. Anh đã vươn tới tận cùng của chính mình.Anh ngồi trước máy tính trong căn hộ nghỉ hưu của bố mình ở Los Alamos, ăn mận. Elroy cắn mận ngập răng và làm phọt nước ra áo. Anh chẳng để ý. Anh rớm nước mắt—vì điều gì nhỉ? Cảm thấy biết ơn ư? Anh muốn đó là những giọt nước mắt biết ơn, phải. Rồi anh cười, sảng khoái và rổn rảng. Nhìn vào màn hình, anh thốt lên, “Vỡ mặt rồi.”

 

Hai ngày sau—chưa có kế hoạch rõ ràng rằng ai sẽ trông nom thằng Janis khi Elroy quay lại đơn vị, rồi thủ tục nhập cảnh cho thằng bé vẫn chưa đâu vào đâu, lại còn thiếu đủ thứ như đệm hơi cho nó ngủ chẳng hạn—Elroy ngồi trong quán quen của anh và Evija, một tiệm café ở Stabu iela(2), chờ đợi. Anh tóc vàng, mắt nhỏ trông y như người bản địa, nên cô bồi bàn thả thực đơn xuống và bắn một tràng tiếng Latvia với anh. Anh trả lời bằng câu mà Evija đã dạy anh phát âm cho chuẩn: “Tôi nghĩ một lúc đã, nếu cô không phiền.”

Evija sẽ đến cùng thằng bé. Rồi sao? Elroy không biết.

Chỗ ngồi của anh bên cánh tiệm café giúp anh quan sát được tiền phòng bằng kính, nơi khách bước vào, và khuất khỏi những ánh mắt tò mò từ phòng ăn chính. Nếu anh cần bộc lộ cảm xúc, cứ thoải mái. Nhưng chẳng cần phô bày giữa thanh thiên bạch nhật làm gì. Anh ngồi yên, khoanh tay dưới gầm bàn, chờ đợi. Anh đã thức suốt trên máy bay và cả ở sân bay, từ New Mexico bay sang phía Đông, nên da anh ửng lên với mấy vết phát ban. Mắt anh khô đi vì không khí trên máy bay. Cảm xúc không cần phải phô bày giữa thanh thiên bạch nhật. Nhưng mà, nếu những cảm xúc ấy bùng nổ từ trong đáy lòng anh và trào lên tới tận cổ họng, thì liệu anh có trẻ con quá không nếu anh muốn một người phụ nữ ở đó với anh, đừng rời mắt khỏi anh?

Anh xem đồng hồ. Anh đã định nịnh bợ Evija bằng cách tặng hoa, nhưng anh chẳng mua chuộc nổi bất kể điều gì anh muốn từ cô ta. Trừ phi cô ta tự đề nghị, không thì thà không có còn hơn. Nhìn vào thực đơn, anh gọi một ly soda, sau khi người ta mang đồ tới, anh cúi xuống phía sau chậu cây chi sung, dấp chút nước vào tay, vảy vào mắt và sau tai. Anh ngồi dậy, trấn tĩnh, hi vọng.

Cứ mỗi lần anh đến ở cùng Evija và thằng bé, Riga lại trở nên khang trang, trù phú hơn, có nhiều xe hơi mới. Gã người Nga lánh đi khi Elroy tới. Evija nhấn mạnh rằng gã người Nga là một tay đồng tính kiểu phổ thông cần một cô gái để giữ vỏ bọc bên ngoài, và rằng cô chưa bao giờ hôn miệng gã ta.

Cô ta làm bánh kếp khoai tây cho Elroy và con, nó không ăn nổi kem chua, sốt táo, tất tật những gì trông như gia vị ăn kèm. Có những thói quen quái đản tình cờ lại hình thành nên con người chúng ta. Elroy, khi còn nhỏ, khi ngủ luôn thích đắp những cái chăn nhỏ tới mức làm ngón chân bị chuột rút. Sở thích ấy sau này giúp anh thấy thoải mái với điều kiện khắc nghiệt của huấn luyện cơ bản—nóhạ gục bạn, rồi vực bạn dậy, nhanh hơn, chặt hơn—và rồi anh nhận ra mình có tài trong việc chịu đựng đau đớn, có tài trong việc lãng quên. Thêm cả tài năng giết chóc theo bản năng.

Ba người thường dùng bữa ở ban công nhà Evija. Evija gọi đó là “chỗ của chúng ta”, bao gồm cả Elroy và thằng Janis. Cô nói tiếng Anh với thằng bé khi bố nó ở đấy, để thằng bé luyện. Nó quá nhát nói tiếng Anh, cả bố và mẹ đều đồng tình về chuyện này. Tuân theo vài nguyên tắc riêng, thằng bé chỉ nói tiếng Anh với hai người bọn họ, và mặt thì cứ đỏ bừng lên.

Ở quán café, Elroy gọi một đĩa gan gà lúc một bà già đi từ tiền phòng vào, quát lên với một con chó bị kéo theo sau thì phải, nó bị khuất sau mấy cái bàn thấp.

Người bồi bàn đang vắng mặt. Bà già nhìn xuống một tấm ảnh và ngó quanh phòng. Elroy vội cúi rạp xuống.

Mông anh vẫn ở trên ghế, nhưng hai tay chống xuống sàn, đầu cúi xuống gầm bàn. Mặt sàn gỗ bóng loáng véc-ni. Anh nghẹt thở. Hình như anh đã nhìn thấy gì đó mà chẳng biết đó là gì. Kiểu như lúc bạn rụt tay lại khỏi cái chảo nóng trước khi cảm nhận được vét bỏng. Anh đã từng bắn khoảng bốn đến bảy tên phiến quân mà chẳng hề có chút sợ hãi sâu thẳm nào nảy lên trong lòng như ngay chính lúc này.

Sau cùng, anh ép mình phải đứng dậy. Bà già chỉnh lại cái khăn choàng cũ sờn, nhìn quanh. Con chó theo sau bà ta chính là thằng Janis, đang loay hoay kéo qua thềm cửa một cái túi lăn cho trẻ con to hơn cả nó.

Elroy dùng tiếng Latvia, “Thưa bà?” và vẫy tay ra hiệu.

Evija không đến. Cô ta cử sứ giả, là mụ phù thuỷ này.

Nếu mọi chuyện tuỳ theo ý của bà già và thằng Janis, cuộc giao dịch chắc chỉ tốn mười lăm giây là cùng. Bà ta nhìn vào bức ảnh—bố con Janis và Elroy gần như chẳng mặc gì trên bãi biển ở Jurmala năm ngoái—và bảo thằng bé tới ngồi vào bàn. Nhưng thằng bé đã tới bên bố nó và trèo lên ngồi cạnh.

Thằng bé bảo bà già bằng tiếng Latvia là bà đi đi được rồi.

Nhưng Elroy muốn bà già chỉ cho anh phải làm gì. “Bà không có gì để đưa cho cháu sao?” anh hỏi.

Bà già dặn dò thằng bé, và thằng bé trả lời, “Vâng, cháu biết rồi.” Và, khi Elroy hỏi, thằng bé thầm thì giải thích rằng bà già nói nó không được quên để ý đến giấy tờ để trong túi.

Elroy nhìn bà già bỏ đi, và cảm thấy thứ gì đó ấm áp trên đùi mình. Đó là tay trái của thằng bé. Tay kia, thằng bé đang lật thực đơn, xem xét ảnh thức ăn. Elroy kêu huỷ món gan và họ rời đi mà chẳng ăn gì.

Hai người lên xe buýt tới sân bay. Anh cài dây an toàn cho Janis trên chuyến bay tới Hamburg.

Từ New Mexico Elroy đã mua một cuốn sách tô màu và một cây bút sáp. Thằng bé mân mê ngón tay quanh cây bút sáp, trong khi Elroy dạy nó ấn nhẹ tay sao cho khỏi hỏng sáp. Và chưa gì, chỉ trong một tích tắc, cây bút sáp gãy đôi trong tay thằng bé. Nó ngước lên miệng run run sợ sệt, như thể nó sắp khóc tới nơi.

 

Tới Hamburg, vừa xuống máy bay, Elroy đưa thằng bé vào khoang xí phòng vệ sinh nam và nhét tiền vào túi áo nó.

“Con không cố ý làm gãy cây bút sáp,” Janis nói. “Con xin lỗi bố.”

“Con để cái đồng hồ của bố ở đâu rồi?” Elroy lục lọi, dán lại miếng băng dính cũ mèm vá trên áo thằng bé. Elroy cần thời gian để suy nghĩ cho thông suốt. Anh cần mươi, mười lăn phút. Anh sẽ phải mua một cuốn sách dạy làm cha mẹ. Anh sẽ phải lên một danh sách đồ tạp hoá, như kiểu ngũ cốc, bảo hiểm sức khoẻ, thuốc dị ứng. Thằng bé bị dị ứng, còn căn hộ thì chỗ nào cũng dính đầy lông con chó của bố Elroy. Elroy cần một lúc yên tĩnh, không có thằng bé kè kè, để rồi anh có thể hình dung được rằng anh biết mình đang làm cái đéo gì. Anh cần một xấp giấy và một cái bút chì.

“Con để đồng hồ trong túi quần,” thằng bé trả lời. “Con xin lỗi bố.”

Elroy bảo, “Còn nói xin lỗi thêm lần nữa thì bố sẽ cho con lý do để hối hận đấy.”

Thằng bé nhìn lên, nó bị đặt ngồi lên bệ toilet mà vẫn mặc nguyên quần.

“Cứ thế và cứ khóc đi,” Elroy nói. “Mấy giờ thì bố sẽ quay lại đón con ấy nhỉ?”

Thằng Janis giơ ngón cái và ngón trỏ. Nó trả lời, “Hai ạ.”

Elroy ra khỏi khoang xí. Anh bảo thằng bé khoá cửa lại, sau đó nghe tiếng lạch xạch, và tiếng khoá sập vào. Elroy ra khỏi phòng vệ sinh nam, chú tâm giữ tốc độ vừa phải giữa đám người châu Âu ồn ào đang đi cùng phía với anh, vượt qua anh từ hai bên. Hàng lang ám mùi đồ ăn chiên xào. Anh bước đi, kéo túi của anh và thằng bé tới Ga số 2. Mấy bánh xe bị móp của cái túi nhỏ làm anh phát bực vì cứ bị kẹt vào cạnh túi. Anh kéo phần nặng sai chiều. Rồi anh cầm cái tay nắm yếu ớt không bị rút lại mà kéo nó đi. Anh mất toi năm phút chỉ để tìm một cái đồng hồ, trong khi đi xa khỏi phòng vệ sinh chỗ thằng bé đang đợi. Để mà nghĩ được, Elroy cần mua một cái bút chì. Anh tốn thêm mười phút ở Ga số 2 để tìm cửa hàng tạp hoá. Khi tìm thấy thì anh nhận ra mình, vì lý do sâu thẳm nào đó, đã bỏ hết tiền lại chỗ thằng bé. Tại sao anh lại bỏ thằng bé lại với ngần ấy tiền? Anh không biết. Và bây giờ thì người thu ngân, đáng lẽ chấp nhận tiền đô nếu Elroy có mà trả, không đồng ý để anh thanh toán món quá nhỏ ấy bằng thẻ tín dụng. Loa sân bay nói gì đó bằng tiếng Đức, nghe như Có một cái nhà trẻ ở cái cổng C nào đó. Elroy đang thực hiện kế hoạch, hiển nhiên là anh tự nghĩ ra, và anh vẫn chưa biết mục tiêu của kế hoạch là gì. Chặng bay của anh tới London sẽ bắt đầu gọi lên máy bay trong ba phút nữa. Đã gần hai giờ tới nơi rồi. Anh vòng lại phòng vệ sinh ở Ga số 1, dự định lấy một vài đồng từ chỗ thằng bé, mua một cái bút chì, mua vài tờ giấy, ngồi một tí thôi, nghĩ ngợi, lại vòng lại, đón thằng bé, và đưa nó tới cổng ra máy bay ngay khi người ta gọi lần cuối. Anh phải phác hoạ một lịch trình, như là nơi trông trẻ, lớp học giáo lý, cắt tóc. Anh đã có thể định làm gì mà lại để hết tiền lại chỗ thằng bé không biết? Loa lại nói gì đó bằng tiếng Anh, rằng ở Ga số 1 có một vụ lạc và đã được giữ lại. Cái gì đó bị lạc và đã được giữ lại.Anh dừng lại, lắng nghe.

Phát ra tiếng rung trầm liên tục, một cái thang cuốn đưa những hành khách vừa hạ cánh xuống tầng dưới.

Anh quay đầu. Trở lại phía cổng đi London, túi vẫn kéo sau. Như một con thuyền vẫn lướt đi dù mỏ neo đã hạ. Gió cuốn nó đi. Khắp xung quanh là nước. Phải mất một lúc bạn mới nhận ra mình đã bị chỉ dẫn lạc lối.

 

Janis ngồi trong một căn phòng nhỏ, một văn phòng ở đâu đó trong sân bay. Ba người Đức tốt bụng đứng quanh nó, giọng họ nhỏ nhẹ. Trên bàn có socola nóng. Thằng bé biết nó đang ở Đức, cho nên những người này dứt khoát là người Đức. Và về người Đức thì nó biết chính xác một điều, nó nghe chú bạn diễn viên của mẹ nó ở Riga nói rằng: Một thằng Đức thì trông có vẻ giống bạn tốt đấy, nhưng tốt nhất là cứ treo nó lên.

Đừng để bị đánh lửa bởi socola của họ.

Cứ thế và cứ khóc đi, bố nó đã dặn rồi. Và Janis khóc lóc thả cửa.

Mấy người Đức nói với nó mấy câu nghe như câu hỏi, lên giọng theo kiểu vừa ngọt ngào vừa hăm doạ ở cuối câu. Nghe như, “Phích phích, búp búp, ẶC ẶC ẶC?” Nó thấy tốt nhất là không trả lời. Hầu hết những chuyện buồn khổ nó từng gặp phải trong đời đều là vạ miệng.

Nước Đức ở châu Âu. Latvia, quê mẹ nó, cũng ở châu Âu. Nó có hai quê nhà: ở Riga với mẹ và ở Mỹ với bố, mặc dù Janis chưa đến Mỹ bao giờ. Nước Đức chắc loanh quanh đâu đó ở giữa. Mẹ nó đang đi nghỉ và nó cũng thế, nhưng nói “đi nghỉ” nghe không đúng lắm trong trường hợp này vì nhà của bố, điểm đến của nó, vẫn được tính là nhà nó mà.

Papa sẽ về. Tầm bữa chiều. Bất cứ lúc nào. Janis nên để dành bụng. Nó sẽ không ăn bất kì đồ gì người ta cho nó. Theo lời Papa dặn, nó đã ở trong khoang xí phòng vệ sinh cho đến khi kim giờ trên cái đồng hồ của bố chỉ số hai. Nó chờ thêm một lúc nữa. Rồi nó nhét cái đồng hồ vào túi quần và quay lại chỗ đi xuống từ máy bay. Và lại đợi. Papa không có ở đấy. Thế là Janis đã quên mất chi tiết nào trong kế hoạch rồi. Thôi không sao, giờ ăn chiều sắp đến là điều chắc chắn cả nó và bố nó đều không thay đổi được kể cả nếu như cả hai muốn. Papa sẽ về vào bữa chiều. Chuyện này thật tệ, nhưng bữa chiều sẽ làm mọi việc ổn lại thôi.

Janis muốn có cuốn sách tô màu quá. Bố nó đã lấy lại và để trong túi của bố mất rồi. Cuốn đấy không có chú thích và, riêng về điều này, rất tuyệt. Nó chưa đọc thông thạo lắm, nên không thích cảm giác nó đã đọc sót mất chuyện gì. Cuốn sách kể về một cậu bé đã cho ăn và thuần hoá một con thú hoang dã và phần thưởng là tình bạn con thú dành cho cậu. Cuốn sách cũng không có tiêu đề, nên Janis có thể tự đặt tên theo ý nó.

Nó hớp một ngụm socola nóng trong lúc mấy người Đức chuyện trò. Nó muốn nín lắm rồi, nhưng nó được phép khóc mà. Một trong những lời mà bố nó dặn là nó được phép khóc.

 

Hai giờ sau, Elroy hạ cánh ở London. Anh xuống khỏi máy bay, đi bộ khỏi khuôn viên sân bay, rồi lên xe bus đi sai chiều. Anh đã được chứng kiến một điều thú vị nữa trên thế giới-lái xe bên trái đường. Bạn sẽ không tin cho đến khi bạn nhìn tận mắt. Như những người phụ nữ anh chứng kiến đã lướt đi trên đường phố ở Kunduz, trùm kín từ đầu tới chân bằng vải xanh, che mạng ở mắt. Anh đã được cảnh báo: cụp mắt xuống. Anh không được nhìn đâu. Nhưng Kunduz có khác nào hành tinh trong phim “Chiến tranh giữa các vì sao” đâu cơ chứ. Như kiểu, Làm sao tôi làm thế được, một đứa trẻ như tôi á?

Elroy xuống xe buýt sau vài bến, lẻn vào phía sau một cụm chung cư, và ném cái túi bé xấu hoắc vào thùng rác. Sau đó anh nhận ra mình có thể quay lại đi đúng chiều đường—thấy chưa, như là mọi thứ đều lùi lại, có thể ban đầu bạn làm sai nhưng về sau bạn có thể làm đúng—và, phải rồi, một chiếc xe buýt trờ tới và đưa anh quay lại sân bay.

Sân bay Heathrow, Ga số 5. Một cấu trúc sáng sủa, hình chữ nhật bằng thép và kính nằm giữa các đường băng. Lấy vé. Kiểm tra túi. Một cái bảng hiệu ở khu vực an ninh chỉ rõ những vật bị cấm, trong số những vật dụng khác, cung nỏ, dao rựa, kìm, súng, bật lửa hình súng, cây lao, ná cao su.

Tâm trí anh lúc này khác gì một đống thịt băm bầy nhầy.

Anh bỏ đồ đạc lên băng chuyền vào khoang quét, rồi bước qua máy dò kim loại, hạ thấp vai, thở sâu. Nhưng cái máy không tha cho anh, kêu toáng lên, một người nhân viên cằm nọng đưa anh đến điểm kiểm tra thứ hai—hỏi, Anh có đeo máy tạo nhịp tim, xương hông kim loại, hay mảnh đạn nào trong đầu không?—và chỉ anh ra chỗ khoang kính chứa máy soi an ninh hàng không.

Elroy thở sâu. Có những lúc bạn đi sai đường để rồi quay lại đường đúng. Giống như có lần, trên một con phố vắng ở Kunduz, anh thấy một đống đất với đất xung quanh lộn xộn một cách có chủ đích, anh quỳ xuống và thổi, rồi anh nhìn thấy cái tấm ép, anh vội đứng dậy. Và, trước khi anh kịp hiểu ra, anh văng, “Cái địt,” rồi sút tung nó đi. Song nó không nổ. Như thể Chúa đang nói, “Ta muốn con được sống, cục cứt ạ.” Cả ngày hôm đó Elroy chẳng còn sợ gì nữa.

Từ mọi hướng, không khí trong máy soi thổi ồ ạt vào người anhtrong khi cái máy đánh hơi tìm cocaine, PCP, smack, mathamphetamine (3); tất nhiên cả TNT, C-4 và Semtex(4).

Một tia sáng xanh lục loé lên, rồi cánh cửa mở về phía trước. Một nhân viên khác đưa anh tới chỗ máy tán xạ ngược tia X. Anh đứng trước một bức tường, giơ cao tay, lòng bàn tay hướng ra ngoài, trong khi những chùm sóng bức xạ quét dọc người anh. Tại bảng điều khiển, một người phụ nữ Caribe khó đăm đăm có răng cửa bọc vàng không tìm ra được vấn đề gì với anh và để anh đi.

Trong ráng chiều mùa thu, anh ngồi trên một chiếc ghế giả da trước hàng cửa sổ nghiêng. Tuần này ánh sáng đã phai hẳn mất một sắc màu: màu vàng, chắc vậy. Ánh hoàng hôn khắp châu Âu nơi đâu chả như nhau. Điều này đưa anh trở lại một thời với đầy những đụn lá, một thời mà lá cây bông vương đầy trên cạp quần lót của anh. Chất đống như núi và rồi tan biến.

Những chiếc máy bay phản lực nhìn thẳng vào cửa kính nhà ga trông như những con cá heo ịn mũi lên bức tường ở thuỷ cung. Sương mù tan đi. Ánh sáng rọi từng mảng vuông lên khuôn mặt nhẵn nhụi của Elroy. Anh chìa cổ đón lấy, giơ cằm lên quay quay. Trên đầu là một cái lưới thép mắt cáo sơn trắng.

Có một cái bảng đề tên sân bay. Chữ cái in hoa chạm nổi trên nền đồng. Từng có một xóm nhỏ ở đây, tên là Hitherowe, Hetherow, Hetherowfeyld. Một dãy nhà trên một bãi đất hoang. Heathrow(5). Cây sồi lùn và cây hoa kim tước trồng trên đất mịn, nơi bọn trẻ chơi giữa cây cối và rác rưởi cho tới khi Mẹ gọi chúng về uống trà.

Anh lên máy bay, ngồi vào ghế, và chiếc máy bay xé toạc bầu trời.

 

Lát sau, những người Đức cố khiến Janis làm gì đó mà nó không biết. Một người đàn ông tháo cà vạt, để lên bàn, đặt cho thằng Janis một câu hỏi và chỉ vào thằng bé. Rồi ông ta cởi áo khoác, và bỏ hết mọi thứ trong túi ra: thuốc lá, hoá đơn ATM. Mỉm cười, mở to mắt, giống kiểu, Thấy chưa? Một lối trình diễn.

Họ muốn nó cởi quần áo? Nó không biết chống lại họ bằng cách nào. Có một nguyên tắc mẹ nó dạy: Không ai được cởi quần áo của con, hay lấy đi bất kì thứ gì của con. Một cô người Đức đặt tay lên mũ của Janis, nó để cô cởi mũ, lộ ra mái tóc bù xù, nhưng nó không thể không khóc được. Nó bị cơn đói hành hạ. Họ nên cảm thấy khốn nạn với những gì họ đang cố làm với nó. Họ bắt nó đứng dậy, rồi cởi áo khoác nó ra. Bây giờ thì điều gì cũng có thể xảy ra. Cô kia đặt áo nó lên bàn, lục tìm các túi áo. Họ để nó nhìn. Họ tìm được một cái vỏ kẹo Kit Kat. Kẹo sao su. Cùng hai trăm sáu mươi đô la Mỹ gập làm đôi.

 

Đường bay ngắn nhất về phía Tây đi qua Bắc cực.

Trọng lực ép máy bay xuống. Thêm cả lực cản phía dưới hai cánh, kết hợp với độ xiên của mặt phẳng cánh, nâng máy bay lên,đưa các hành khách vút đi giữa không trung, trong một con tàu nặng tám trăm ba mươi ngàn pound.

Elroy quan sát một dòng sông băng băng tan dần vào lòng đại dương. Chúa tạo ra thế giới với đầy ắp những điều kì diệu để chúng ta không quên đi sứ mệnh người giao phó. Elroy không biết liệu anh đã quên hay vẫn còn nhớ.

Anh quá cảnh ở sân bay Boston Logan rồi hạ cánh ở sân bay Albuquerque—chuyến hạ cánh thứ tư trong ngày, mặc dù đã ba mươi giờ trôi qua rồi. Phấn hoa cúc ngập mũi anh và làm tim anh thổn thức. Xoang mũi bắt đầu chảy nước.

Anh đã thuê trên mạng một chiếc xe mini, nhưng Avis(6) đã quá tay với yêu cầu của anh, họ giao cho anh một chiếc Mustang mui xếp. Anh lái xe về phía Bắc, hạ mui, thẳng một lèo đường liên bang qua thung lũng sông Rio Grande, ngẩng mặt lên phía những vì sao vẫn nằm yên đó từ lúc ở phương Đông. Anh mạo hiểm lái xe chạy lệch khỏi làn đường cho phép.

Phía Tây Santa Fe, anh hướng về phía dãy núi Jemez, không khi loãng làm anh khó hô hấp, anh thở hổn hển, đường xá tối thui. Sau cùng anh thấy một bờ tường lửng dài khoảng ba dãy phố—anh đã đi theo trực giác, gần như bằng cách đánh hơi, như một con chó săn—và gặp một cánh cổng, lúc một giờ sáng giờ MST. Anh chưa ăn gì từ lúc lên máy bay ở London, sự thèm khát thức ăn của anh đúng là một cơn hoảng loạn vật lý. Hơi thở vừa ngắn vừa gấp. Cột sống anh hoá đá.

Một người bảo vệ ngồi trong chòi gác sáng đèn cạnh cổng đang chơi Sudoku. Ông ta hỏi Elroy, bằng thứ tiếng Anh với tốc độ tên lửa của người bản xứ New Mexico, anh tới gặp ai.

“Nhưng tôi không thấy Trung sĩ Slocum để lại lời nhắn gì ở đây là ông ấy đang chờ anh tới,” người bảo vệ nói khi nhìn vào bảng ghi chếp. Người bảo vệ yêu cầu phải có lời nhắn từ chủ căn hộ thì mới gọi cửa sau mười giờ tối.

“Thôi nào, ông bạn,” Elroy nói. “Tôi đã ở đây ba hôm trước mà.” Cuối cùng anh hứa ngày mai sẽ bồi dưỡng người bảo vệ hai mươi đô nếu ông gọi cho bố anh.

Trung sĩ Slocum không phải bố đẻ của Elroy. Ông là bố dượng của anh. Bố-dượng-cũ, chính xác là thế. Ông cho Elroy sống với ông sau khi kết thúc cuộc hôn nhân thứ hai và cho anh đi học trung học ở trường St. Xavier. Sau đó ông già nghỉ hưu ở đây. Mẹ đã bỏ đi. Ai mà biết đi đâu.

Cánh cổng trượt vào trong bức tường lửng, Elroy đánh con xe mui xếp vào bãi. Đèn chụp, vườn đá, tường nhà trát thấp. Anh đi bộ dưới hàng hiên và gõ cửa.

Khi Trung sĩ Slocum mở cửa, ông đang cầm một cái dĩa, thứ vũ khí nửa mùa.

“Con chào bố,” Elroy nói. “Hi vọng con tới khi bố còn thức.”

“Elroy,” ông già béo chào đơn giản. Ông đang dở bữa. Vụn bánh dính đầy trên ria ông. “Bố cònthức không à?” Trung sĩ Slocum nói ở sảnh nhà tranh tối tranh sáng. “Bố nghĩ bố ngủ rồi cơ. Những ngày này, lúc nào bố cũng buồn ngủ. Bố không đọc nổi, không nghe nổi, không thể cả đi tè…”

“Bố không vui khi gặp con à?” Elroy hỏi.

Ngài Trung sĩ trỏ cái dĩa về phía bóng tối sau lưng Elroy. Ông hỏi, “Thế thằng nhóc Janis đâu rồi?”

 

Hôm sau, một chú mặc đồng phục phi công đánh thức Janis khi nó đang ngủ trên một cái giường xếp trong văn phòng sân bay. Chú ấy giới thiệu mình tên là Kristaps bằng tiếng Latvia, trong lúc những người Đức quan sát. Nói tiếng Latvia với người lạ. Chỉ nói tiếng Mỹ với người con quen. Một hệ thống đã giúp Janis kiên định suốt từ trước. Nhưng nó phải thừa nhận rằng, ở Đức, một người lạ đang nói tiếng Latvia với nó là một tình huống đặc biệt. Chú phi công đang định bẫy nó kiểu gì đây. Cuối cùng thì Papa vẫn sẽtới mà.

Janis đi tới sảnh với chú phi công để lấy sữa và bánh mỳ trứng, rồi chú phi công hỏi bằng tiếng Latvia, “Bố hay mẹ cháu đâu?” Tức giận, cứ như thể Janis đã gây ra tội lỗi gì.

Và Janis trả lời, mặt đỏ bừng, bằng tiếng Mỹ, “Cho cháu xin mù tạt được không?,” định đổ đầy cái thứ dữ dội ấy ra đĩa, phòng khi nó bỏ cuộc và ăn mất.

“Người đưa cháu đến đây đâu rồi?” chú phi công nghiêm giọng.

Tại sao lại cảm thấy khóc thật sướngnhỉ? Nhiều năm rồi, Janis đã tự hỏi nó bị làm sao khi mà khóc, lẽ ra phải thấy tệ, thì nó lại thấy sướng mới lạ.

Janis nhấc miếng trên của bánh mì ra, hi vọng lòng trắng trứng bị sống, nhưng nó chín rất chuẩn; hi vọng lòng đỏ bị quá lửa, nhưng nó dễ dàng chảy ra khi Janis chọc vào. Nó đói đến cồn cào ruột gan.

Nó cần phải ăn. Nhưng nó cũng cần Papa quay lại. Và tất cả những việc này là một bài kiểm tra. Papa sẽquay lại, nhưng với điều kiện Janis giữ vững niềm tin và không ăn.

Chú phi công chửi nó.

Janis gặm tay áo khoác. Chú phi công đứng dậy đi lấy cà phê. Janis cảm thấy cơn đói như một cú thụi từ dưới xương ức, một trận gió quẩn trong đầu nó. Nó đã chọn được tiêu đề cho cuốn sách tô màu. Tiêu đề sẽ là “Joe yêu Foxie, và Foxie yêu Joe rất nhiều.” Nó mở nắp bịch sữa Đức và đổ tràn lên thức ăn trên đĩa.

Đến trưa, người ta đưa nó lên một chiếc xe.

Họ đi trên một con đường thênh thang. Đó là một thành phố lớn, có tàu thuỷ, cần cẩu và xe lửa. Thật tráng lệ biết bao khiến Janis tự hỏi phải chăng nó đang ở Thiên đường.

 

“Bố cứ đinh ninh là mày sẽ về cùng thằng nhóc,” Trung sĩ nói.

“Vâng,” Elroy mệt mỏi bơ phờ.

“Bố hiểu sai à?”

“Vâng, việc không xong, bố biết mà?”

Con chó nhát chết của ông Trung sĩ, con Mavis, xuất hiện sau cánh cửa kính thông ra phía sân trong. Nó cào lên khung cửa và nhìn ông già với hai tai cụp lại và đôi mắt xoe tròn, như kiểu, con biết con không được vào nhà, nhưng con là một con ngố dở hơi, con vào được chứ?

Ông Trung sĩ đứng dậy khỏi sofa và tập tễnh tiến về phía cánh cửa, một quyển tạp chí trong tay. Ông hỏi, “Chính xác là bố biết cơ?”

“Thì đấy, việc không xong. Cơ mà nó trông giống con lắm. Màu nhiệm vãi đái, bố nhỉ? Bố kì vọng con cái sẽ giống bố y hệt ngay lập tức, nhưng rồi bố chẳng thấy thế chút nào, cho đến khi họ lớn đến một độ tuổi nhất định, chuyện lại đâu vào đó.”

Ông Trung sĩ trượt cánh mở, cuộn quyển tạp chí lại, uốn cong, rồi vụt vào đầu con Mavis. Con chó oẳng lên rồi chạy mất. Ông Trung sĩ trở lại chỗ ngồi.

Elroy đi về phía tủ lạnh, bên trong có đồ gia vị Tex-Mex hết hạn. “Xúc xích hun khói của con đâu mất rồi?” anh hỏi.

“Bố ăn rồi,” ông già trả lời.

“Trời ơi,” Elroy rên lên, tan nát. “Bố ăn thật rồi à?”

“Nhà bố mà. Đồ ăn là của bố. Bố vẫn trên cơ mày đấy, đừng có quên. Đi ra cửa hàng mà tự mua lấy cái gì đi.”

“Ôi, bố ơi, con sẽ phải đi ra tận White Rock.” Elroy quay ra nhìn tất chân ông già, bên trái được khuôn cứng như cái bay thợ xây: ông già mất ba ngón chân ở Việt Nam. Elroy nói, “Lẽ ra bố là bố của con mới phải.”

Lúc bình minh, khi ông Trung sĩ chuẩn bị ra ngoài ăn sáng ở một quán ăn trong thị trấn, Elroy thức dậy trên sofa và hỏi, “Bố mua cho con cái gì trên đường được không?”

“Ở nhà thuê mà đòi ăn miễn phí à,” ông Trung sĩ nói, bấm cài dây xích cổ cho con chó đang phấn khích. Ông Trung sĩ đi đâu, con Mavis theo đó.

Elroy lục trong túi quần—anh mặc nguyên quần áo mà ngủ—và moi ra một mớ tiền, anh uể oải đưa cho ông già.

Ông Trung sĩ lấy ra một tờ lẫn màu lam-lục trang trí với hình cây sồi. “Cái quái gì đây?” ông hỏi.

“Đấy là cái ờ ờ cái gì ấy nhỉ. Đồng lat(7). Năm lat—tiền thật của mình đâu rồi nhỉ?” Elroy lẩm bẩm, ngồi hẳn dậy. Anh nghĩ trong giây lát.

“Ông con giời, đây này. Trên răng dưới dái.Có khi mày nên mang cầm luôn cái Huân chương Sao Đồng của mày đi, nếu mày còn nhớ đã vứt nó ở đâu.”

“Bố bố thí cho con mười đồng được không?” Elroy hỏi. “Có đủ ko ạ? Mua một pound thịt ấy?”

 

Hai năm sau, Thượng sĩ Heflin đang trong đợt dàn quân thứ tư ở Afghanistan, lần này là ở vùng đường băng Bagram, khi anh nhận được e-mail của Evija:

Ellie thân yêu của em,

Em về Riga tháng này, em viết thư này cho anh tại quán café ở Stabu iela mà khi xưa chúng mình thường ghé chơi.

Tất nhiên là em nhớ Janis quay quắt và nhớ cả anh nữa. Em run lên khi nghĩ biết đâu anh bây giờ đã có bạn gái rồi. Em lấy tư cách gì mà gọi anh là “thân yêu” sau những gì em đã làm cơ chứ? Và cả xin anh tha thứ cho em nữa? Thế mà có vẻ như vừa ngu ngốc lại vừa có lý khi đòi hỏi như vậy, như khi anh muốn đi qua con kênh, và em bảo anh, “Đừng, băng chưa đủ dày đâu!” mà anh vẫn chạy bất kể thế nào, và anh đã qua được bờ bên kia, khô nguyên.

Em không có tư cách xin anh hãy quay lại đây và đưa Janis về. Nhưng chúng ta đã từng thuộc về nơi này. Cả ba chúng ta. Em không thể ngừng hi vọng rằng chúng mình có thể có thêm một cơ hội nữa.


(1) ND: người Estonia, nguyên văn tiếng Đức.

(2) ND: ‘iela’ có nghĩa là ‘phố’, nguyên văn tiếng Latvia.

(3) ND: một số loại ma tuý.

(4) ND: một số loại chất nổ.

(5) ND: nguyên văn ‘A heath with a row of houses on it.’

(6) ND: hãng cho thuê xe qua mạng.

(7) ND: đơn vị tiền tệ Latvia.

Copyright © 2010 by Salvatore Scibona.

ThKh chuyển ngữ không có sự đồng ý của tác giả.

———-

ThKh – 2019

ThKh là một bút danh khác của ChuKim, một người viết tự do, sống và yêu tại một ngôi làng mang tên thành phố. Nếu có thể, hãy ủng hộ và khích lệ bằng cách đọc và chia sẻ những gì anh viết trong khả năng của bạn. Xin cảm ơn.

– natchukim.cogaihu@gmail.com –

PS: Tất cả nội dung trong blog này đều được tuyên bố quyền sở hữu và quyền tác giả về nội dung, ngoại trừ những bài sưu tầm có đề rõ. Mọi trích dẫn, đăng lại, vui lòng ghi rõ nguồn. 

 

Truyện ngắn: Giờ đây chúng mình không như thế, thật nhanh – Jonathan Safran Foer

Jonathan Safran Foer (1977-) là tiểu thuyết gia người Mỹ. Ông được biết đến qua tiểu thuyết đầu tay, Mọi thứ được soi tỏ (Everything is illuminated – 2002). Ông hiện giảng dạy sáng tác tại Đại học New York.

2560

Tranh: Allan Vest – theguardian.com

 

‘Giờ đây chúng mình không như thế, thật nhanh’ (Here we aren’t, so quickly) là truyện ngắn của Jonathan Safran Foer được đăng trong tuyển tập 20 under 40 (2010) của tạp chí The New Yorker. 


Giờ đây chúng mình không như thế, thật nhanh

 

Anh đã không giỏi khắc hoạ chân dung. Phần lớn thời gian anh chỉ bông đùa thôi. Anh đã không quyết đoán dù trong phòng thay đồ hay ở bất kì đâu. Anh đã tới trễ vì anh mải tìm hoa. Anh thường lờ tịt đi mỗi khi mẹ anh gọi. Anh không làm được bánh mì nướng nếu không nghe radio. Anh không biết người ta khen thật hay khen đểu. Anh đã không mệt mỏi như anh nói.

Em không chịu nổi việc đồ nội thất không hoàn hảo. Em quá nhẹ để ôm hết túi khí. Em hầu như không mở nổi cái lọ nào. Em đã không chắc mình nên làm tóc ra sao, rồi thế là, trễ mất mười phút và đi xuống tới giữa thang, em vẫn soi bóng mình phản chiếu trong khung ảnh của một gia đình quá cố. Em không hề nổi giận, chỉ là bảo vệ phẩm giá của em thôi.

Anh không chạy nổi đường dài. Em đã thật tốt với em gái anh khi anh chẳng biết nên tốt với nó như thế nào. Anh cố chùi đi một vết bẩn; cuối cùng nó lại bẩn hơn. Em đã chỉ hỏi một câu đơn giản. Anh đã gần như luôn có mặt ở nhà, vậy nhưng anh lại không thực sự ở nhà. Em không biết phải làm thế nào với chồng sách hơn ba cuốn trên cái bàn đầu giường anh, hay mớ tiền lộn xộn trong đĩa tiền thừa, hoặc đồ nhựa nữa. Anh đã không sợ phải cô đơn; anh chỉ ghét nó thôi. Em đã ngưỡng mộ khi khu vườn của ai đó sinh sôi. Anh quá mệt với đống thức ăn.

Chúng mình đã tới Atacama. Chúng mình đã tới Sarajevo. Chúng mình đã tới hồ Tobey Pond hàng năm cho tới khi chúng mình không còn làm thế nữa. Chúng mình vượt qua lớp tuyết dày mười ba inch để tới dự một bài nói chuyện ở nhà triển lãm vũ trụ. Chúng mình cố gắng có những bữa tiệc tối. Chúng mình cố gắng không sở hữu gì cả. Chúng mình để lại dấu tay trong một khu vườn rêu ở Kyoto, phủ một cái khăn tắm lên và làm cho nhau sướng tại Jaffta. Chúng mình đã đối mặt với cha mẹ anh vào ngày lễ Tạ ơn và cha mẹ em trong những ngày còn lại, và làm sao mà chúng mình lại ở bên cha anh khi ông chìm dần vào trong chính thân xác ông nhỉ? Anh nằm xuống cạnh ông, nhìn bàn tay mình lần mò lông mày ông, nói, “Bỏ qua tất cả–” “Tất cả gì cơ?” ông hỏi, nên anh nói, “Không có gì,” hoặc chẳng gì cả.

Anh đã luôn làm hỏng hộ chiếu của anh trong khi giặt đồ. Em thì luôn ước lượng dở tệ. Em chẳng buồn coi những thói quen của anh là duyên dáng. Anh đã nhấn mạnh rằng đã quá muộn để thành thạo một nhạc cụ hoặc cái gì cũng thế. Em là người chẳng bao giờ kêu ca về mấy chỗ đau nhức.

Anh đã không biết cách giải thích chu kì của mặt trăng nếu thiếu giấy bút, mà kể cả có. Em không biết mấy cái e-mail đâu rồi. Anh không chúc mừng người phụ nữ nào cho tới khi cô ta nói hẳn ra là cô ta đang mang bầu. Em dành ra vài phút mỗi ngày để lặng lẽ hối hận vì sự lười biếng thậm chí còn chẳng hề tồn tại của bản thân. Lẽ ra anh nên tha thứ cho những lỗi lầm mà em không hề mắc phải.

Hễ gặp chuyện khẩn cấp là em kém kinh khủng. Em lại rất giỏi về vở “Vườn cherry”(1). Anh thường chẳng bao giờ phàn nàn, vì anh ghét phải đối đầu, và bởi mọi thứ thường thường khá ổn với anh. Em đã không thể chạm tới đại dương mỗi khi đêm về. Anh đã mất dấu giọng nói của anh ở đâu giữa máy điện thoại của anh và của em. Em chẳng bao giờ đứng cạnh cửa sổ trong các bữa tiệc, nhưng em vẫn luôn ở gần phía cửa sổ. Anh phát điên lên vì những lời nói tử tế. Anh chỉ không xem bản tin dưới tầng hầm thôi. Em đã nỗ lực phi thường để khiến mọi thứ trông thật dễ dàng. Anh thì rất dở trong việc ghi nhận nỗ lực của mọi người. Em không có tài làm vườn, nhưng em không hài lòng với cảm giác không hài lòng ấy. Anh đã luôn thấy chỉ cần một cái áo đẹp, hoặc một cái gì đó mà anh chẳng bao giờ có. Em bị tổn thương quá nhiều bởi những điều đã xảy ra từ lâu lắm nên bây giờ làm gì cũng thấy khó khăn. Anh đã luôn loay hoay để hai tay khỏi lóng ngóng. Em thì lúc nào mà chả mê mẩn những món quà bất ngờ. Phần lớn là anh chỉ đùa thôi.

Anh không thường xuyên bất an, chỉ hay nghĩ về ngày tận thế. Em thì cứ hết tìm từ rồi lại tra đến khoá(2). Anh không sợ yên tĩnh; anh chỉ ghét nó thôi. Nên tay anh toàn để tay trong túi quần, lần sờ cái điện thoại mà anh chẳng bao giờ trả lời. Em không hà tiện hay khéo dùng dụng cụ, đơn giản chẳng làm được gì khi vắng mặt anh. Anh chưa bao giờ thờ ơ với lũ nhóc con của người lạ, mà bực bội bởi mình cứ không ngớt lạc quan. Em đã chẳng hề ngạc nhiên khi mà, đêm hôm qua ấy ở Norfolk, anh lái xe đưa em tới hồ Tobey Pond, nắm tay đưa em đi xuống con dốc có hàng cây mâm xôi và băng qua mấy cái ván mục để tới chỗ những chòm sao soi bóng trên mặt nước. Sẻ chia hạnh phúc cho nhau lại làm niềm hạnh phúc của em giảm đi. Anh đã không khiêu vũ ở đám cưới chúng mình, còn em thì không phát biểu. Chẳng chút nào trong anh cảm thấy hồi hộp buổi sáng hôm ấy cả.

Khi em thét lên chẳng vào mặt ai, anh hát cho em nghe. Khi em cuối cùng cũng chìm vào giấc ngủ, người y tá đưa thằng bé đi tắm, và rồi, vẫn say ngủ, em vươn tay ra.

Thằng bé ngủ không đến nỗi tệ. Anh đã không công nhận với ai rằng anh không có khả năng ở bên cạnh nó hay bất kì người nào. Em đã không bị choáng ngợp nhưng thực sự kiệt sức. Anh không sợ lăn đè vào con khi anh ngủ, nhưng nhiều đêm anh thức giấc biết chắc rằng thằng bé đang nằm yên trên sàn. Anh khoái phá hỏng mọi thứ. Em yêu những đôi tất tí hin. Em đã không bị trầm cảm, nhưng em chẳng hạnh phúc. Anh không bào chữa gì cho mình về nỗi bất hạnh của em; anh chỉ ghét nó thôi. Thằng bé chỉ vui vẻ khi có ai ôm ấp nó. Anh thích dùng búa đóng đồ đạc lên tường. Em ghét khi thiếu hụt đời sống nội tâm. Anh đã thầm tự hỏi hay thằng bé bị điếc. Anh ghét nỗi khao khát gặm nhấm trong lòng ngay cả khi anh đã có tất cả. Chúng mình đã học cách hiểu cho sự mù quáng của nhau. Anh Google những câu hỏi mà anh không thể hỏi bác sĩ hay hỏi em.

Họ khuyến khích chúng mình mua bảo hiểm. Chúng mình làm tình để đạt cực khoái. Em thích việc bọc vải. Anh đã tới phòng gym chỉ để có chỗ mà đi, rồi nhìn vào gương mỗi khi vô tình thấy điều gì anh không ưa. Em đã ghét cái giường của chúng mình. Thằng bé có thể tự đứng lên, nhưng không biết cách ngồi xuống. Họ phạt chúng mình vì rác của nhà hàng xóm. Chúng mình không thể đợi tới lúc khởi đầu và cả khi kết thúc những chuyến đi nghỉ. Anh đã không biết xem bản vẽ thiết kế và chẳng hình dung nổi cái bếp cải tạo thế nào, nên anh đứng ngoài việc ấy. Họ tới trước cửa khi chúng mình đang dùng bữa, nhưng anh đã nói chuyện với họ và cho họ.

Anh đếm ngược vài giây tới khi thằng bé thiu ngủ, và rồi lại đếm ngược vài giây khi thằng bé chuẩn bị thức dậy. Chúng mình dạo bước lặp đi lặp lại, lặp đi lặp lại tới những hàng quán quen thường khi. Ông bà nói thằng bé trông giống họ. Anh luôn xem trailer phim trên máy tính của mình. Em thì lúc nào cũng lau chùi. Anh đã luôn nghe tiếng cười của cha anh và chẳng bao giờ nhớ nổi khuôn mặt ông. Em làm trái tim mọi người tan vỡ cho tới khi em bỗng dưng không thể làm thế được nữa. Thằng bé thình lình vẽ, thình lình nói, thình lình viết, thình lình lý luận. Một buổi tối nọ anh không giúp được nó giải bài tập toán. Thằng bé lập gia đình.

Chúng mình đã tới London xem kịch. Chúng mình đã cố gắng dành thời gian để chẳng làm gì mà chỉ đọc thôi, nhưng rồi chúng mình chẳng làm gì mà chỉ ngủ. Chúng mình không bao giờ đề cập tới điều ấy, vì chúng mình còn chẳng biết nó là sao. Anh đã không làm gì ngoài việc tìm kiếm em trong suốt hai mươi bảy năm. Anh còn chẳng biết nguyên lý của dòng điện. Chúng mình đã cố gắng tránh mặt nhau càng lâu càng tốt. Anh không tự biện minh về cảm giác buồn chán trong em, nhưng nào anh có hạnh phúc gì cho cam. Anh rất vui khi những người làm việc cho anh chân thành quý mến anh. Chúng mình vẫn thường kê lại đồ nội thất và chẳng bao giờ nhìn vào mắt nhau. Anh ghét việc mình không thể tới thăm một thành phố nước ngoài nào mà không mường tượng về bất động sản. Rồi cha em qua đời. Anh vẫn thường cầm sách mà không đọc. Em chẳng lúc nào là không ở trong vườn nhà ai đó. Hai bà mẹ của chúng ta thì thèm khát được nói chuyện phiếm.

Vào một thời điểm nhất định em bị thuyết phục rằng mình đã luôn đọc báo cũ từ ngày hôm qua. Vào một thời điểm nhất định anh ngừng dằn vặt vì không được cảm thông, và trở nên quá phụ thuộc vào máy G.P.S. trên xe anh. Em không thể chấp nhận nổi một chút thạch trong hộp bơ lạc. Anh không thể chấp nhận nổi những tiếng cười ồn ào vô cớ. Vào một thời điểm nhất định anh có thể nhìn chằm chằm mà chẳng cần lý do hay lời xin lỗi. Chẳng hài hước lắm sao nếu Chúa hiện thân và trình bày về chính Người, có nhất thiết là phần lớn mọi người trên đời sẽ bị thất vọng hay không nhỉ? Vào một thời điểm nhất định em đã ngừng bôi kem chống nắng.

Làm sao anh có thể giải thích cách anh đã hờ hững với thảm hoạ hạt nhân nhưng lại sợ chết khiếp một cú ngã nhẹ? Em đã không thể chấp nhận nổi những kẻ không thể chấp nhận nổi lũ trẻ con trên máy bay. Anh thì không thể chấp nhận nổi cái bọn cứ luôn nhấn mạnh rằng một ly cà phê sau bữa trưa sẽ làm chúng nó mất ngủ cả đêm. Vào một thời điểm nhất định anh có thể nghe thấy âm thanh từ đầu gối mình và cảm thấy khỏi cần sửa lỗi ngữ pháp của người khác nữa. Làm sao anh có thể giải thích vì đâu những thành phố ngoại quốc trở nên quan trọng nhường ấy với anh? Vào một thời điểm nhất định em ngừng dằn vặt với những tham vọng của bản thân, mà vào một thời điểm nhất định em đã bỏ cuộc. Anh đã không thể chấp nhận nổi mấy tay ảo thuật gia cứ làm những trò mà người thực sự có phép thuật sẽ chẳng bao giờ làm.

Chúng mình đã sống rất ổn. Anh vẫn yêu thích các kỳ Olympic. Chuyện càng nhỏ, anh càng để cho sự đồng ý của em trở nên quan trọng với anh hơn. Người ta cứ tiếp tục làm ra những thứ mới mẻ mà thậm chí chúng ta còn chẳng thực sự cần khi chúng ta thấy cần. Anh đã cần sự đồng ý của em hơn mọi thứ trên đời. Em gái anh đã chết tại một nhà hàng. Mẹ anh thuyết phục bất cứ ai chịu lắng nghe rằng con bé vốn rất ổn. Người ta đã thay đổi bộ lọc của chúng ta. Em đã muốn được thấy ánh sáng cực bắc. Anh muốn học một tử ngữ. Em ở trong vườn, không trồng cây, nhưng cứ đứng đó. Em thả xuống hai nắm đất.

 

Và giờ đây chúng mình không như thế, thật nhanh: anh không phải hai mươi sáu tuổi còn em không phải sáu mươi tuổi. Anh không phải bốn mươi lăm hay tám mươi ba tuổi, không bị những người đi về phía biển xốc bổng lên vai họ. Anh sẽ không học đánh cờ, và em sẽ không mất trinh. Em sẽ không xếp đá cuội trên bia mộ; anh sẽ yên ổn trong vòng tay người mẹ đang an nghỉ của mình. Hà cớ gì em đã không trao trinh tiết của em cho anh nhỉ? Tại sao chúng mình không đi qua ngã tư đường sớm hơn chỉ một phần ngàn giây, và bỏ mạng thay vì cười sằng sặc? Mọi chuyện khác đã xảy ra–tại sao lại không phải là những điều có thể?

Anh đã thôi mơ mộng. Em không còn vô cảm. Anh không thích bản tin thời sự nữa, nhưng vốn dĩ anh có bao giờ thích bản tin thời sự đâu. Thêm nữa, dường như anh có thể dùng thuận cả hai tay. Lẽ ra anh đã chẳng cần cố gắng đến thế. Em bây giờ trông mới là chính em. Anh đã quá chậm chạp để thay đổi, nhưng anh vẫn thay đổi. Anh có thể đã là một tay vợt tennis bẩm sinh, như những gì mà cha anh vẫn thường nhắc đi nhắc lại.

Anh đã thay đổi và đã thay đổi, rồi ngày qua ngày anh sẽ vẫn cứ thay đổi. Anh không thất vọng, chỉ im lặng thôi. Không phải là không chịu suy nghĩ, là bất cẩn đấy thôi. Không phải là cố tình mơ hồ, mà là đang cố gắng nói theo một cách khác đi. Anh càng nhớ được nhiều, anh càng cảm thấy xa xôi. Chúng mình đi được nửa đời thật là nhanh. Sau tất cả mà như thể không có gì. Anh chưa bao giờ thực sự ở đây. Thật xấu hổ vì đã chẳng dễ dàng gì. Lãng phí gì cơ? Đúng là một trò đùa. Nhưng thôi nào. Không giải thích hay hàn gắn gì cả. Hãy bên anh ở một nơi nào đó: trên ghế quán bar này, ở rìa vách đá, trên ghế của chiếc xe đi mượn, ở mũi thuyền này, trên những chiếc gối sao-cũng-được của cái trường kỉ sờn rách trong căn nhà một tầng cũ nát cần được sửa chữa nơi mà chúng ta đã nheo mắt nhìn hàng giờ qua cửa sổ trước khi cảm xúc ập đến: “Chúng mình sẽ làm gì với căn nhà thế này đây?”

 


(1) ND: vở kịch “The Cherry Orchard” của kịch tác gia người Nga, Anton Chekhov.

(2) ND: tác giả chơi chữ, nguyên văn “You were always copying keys and looking up words.”

Copyright © 2010 by Jonathan Safran Foer.

ThKh chuyển ngữ không có sự đồng ý của tác giả.

———-

ThKh – 2019

ThKh là một bút danh khác của ChuKim, một người viết tự do, sống và yêu tại một ngôi làng mang tên thành phố. Nếu có thể, hãy ủng hộ và khích lệ bằng cách đọc và chia sẻ những gì anh viết trong khả năng của bạn. Xin cảm ơn.

– natchukim.cogaihu@gmail.com –

PS: Tất cả nội dung trong blog này đều được tuyên bố quyền sở hữu và quyền tác giả về nội dung, ngoại trừ những bài sưu tầm có đề rõ. Mọi trích dẫn, đăng lại, vui lòng ghi rõ nguồn. 

 

 

 

 

Truyện ngắn: Quả trứng – Andy Weir

Andy Weir (1972-) là một kĩ sư phần mềm người Mỹ trước khi thành công của tiểu thuyết đầu tay, Người về từ sao Hoả (The Martian – 2011), giúp ông thực hiện được mơ ước viết lách toàn thời gian.

1*fglvjrnp5xutohhtbxz28q

‘Quả trứng’ (The Egg – 2009) là truyện ngắn nổi tiếng nhất của Andy Weir. Được đăng lần đầu tiên trên website của ông Galactanet. 


Quả trứng

 

Anh chết khi đang trên đường về nhà.

Đó là một tai nạn giao thông. Chẳng có gì đặc biệt, nhưng gây chết người. Anh bỏ lại vợ và hai con. Đó là cái chết không đau đớn. Đơn vị cấp cứu đã cố gắng hết sức để cứu anh, nhưng vô vọng. Cơ thể anh nát bấy, bỏ qua nó luôn thì hơn, tin ta đi.

Và đó là khi anh gặp ta.

“Điều gì… Điều gì đã xảy ra?” anh hỏi. “Tôi đang ở đâu?”

“Anh đã chết,” ta nói, ngắn gọn. Chẳng nghĩa lý gì khi trình bày dài dòng.

“Có một… một cái xe tải, nó bị trượt bánh…”

“Đúng,” Ta nói.

“Tôi… Tôi chết rồi ư?”

“Đúng. Nhưng đừng buồn. Ai mà chẳng chết,” ta nói.

Anh nhìn quanh. Chỉ có hư vô. Chỉ có anh và ta. “Nơi này là gì?” anh hỏi. “Đây là kiếp sau ư?”

“Ít nhiều,” ta nói.

“Người là thượng đế?” Anh hỏi.

“Đúng,” ta trả lời. “Ta là Thượng Đế.”

“Các con tôi… vợ tôi,” anh nói.

“Họ sao cơ?”

“Liệu họ sẽ ổn chứ?”

“Đó là điều mà ta muốn được thấy,” ta nói. “Anh mới vừa chết và mối bận tâm của anh là về gia đình anh. Thật là tốt đấy.”

Anh nhìn ta chăm chú. Đối với anh, ta trông chẳng giống Chúa chút nào. Trông ta chỉ như một người đàn ông nào đó. Hoặc có thể là một người đàn bà. Một kẻ có thẩm quyền mơ hồ nào đó, dám lắm. Có vẻ giống một thầy giáo ngữ pháp hơn là đấng toàn năng.

“Đừng lo,” ta nói. “Họ sẽ ổn thôi. Các con anh sẽ nhớ về anh như một người cha hoàn hảo. Chúng đã làm gì có lúc nào mà cảm thấy coi thường anh. Vợ anh bề ngoài sẽ khóc, nhưng trong thâm tâm thì được giải thoát. Công bằng mà nói, cuộc hôn nhân của anh đang đổ vỡ. Nếu như có bất kì sự an ủi nào, thì đó là về việc cô ta sẽ cảm thấy day dứt vì đã cảm thấy như vậy.

“Ồ,” anh nói. “Vậy tiếp theo là gì? Tôi sẽ lên thiên đàng hay xuống địa ngục hay sao?”

“Đều sai,” ta nói. “Anh sẽ được tái sinh.”

“À,” anh nói. “Vậy là những người Ấn Độ giáo đã đúng.”

“Mọi tôn giáo đều đúng theo cách riêng,” ta nói. “Đi với ta nào.”

Anh theo ta và chúng ta băng qua khoảng không. “Chúng ta đang đi đâu đây?”

“Không đâu cụ thể cả,” ta nói. “Chỉ đơn giản là vừa đi bộ vừa chuyện trò cho vui.”

“Vậy điều mấu chốt là gì?” anh hỏi. “Khi tôi được sinh ra lần nữa, tôi sẽ như một tờ giấy trắng, phải không? Một đứa bé. Như thế tất cả kinh nghiệm và mọi điều tôi đã làm ở kiếp này sẽ không còn quan trọng nữa.”

“Không hẳn!” ta nói. “Trong sâu thẳm anh vẫn có tất cả kiến thức và kinh nghiệm của tất cả các tiền kiếp. Anh chỉ chưa nhớ ra ngay đó thôi.”

Ta dừng bước và đặt tay lên vai anh. “Tâm hồn anh tráng lệ, đẹp đẽ và lớn lao hơn anh có thể hình dung. Tâm trí con người chỉ có thể chứa đựng một phần nhỏ vô cùng của chính anh. Giống như thể thò ngón tay vào trong cốc nước để xem nước nóng hay lạnh. Anh chỉ đưa một phần nhỏ bé của cơ thể anh vào cốc nước, và khi anh rút tay ra, anh thấu hết những gì mà chiếc cốc đã trải nghiệm.”

“Anh đã làm người trong 48 năm vừa rồi, thế nên anh chưa đi đủ xa để cảm nhận được ý thức bao la của mình. Nếu chúng ta ở đây cùng nhau đủ lâu, anh có thể bắt đầu nhớ lại mọi chuyện. Nhưng chẳng có nghĩa lý gì khi làm vậy giữa những kiếp sống.”

“Vậy tôi đã được tái sinh bao nhiêu lần rồi?”

“Ồ rất nhiều. Không sao xể xiết. Qua rất nhiều kiếp sống.” ta nói. “Lần này, anh sẽ là một thôn nữ Tàu vào năm 540 trong Công Nguyên.”

“Đợi đã, gì cơ?” anh lắp bắp. “Người sẽ gửi tôi về quá khứ?”

“Chà, về mặt kĩ thuật thì đúng vậy. Thời gian, với những gì anh biết về nó, chỉ tồn tại trong thế giới của anh thôi. Ở quê hương của ta, mọi thứ không giống như thế.”

“Người đến từ đâu?” anh nói.

“Phải rồi,” ta giải thích “Ta đến từ một nơi. Một nơi nào đó khác cơ. Và có những kẻ khác giống như ta. Ta biết anh sẽ muốn biết nơi đó như thế nào, nhưng thành thực mà nói anh sẽ không hiểu đâu.”

“Ồ,” anh nói, hơi thất vọng. “Nhưng gượm đã. Nếu như tôi được tái sinh vào những thời điểm khác trong dòng thời gian, một lúc nào đó tôi có thể tương tác với chính mình.”

“Hẳn rồi. Vẫn xảy ra suốt ấy mà. Và cả hai sinh mạng chỉ nhận thức được cuộc sống của chính nó mà thôi, anh còn chẳng biết điều đó đang xảy ra.”

“Vậy tất cả có nghĩa lý gì?”

“Thật sao?” ta hỏi. “Thật vậy sao? Anh đang hỏi ta về ý nghĩa của cuộc sống sao? Chẳng phải câu hỏi ấy hơi rập khuôn ư?”

“Câu hỏi hợp lý thôi mà,” anh khăng khăng.

Ta nhìn vào mắt anh. “Ý nghĩa của cuộc sống, mục đích mà ta tạo nên cả thế giới này, là để cho anh trưởng thành.”

“Ý người nói nhân loại? Người muốn chúng tôi trưởng thành?”

“Không, chỉ anh thôi. Ta tạo nên cả thế giới này cho anh. Với mỗi kiếp sống, anh lớn lên và trưởng thành và trở thành một trí tuệ lớn hơn, vĩ đại hơn.

“Chỉ mình tôi? Những người khác thì sao?”

“Không có ai khác cả,” ta nói. “Trong thế giới này, chỉ có anh và ta.”

Anh ngây người ra nhìn ta. “Nhưng biết bao người trên trái đất…”

“Đều là anh. Những hiện thân khác nhau của anh.”

“Gì cơ. Tôi là mỗi người!?”

“Bây giờ thì anh đang giác ngộ rồi đấy,” ta nói, vỗ vào lưng anh chúc mừng.

“Tôi là tất cả những ai từng tồn tại?”

“Hoặc là những ai sẽ tồn tại, đúng thế.”

“Tôi là Abraham Lincoln?”

“Và anh cũng là John Wilkes Booth nữa,” ta thêm vào.

“Tôi là Hitler?” Anh nói, bàng hoàng.

“Và cũng là hàng triệu người hắn ta tàn sát.”

“Tôi là Jesus?”

“Và cũng là mỗi môn đồ của ông ta.”

Anh im lặng.

“Mỗi khi anh làm hại ai đó,” ta nói, “anh đang làm hại chính anh. Mỗi việc tốt anh làm, anh làm cho chính anh. Mọi khoảnh khắc hạnh phúc hay buồn bã từng được trải nghiệm bởi bất cứ ai trong quá khứ, hay tương lai, đều được cảm nhận bởi chính anh.”

Anh suy nghĩ hồi lâu.

“Tại sao?” anh hỏi ta. “Tại sao lại thực hiện tất cả những điều này?”

“Vì một ngày nào đó, anh sẽ trở nên giống như ta. Bởi đó chính là anh. Anh thuộc về giống loài của ta. Anh là con của ta.”

“Chà,” anh nói, hồ nghi. “Người nói tôi là một thượng đế?”

“Không. Chưa đâu. Anh là một bào thai. Anh vẫn đang lớn lên. Một khi anh trải qua hết mọi kiếp người trong suốt lịch sử, anh sẽ đủ lớn để được sinh ra.”

“Vậy là cả thế giới này,” anh nói, “chỉ là…”

“Một quả trứng.” ta trả lời. “Giờ là lúc để anh tiến tới kiếp sau của mình.”

Và ta đưa anh vào hành trình của anh.

 


Copyright © 2009 by Andy Weir.

ThKh chuyển ngữ không có sự đồng ý của tác giả.

———-

ThKh – 2019

ThKh là một bút danh khác của ChuKim, một người viết tự do, sống và yêu tại một ngôi làng mang tên thành phố. Nếu có thể, hãy ủng hộ và khích lệ bằng cách đọc và chia sẻ những gì anh viết trong khả năng của bạn. Xin cảm ơn.

– natchukim.cogaihu@gmail.com –

PS: Tất cả nội dung trong blog này đều được tuyên bố quyền sở hữu và quyền tác giả về nội dung, ngoại trừ những bài sưu tầm có đề rõ. Mọi trích dẫn, đăng lại, vui lòng ghi rõ nguồn. 

 

 

 

Tôi chỉ đang cố bớt ngu đi một chút.

Tiêu đề là câu nói của Jeffrey Eugenides, tác giả cuốn tiểu thuyết Middlesex đoạt giải Pulitzer năm 2002, trong bài phỏng vấn Nghệ thuật tiểu thuyết (The Art of Fiction) do James Gibbons thực hiện. Nguyên văn bản Việt ngữ như sau:

‘Tuy nhiên, tôi lên đại học mà chẳng biết gì nhiều. Cho đến những năm tuổi 20 tôi mới trở thành một người đọc nghiêm túc. Những năm giữa tuổi 20 và 30, tôi đọc ngấu đọc nghiến, đọc nhiều hơn bất cứ khoảng thời gian nào trong đời. Tôi chỉ đang cố bớt ngu đi một chút.‘ (Chiêu Dương dịch).

Khi đọc đến đây, mình đang trải qua năm thứ 31 sống trên đời, tức là mình đã 30 tuổi rồi. Cuốn Middlesex lừng danh ấy mình chưa đọc. Mình sẽ đọc. Mình chỉ đang nghĩ về việc đọc nghiêm túc, và về việc trở thành một người đọc nghiêm túc.

Bây giờ tầng lớp thanh niên khởi nghiệp hay có cái thú kể lể về khối lượng sách họ tiêu thụ trong một khoảng thời gian. Ví dụ như có cái anh gì cũng nổi tiếng, được xã hội coi là ưu tú tài năng, lên mạng kể một tháng tôi đọc hai cuốn sách, muốn vượt qua tôi, bạn phải đọc một tháng bốn cuốn sách. Mặc dù anh không nói anh đọc sách gì và đọc như thế nào, nhưng như thế cũng tốt, ít nhất là tốt cho các nhà xuất bản.

Ở phía đối lập là trường phái khinh bỉ phong cách thống kê, họ thường bĩu môi nhếch mắt nói về chuyện đọc ít mà chất, nôm na là nhấn mạnh vào phương pháp đọc, đại để có thể kể tới những kĩ năng thưởng thức, tinh thần phê phán, khả năng phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá, vân vân và vân vân.

Mình đứng giữa, thấy bên nào cũng có cái hay, quả nhiên đọc không nhất thiết phải nhiều, mà cần trọng về giá trị và sự suy tưởng, tuy vậy nếu vừa đọc chất lượng mà vừa đọc được nhiều thì chẳng phải nhất cử lưỡng tiện hay sao, chẳng cớ gì mà phải nhăm nhăm yêu con gái nhà người ta, chén thôi cũng được mà. Đùa đấy, vừa yêu vừa chén, đỉnh cao mỹ vị ái tình nhân gian, lại được tiếng là có đạo đức.

Nhìn lại, mình thấy mình sở học làng nhàng, việc đọc cái gì cho ra hồn, phần lớn thời gian là dựa vào bản năng và sự cóp nhặt qua ngày rộng tháng dài, thỉnh thoảng vẫn hay ra vẻ cao đạo mà mở mồm ra khuyên nhủ người này người kia đọc đi, bằng cách ném ra vài danh mục sách, nói chung là tào lao và không có mấy tác dụng. Thân mình lo còn chưa xong, bày đặt khai dân trí (!!).

Năm vừa rồi mình đọc cũng được vài cuốn tự thấy khá thú vị, hôm nay, một buổi tối cuối năm dương lịch lạnh tái tê, mình không có người con gái tri kỉ nhèo nhẽo làm phiền, không có người anh em xương máu hàn huyên dè bỉu cuộc đời, không có gia đình ồn ào giục mình việc này việc nọ, mình ngồi một mình trong phòng làm việc, theo kiểu một chàng trai – hai tay tái lạnh – chỉ có gió với hơi mưa vừa tạnh ra cái chiều lãng mạn bí ẩn lắm, quyết định kể cho các bạn nghe một chút về miền chữ nghĩa mình đã đi qua trong 365 ngày vừa rồi.

  1. Tiểu thuyết

Mình đọc được một cuốn phải nói là hay, đó là cuốn Thời nắng lịm (In times of fading light – 2011) của tiểu thuyết gia người Đức Eugen Ruge. Cuốn này nói về sự thay đổi của xã hội nước Đức từ giai đoạn chia cắt Đông-Tây cho đến khi bức tường Bá Linh sụp đổ và trở thành nước Đức thống nhất thông qua những diễn biến nội tâm của các thành viên một gia đình Đông Đức điển hình. Ông Eugen Ruge viết cuốn này là cuốn đầu tay, xuất bản năm ông ấy 57 tuổi, chi tiết này làm mình cảm thấy được khích lệ vô cùng, đấy, ở cái tuổi ấy người ta vẫn có thể xuất đầu lộ diện và thành công ngay lập tức. Mình rất hài lòng với chi tiết này và lừa bịp bản thân suốt mấy tuần bằng cách lờ đi bảng thành tích dày cộp với những năm tích luỹ trước đó của ông Ruge.

Cuốn này được dịch giả Hoàng Đăng Lãnh dịch rất đỉnh, ngôn ngữ mượt mà uyển chuyển, vừa hiện đại lại vừa ra được mùi xã hội chủ nghĩa. Nói chung mình không định viết review sách, bạn nào thích thì có thể tự tìm trên mạng hoặc mua luôn mà đọc, trên mạng có bức ảnh nhà văn Eugen Ruge và dịch giả Hoàng Đăng Lãnh chụp chung nom rất nghệ khi ông tác giả tới Việt Nam tham gia giới thiệu sách, chỉ bật mí là mình đã bật cười khi đọc đoạn tranh cãi giữa hai nhân vật cha con, ông bố là người của xã hội Đông Đức còn sót lại, ông con thanh niên đang khi tận hưởng sự cởi mở của xã hội tự do mà phương Tây mang lại. Đọc mà thấy bồi hồi nhớ tới những trận cãi vã không bao giờ có điểm kết giữa mình và bố mình. Quả nhiên là ở đâu thì những cặp cha con cũng sẽ đều cãi nhau về đề tài này mà thôi. Trừ những cặp cha con sợ hãi chính trị và đéo dám ấn like trên mạng, hehe.

IMG_6654

Ngoài ra còn có cuốn Chiếc cầu trên sông Drina (The bridge on the Drina – 1945) của nhà văn Nam Tư cũ, Ivo Andritch, ông này ăn Nobel văn học 1961. Cuốn này nói về giai đoạn lịch sử kéo dài 300 năm của xứ Bosnie-Herzégovine, kéo dài từ khi cây cầu bắc qua sông Drina được xây dựng cho tới khi chịu đựng phá huỷ trong chiến tranh, những sự kiện và những kiếp người gắn liền với cây cầu này, không có nhân vật chính, không có nhân vật phản diện, tất cả là một dòng chảy cuồn cuộn của nhân sinh ái ố hỉ nộ. Bản Việt ngữ do cụ Nguyễn Hiến Lê dịch. Mới chỉ biết đến đây thôi là mình đã ưng lắm rồi, huống hồ cuốn này còn được Phạm Công Thiện phân tích rất hay trong chương IV cuốn Ý thức mới trong văn nghệ và triết học (mình đọc bản in lại và chỉnh sửa năm 1970).

Phải làm sập đổ tất cả nhịp cầu trong đời mình. Đừng mong muốn bắc cầu lại, hãy để sự ngăn cách được là ngăn cách. Chịu đựng sự phân ly, yêu thương sự phân ly. Muốn bắc lại một nhịp cầu là muốn tìm lại khói nhà xưa, tìm lại cái gì đã bay lên và bay mất. (Phạm Công Thiện)

Khi đọc những dòng này, mình đâu biết rằng một mối tình sẽ đến và đi theo cách day dứt nhưng chẳng hề đem lại niềm ngạc nhiên le lói nào.

20727

  1. Truyện ngắn

Cuốn Dạ khúc: Năm câu chuyện về âm nhạc và đêm buông (Nocturnes: Five stories of music and nightfall – 2009) củng cố vững chắc niềm tin của mình về việc muốn viết văn hay và vẽ được đẹp thì người ta không thể nào sở hữu thẩm mỹ âm nhạc tồi tàn cho được. Về sau đọc thêm tiểu luận, mình biết ông Kazuo Ishiguro (Thạch Hắc Nhất Hùng), kẻ mà đã ăn giải Nobel văn chương 2017 nghe nhạc rất có gu, thậm chí còn có lúc tham gia làm nhạc, lại cũng thích Tom Waits lè nhè như mình, mình lấy đó làm hỉ hả lắm. Điều làm mình thán phục là bản dịch các tác phẩm của ông Thạch Hắc này đã xuất hiện rất lâu trên sạp trước khi anh ta ăn giải Nobel, điều đó chứng tỏ công tác làm bìa sách thực sự có vấn đề mà những dịch giả, biên tập, nói chung là những người làm công tác xuất bản ở xứ này cần trau dồi lại về thẩm mỹ đồ hoạ một cách nghiêm túc. Lắm khi chỉ vì cái bìa xấu mà người ta sẽ hờ hững lướt qua tác phẩm không một chút đắn đo, nhất là giữa một thị trường vàng thau lẫn lộn như hiện tại.

dakhuc1-1378713674.jpg

Nhắc đến đây, mình không thể bỏ qua cuốn Zoo – 2003 của Otsuichi. Một cuốn sách với cái bìa rẻ tiền vô cùng, và cho đến khi bạn nhìn thấy cuốn Calling you của anh ta thì bạn sẽ như mình, không tiếc lời mạt sát sự vớ vẩn của thằng nào duyệt cho in cái bìa như vậy. Tuy nhiên, Zoo là một tập truyện ngắn thực sự khiến mình bất ngờ về sự thú vị, Otsuichi quả nhiên là dạng tài năng đặc biệt, người đã miệt mài ngẫm nghĩ và viết lách ngay từ độ tuổi phổ thông, khi mà bạn bè anh ta đang mải mê với video game và những trò thể thao hấp dẫn khác.

IMG_6655

Cũng may, Ishiguro đã đoạt giải Nobel văn học trong khi mình vẫn mải mê lôi Haruki Murakami ra làm trò đùa với bọn bạn, và một bạn đã tặng mình cuốn Zoo, nên mình mới biết tới hai thanh niên một già một trẻ, một gốc Nhật nhưng đậm chất Anh hơn cả những nhà văn Anh, và một thì thuần Nhật với dáng vẻ của một otaku chính hiệu.

  1. Lịch sử

Ấn tượng nhất là hai cuốn Sapiens: Lược sử loài người (Sapiens: A brief history of humand kind -2011)Homo Deus: Lược sử tương lai (Homo Deus: A brief history of tomorrow – 2015) của thiên tài Do Thái Yuval Noha Harari.

Hai cuốn này là dạng sách nghiên cứu với lối viết phảng phất nét văn chương nên mình đọc say sưa, bỏ qua luôn thói quen cứ đọc một cuốn nghiên cứu lại đọc một cuốn văn học cho đỡ chán. Thanh niên thiên tài Harari này đem đến cái nhìn rất sống động về thế giới như nó đã là, thế giới như nó đang là và thế giới như nó có thể sẽ là. Hai cuốn gây xôn xao trong giới thích đọc sách, tất nhiên người khen không ít và kẻ chê cũng cực nhiều, mình trong giới hạn vài chữ ngắn gọn không thể đưa ra hết lời đánh giá, mà thật ra chủ yếu do kiến thức hạn hẹp không đủ trình độ để phê bình một cách sắc sảo như nó nên là. Được cái mình cảm thấy cái nhìn về tổng thể thế giới loài người đã có bước chuyển khoáng đãng hơn nhiều sau khi đọc hai cuốn sách này, tất nhiên khi đọc mình luôn cố gắng giữ thái độ nghi ngờ tác giả và thậm chí coi thường dịch giả để có thể đảm bảo sự tỉnh táo khi đón nhận thông tin. Harari sau khi đi một vòng từ quá khứ tới tương lai, nói đại ý nếu bạn cảm thấy tương lai thật tăm tối thì hãy cứ lạc quan lên, mọi lời dự đoán về những gì chưa xảy ra, mục đích chính là để chúng ta làm cho nó không trở thành hiện thực, chứ nếu để nó thành hiện thực thì việc dự đoán thật vô nghĩa biết bao. Mình liên tưởng ngay tới việc người ta hay nói ra rả trên tivi về chuyện nước ta chắc chắn sẽ tiến lên chủ nghĩa xã hội. Hay ghê!!

IMG_6656

Bên cạnh đó, mình còn thích cuốn Xứ Đông Dương (L’ Indo-Chine Français – 1904), tự truyện của ông Paul Doumer, toàn quyền Đông Dương giai đoạn 1897-1902. Đây cũng là cuốn sách với lối viết đậm chất văn, mình khuân về đọc, nặng quá phải nhờ bạn mình sắm cho cái giá đỡ để chuyên tâm theo dõi câu chuyện của một đại nhân vật đã có những hoạt động để lại dấu ấn cực kì quan trọng trên xứ sở này. Nhiều chuyện ông Paul Doumer kể rất hóm hỉnh, như chuyện người dân An Nam ở một vùng quê và con hổ, hay chuyện ông bị ám ảnh với loài muỗi như thế nào. Đọc đến đâu thán phục đến đấy, quả nhiên là một trí tuệ lớn, nếu dựa trên những gì ông Doumer viết thì cung cách của ông trong cuộc sống và công việc đã vượt xa các lãnh đạo đảng và nhà nước ta bây giờ, những người đã đánh đuổi thực dân Pháp làm cho giấc mộng biến nước Nam trở thành một bang dùng hộ chiếu Pháp của những người da trắng tan tành.

Cuốn sách này gặp phải nhiều lỗi về dịch thuật, sau này mình tìm hiểu và tra soát lại mới phát hiện ra, sai cả về câu chữ lẫn thông tin, tuy không lớn nhưng rất đáng trách. Dù sao thì khi tái bản, đơn vị làm sách đã có động tác sửa sai, cái này đáng ghi nhận.

IMG_6657

  1. Chính trị

Năm vừa rồi điểm sáng trong mảng này là cuốn Chính trị bình dân – 2018, tác giả là nhà báo Phạm Đoan Trang mà mình rất kính trọng. Nói chung, đọc đến đây (nếu còn đọc đến đây), nhiều bạn chắc hẳn sẽ không mấy bận tâm, vì chính trị, suy cho cùng, nó là một cái gì đó xa xôi và khó thay đổi vô cùng trong quan niệm của chúng ta. Nếu đúng là bạn nghĩ vậy thì chúc mừng, đây là cuốn sách dành cho bạn, nó cung cấp những khái niệm cơ bản theo cách gần gũi nhất, với những ví dụ về ngay những gì đang diễn ra ở đất nước Việt Nam.

Đây là một đề tài khó viết, khách quan mà nói thì mình không cho rằng nó là cuốn sách dễ đọc, nhưng nó khó đọc vì sự khô khan của hàng loạt chương mục, hàng loạt khái niệm đòi hỏi đầu óc phải hoạt động, suy tư để phát triển cái nhìn tổng quát nhằm nâng cao kiến thức cho bản thân, chứ không phải vì sự khó hiểu. Nếu bạn đọc cuốn này mà còn cảm thấy khó hiểu thì có lẽ thứ duy nhất còn phù hợp với bạn là cái blog này của mình mà thôi (haha).

1412f711-6a7d-44dc-843e-61639d03ce1f.jpeg

  1. Tạp chí

Từ trước đến giờ, mình ít khi coi tạp chí. Phần vì không có thời gian và cơ hội tiếp cận với những tạp chí chất lượng cao, phần vì đọc sách còn chưa hết, tạp chí là một cái gì đó rất phù du mơ hồ mà thôi. Tuy vậy, suy nghĩ của mình đã thay đổi, ấy là khi mình biết tới tạp chí Zzz Review do Bên phía nhà Z, tức madame Z chủ biên.

Sức đọc của một người nếu đo đếm thì ngoài kia đầy rẫy những kẻ thiên kinh vạn quyển, mà đọc là đọc thực sự, đọc hiểu chứ không phải kiểu đọc lấy đó làm vui, ừ thì cũng có vui, nhưng bên cạnh vui còn có cả suy ngẫm. Đó là mình ba hoa vậy, vì mình thấy mình là thành phần đọc kém và chậm, thế nên việc ở Việt Nam xuất hiện một tạp chí review văn học khiến mình rất thích thú, nhất là khi chất lượng của nó không tồi chút nào, nếu không muốn nói là quá ổn (ở thời điểm hiện tại). Nhờ có Zzz Review mà mình biết thêm khá nhiều cuốn hay và biết lặng lẽ bỏ tiền ra mua về để thành chồng cao nghệu trên bàn cho đẹp mắt chứ đọc chưa hết nổi. Cũng nhờ tạp chí này mà mình nhận ra thị trường sách Việt Nam bị thống trị bởi văn học dịch, văn học Việt Nam vẫn sống, nhưng thiếu những tác phẩm lớn và thiếu cả những tính cách như đã từng có trong quá khứ, cái này là hậu quả của việc kiểm duyệt xuất bản mình rất ghét, tự hứa với lòng sẽ coi biên tập viên như kẻ thù, nếu sau này có cơ hội làm việc cùng, hihi. Nói năng linh tinh vui vẻ thế, chứ đó thực sự là vấn đề nhức nhối, không chỉ ở Việt Nam mà còn ở bên Tàu, nơi đã sản sinh ra dòng ngôn tình, trước đây văn học Tàu đã không có gì thu hút mình, bây giờ thêm ba cái thể loại ấy, mình càng chẳng để trong mắt, biết là sẽ bỏ lọt viên ngọc nhưng thôi cũng kệ, thế gian thiếu gì ngọc.

Tạp chí ZZZ Review khá đa dạng về thể loại bài viết, có phê bình, phỏng vấn, điểm sách, vân vân. Và tất nhiên, gạn đục khơi trong ta sẽ có thượng vàng hạ cám. Có những bài viết hay giúp mình biết thêm các tác giả tác phẩm mà trước đó mình chưa nghe tới bao giờ (Eugen Ruge ở trên là một ví dụ) thì cũng có những bài khiến mình chỉ muốn đập mẹ cái kindle của mình đi cho rồi. (Lại) tất nhiên, mình không đập kindle nên mình đã chọn cách chịu đựng cảm giác buồn nôn cho đến hết bài viết. ‘Một sự thật cá nhan bị dồn nén tận đáy của ý thức’: Lối viết và tiếng nói nữ trong ‘Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ’ của tác giả Võ Bảo Trâm là một ví dụ. Mình bực đến nỗi lên mạng viết vài dòng xả nỗi cay cú vì kí ức về lối viết văn mẫu dưới mái trường xã hội chủ nghĩa thân yêu bị khơi dậy. Nay kể ra đây, hi vọng không làm ai mích lòng.

Screen Shot 2018-12-31 at 10.23.24 PM

 

Tổng kết:

Năm vừa rồi mình cũng gọi là chịu khó đọc sách, đã biết bỏ tiền ra mua kindle để thay đổi thói quen sử dụng sách giấy, sau đó mê tít phát minh vĩ đại này của bọn tư bản giãy chết, tức đất nước không có vua nhưng hay bị gọi là đế quốc trong sách giáo khoa. Mình đã cố gắng không biến những thời khắc lười biếng trở thành vô nghĩa với những màn chơi bời vớ vẩn, mặc dù mình vẫn rất hay chơi bời vớ vẩn. Mình cũng nhận ra là đã hoàn toàn không đọc cuốn sách ngoại ngữ nào (cụ thể chính là tiếng Anh, ngoại ngữ duy nhất mà mình biết, một cách sơ sài), mình hoàn toàn đọc sách dịch và sách viết bằng tiếng Việt, năm tới mình sẽ cố gắng khắc phục điểm này. Ngoài ra, việc đọc các truyện ngắn, tiểu luận, bút kí, diễn từ, tóm lại là đọc trên mạng cũng là một trải nghiệm kì diệu đem lại cho mình những xúc cảm mãnh liệt hơn mình có thể hình dung trước đây. Xin cảm ơn tất cả những người đã chia sẻ miễn phí thành quả lao động của họ để những người như mình có được cơ hội được đắm mình trong chữ nghĩa tuyệt đẹp như vậy trong đời. Trong khuôn khổ những lời tâm tình này, mình không thể liệt kê hết những đường link cần thiết, trong tương lai nếu có đủ điều kiện mình sẽ tìm cách thực hiện và ủng hộ, mong mọi người thứ lỗi cho mình của ngày hôm nay.

Những giờ phút cuối cùng của năm 2018, nghĩ lại, thấy mình đã may mắn bớt ngu đi một chút.

———-

ChuKim – 2018

ChuKim là bút danh của một người viết tự do, sống và yêu tại một ngôi làng mang tên thành phố. Nếu có thể, hãy ủng hộ và khích lệ bằng cách đọc và chia sẻ những gì anh viết trong khả năng của bạn. Xin cảm ơn.

– natchukim.cogaihu@gmail.com –

PS: Tất cả nội dung trong blog này đều được tuyên bố quyền sở hữu và quyền tác giả về nội dung, ngoại trừ những bài sưu tầm có đề rõ. Mọi trích dẫn, đăng lại, vui lòng ghi rõ nguồn. 

 

 

 

 

 

 

Con chuột sắp sửa lao ra từ miệng cống

Con chuột sắp sửa lao ra từ miệng cống. Nó tập trung quan sát hai dòng xe đang vun vút ngược xuôi. Ánh sáng, bóng đổ, hàng cây, gió, tiếng xe, tiếng người, sự rung động của từng sợi lông trên người con chuột. Lao ra từ miệng cống bên này, hướng về phía miệng cống bên kia, ở giữa hai điểm đầu cuối ấy là con đường ầm ầm xe cộ, đó là hoạt động mạo hiểm đỉnh cao mà một con chuột thành phố có được.

Nó không làm thế để sinh tồn. Không gian sống của nó trong thành phố này không thiếu chỗ để nó kiếm thức ăn. Mấy căn nhà quen mà nó vẫn thường đột nhập, thùng rác có nắp đậy lỏng lẻo, phòng ngủ bừa bộn của đám trẻ con thành phố đầy vụn thức ăn vặt vương vãi trong xó nhà. Điểm vứt rác của loài người trong khi chờ xe rác tới thu gom, có thể là cột điện ở một khu dân cư, có thể là cửa sau một quán ăn, hay có thể chỉ là một mảng tường chung không cha không mẹ, không xuất xứ, không danh tính. Hôi thối, rỉ nước, đầy hấp dẫn.

Nó càng không làm thế để thể hiện bản thân nhằm tranh giành bạn tình. Để có thể có thể làm tình với tần suất thần thánh mỗi tuần lễ và xét về mức độ thành công trong cuộc cạnh tranh để truyền lại mã gien của mỗi cá thể sang thế hệ tiếp theo với tỉ lệ khiến loài người phải ghen tị, loài chuột hẳn phải rất mãnh liệt trong việc lang chạ và bắt cặp trong mỗi chuyến truy hoan. Một bờ tường, một nóc nhà, một bờ bụi tĩnh mịch, một bóng đêm vang vọng âm thanh của cả chuột và người. Chẳng phải điều chúng bận tâm.

Con chuột cũng không làm vậy để cuộc sống của nó thêm phần mạo hiểm. Bản thân sự tồn tại của nó ở thành phố này đã là một sự mạo hiểm với trập trùng cạm bẫy phải đối mặt qua từng khoảnh khắc. Đánh bằng gậy, hay bằng chổi, hình thức này cũng tàn nhẫn không khác gì việc bị tấn công bởi mèo, hay chó, hay một loài săn mồi bí ẩn nào đó vẫn luôn tồn tại nơi góc khuất tầm mắt con người, con chuột sẽ bị hất văng đi, có khi là hất tung lên, rồi rơi bịch xuống, có thể chết ngay, nếu may mắn, hoặc sẽ thoi thóp và cảm nhận từ từ cái chết đang đến với mình. Bẫy dính, nơi nó sẽ nằm im, thở nhẹ, giẫy giụa, rít lên, rồi lại nằm im, thở nhẹ, vẫn hướng về miếng thịt hay viên kẹo, mùi của sự sống cuộn lên từ mẩu thức ăn chỉ cách nó một chút. Đánh bả, loài người có thứ bẫy này thật nham hiểm, con chuột sẽ được ăn, rồi sau đó, thay vì tiếp tục tìm thức ăn để truy cầu một ngày mới, nó sẽ cảm thấy đau, cảm giác khô nóng dồn lên trong người, nó quằn quại lao đi tìm nguồn nước để làm dịu đi sự khó chịu đang dâng trào, và khốn nạn nhất là nó sẽ chết ở một địa điểm khác, nơi mà con người sẽ nguyền rủa hàng xóm của hắn ta, và tất nhiên, chửi cả cái xác đang bốc mùi của con chuột.

Con chuột hít một hơi quyết liệt, mắt nó trợn lên, nó đã nắm bắt được sát na mà mọi vật đều dừng lại, cây cối ngừng xào xạc, những làn xe ngừng điên cuồng, tia nắng ngừng chuyển động, và một con đường sáng đã mở ra phía trước. Toàn thân con chuột co rúm lại rồi bắn vọt về phía trước. Nó lao ra khỏi miệng cống, nó băng qua đường với tất cả lòng dũng cảm mà một con chuột có thể có được. Chỉ cần qua được bờ bên kia, nó sẽ có thêm cơ hội để đầu thai sang một kiếp sống khác, trở thành một sinh mệnh khác. Một con bướm dập dìu rong chơi; một con ong với nọc độc có tính sát thương; một cánh chim báo bão kiêu hãnh sải cánh lướt đi trong gió; một con mèo quý tộc không ăn gì ngoài thức ăn nhân tạo; một con cá cả đời không cần biết tới cái nóng hầm hập ngày hè; một con người, biết đâu đấy, với thọ mệnh dài gấp bảy mươi lần một con chuột; hay chí ít, nó có thể trở thành một con chuột chúa tể của thế giới loài chuột.

Đó là những gì mà giống loài của nó truyền cho nhau. Nó không biết liệu đó phải chăng chỉ là một câu chuyện thần thoại của những con chuột hay chăng, nhưng hàng bao nhiêu thế hệ chuột đã sinh ra, lớn lên và chết đi, ở khắp mọi nơi, khắp mọi thành phố trên cõi đời này, chúng vẫn băng qua đường với tất cả khát vọng sống. Con chuột dồn tất cả sự dũng cảm mà nó có được vào chuyến đi này, đó là chuyến đi của cuộc đời, đó là chuyến đi không biết tới ngày mai, đó là chuyến đi của ngay giây phút này, của tất cả những gì mà nó đã được sinh ra để trở thành.

Một âm thanh vừa nhão nhoét, vừa khô khốc vang lên. Con chuột vẫn mở mắt trừng trừng, nó vừa chứng kiến cái chết của chính mình. Nó mới chỉ đi được một phần quãng đường, con đường này sao rộng quá, bánh xe nào sao nhanh quá. Nó sắp đi tới những hình ảnh cuối cùng, rồi sẽ lại có một bánh xe khác vụt qua, nghiền nát đôi mắt đã ghi dấu, đã mong mỏi, đã ngập tràn hi vọng. Con chuột bắt đầu thay đổi, cái xác của nó nằm đó, bất động, trở thành một đống bầy nhầy, rồi bay hơi dần đến khô kiệt đi, rồi phát tán thành bụi. Cho đến một lúc, nó tiêu biến hoàn toàn khỏi mặt đất.

Trở thành một dạng sống nào đó mà nó không bao giờ có cơ hội được ước ao.

———-

ChuKim – 2018

ChuKim là bút danh của một người viết tự do, sống và yêu tại một ngôi làng mang tên thành phố. Nếu có thể, hãy ủng hộ và khích lệ bằng cách đọc và chia sẻ những gì anh viết trong khả năng của bạn. Xin cảm ơn.

– natchukim.cogaihu@gmail.com –

PS: Tất cả nội dung trong blog này đều được tuyên bố quyền sở hữu và quyền tác giả về nội dung, ngoại trừ những bài sưu tầm có đề rõ. Mọi trích dẫn, đăng lại, vui lòng ghi rõ nguồn.