Một đêm sao

Khi tôi ngước nhìn bầu trời

Qua đêm đen thăm thẳm

Không một gợn mây

Nơi những vì sao nằm ngay ngắn

Thành những chòm sao mà tôi thường cười cợt

Trêu đùa những cô gái

Thích nói chuyện số mệnh

Thích tin vào bầu trời

Thích tình yêu của mình khoác chiếc áo màu nhiệm

Của sự ngẫu nhiên

 

Đó là khi

Tôi soi mình vào quá khứ

Thứ ánh sáng vọng lại từ những ngày xa xưa

Khi cây dừa trổ hoa trên bờ biển vắng

Khi con chó nhỏ ngơ ngác bên cạnh người tình của tôi

Khi mới vừa đây thôi tôi còn là đứa trẻ

Đôi mắt nhìn trong trẻo

Lên một bầu trời khác trong veo

Của một quá khứ khác u sầu nghèo đói

 

Đó là khi

Tôi đắm mình trong ánh sáng

Vọng lại từ những trận chiến giữa

Những kẻ không ai hiểu vì sao họ giết nhau

Tôi rùng mình rồi trượt đi trong ánh sáng lay lắt

Của những tháng năm ngàn vạn cuộc đời

Lấp lánh tiếng khóc tiếng cười

Của những người mẹ và những đứa con

 

Tôi tắm tưới khoảnh khắc mênh mông còn lại

Bằng ánh sáng khờ dại

Từ cái nhìn của những người mà tôi không quen không biết

Họ soi chiếu đời tôi

Cái nhìn của họ phóng đi giữa bầu trời

Lững lờ trong vũ trụ

Rồi một ngày

Sau bao lâu họ cũng không biết

Chúng tôi bất chợt nhìn nhau

Qua đêm đen thăm thẳm

Không một gợn mây

Ước mong gì

Có thể nháy mắt chào nhau

Khi một vì sao bất ngờ vụt tắt

———-

ChuKim – 2019

 

ChuKim là bút danh của một người viết tự do, sống và yêu tại một ngôi làng mang tên thành phố. Nếu có thể, hãy ủng hộ và khích lệ bằng cách đọc và chia sẻ những gì anh viết trong khả năng của bạn. Xin cảm ơn.

 

– natchukim.cogaihu@gmail.com –

 

PS: Tất cả nội dung trong blog này đều được tuyên bố quyền sở hữu và quyền tác giả về nội dung, ngoại trừ những bài sưu tầm có đề rõ. Mọi trích dẫn, đăng lại, vui lòng ghi rõ nguồn.

Truyện ngắn: Khoa học của sự trốn chạy – Yiyun Li

Yiyun Li (李翊雲– Lý Dực Vân, 1972-) là nhà văn người Mỹ gốc Hoa. Các truyện ngắn và tiểu luận của bà được đăng trên tạp chí The New Yorker, The Paris Reveiw, và Zoetrope: All-Story. Hai truyện ngắn trong tập truyện ngắn đầu tay, A thousand years of good prayers (2005), của bà được chuyển thể thành phim cùng tên do Vương Dĩnh (王穎– Wayne Wang) đạo diễn. Yiyun Li đã xuất bản hai tập truyện ngắn và ba tiểu thuyết, trong đó tiểu thuyết mới nhất của bà, Where reasons ends, ra mắt tháng Hai, 2019. Bà hiện giảng dạy tại Đại học California, Davis và Trung tâm Lewis của Đại học Princeton.

Yiyun Li (Grafilu - newyorker.com)

Tranh: Grafilu – newyorker.com

‘Khoa học của sự chốn chạy’ (The science of flight) là truyện ngắn của Yiyun Li được đăng trong tuyển tập 20 under 40 (2010) của tạp chí The New Yorker. 


Khoa học của sự chốn chạy

 

Trong bữa trưa, Zichen nói với hai đồng nghiệp của cô rằng cô đang cân nhắc một địa điểm mới cho kì nghỉ của mình. Năm nay cảm hứng phiêu lưu hơn hở? Ted nói. Từ khi Zichen bắt đầu làm việc cùng Henry và Ted, mười ba năm trước, cô thường nghỉ phép hai tuần vào tháng Mười một để về Trung Quốc—chốn ẩn cư cho giấc ngủ đông của cô, như Ted vẫn gọi thế. Đi Anh, lần này cô trả lời khi anh hỏi, và cô tự hỏi phương án nào nghe phiêu lưu hơn đối với đồng nghiệp của cô, Anh hay Trung Quốc?

Yiyun Li - The Science of Flight (minh hoạ - Jordan Awan - newyorker.com)

Minh hoạ – Jordan Awan – newyorker.com

Henry bị đưa tới Việt Nam ở tuổi mười tám, và trở về Iowa sáu tháng sau, ruột bị cắt mất một đoạn; mười chín tuổi, hồi phục tạm ổn, ông cưới mối tình thời trung học của mình. Mùa hè nào ông và bà Caroline cũng dành ba tuần ở một căn nhà nhỏ bên hồ ở Wisconsin cùng con cháu. Nơi xa nhất mà Ted từng đến là Chicago. Vài năm trước, anh đưa con gái đến đó tham dự giải bóng chuyền các trường trung học; đội của con bé thua trận chung kết, và dù bây giờ con gái anh đã là sinh viên năm cuối ở trường đại học của bang thì Ted vẫn cho rằng Chicago là nguyên nhân của nỗi thất vọng ấy.

Có gì để xem ở Anh vào tháng Mười một? Ted hỏi. Zichen không trả lời, bởi cô có nói gì thì cũng đều lệch khỏi kì vọng của ông. Mấy năm vừa rồi, ông đã hung hăng thắc mắc rằng có cái gì để xem ở Trung Quốc, và Henry luôn là người làm Ted trật tự. Giống như những người quen khác của Zichen ở Mỹ, họ được dẫn dắt để tin rằng cô có một cặp cha mẹở Trung Quốc, và rằng, như nhiều người khác, cô đã tạo khoảng cách với cha mẹ mình, tiết giảm nghĩa vụ làm con xuống thành một chuyến viếng thăm hai tuần mỗi năm.

Trung Quốc thì sao? Henry hỏi, đặt bữa trưa của ông—một cái bánh sandwich, một bình súp, và một quả chuối—lên một cái khăn giấy. Thời gian trong Quân ngũ đã dạy ông giữ mọi thứ trong cuộc sống theo trật tự. Henry là một người ngăn nắp, áo khoác phòng thí nghiệm của ông sạch sẽ, phần tóc vương lại được chải và tách ra tỉ mỉ; ông kiệm lời, nhưng nói đủ nhiều để không trở nên sưng xỉa.

Bố mẹ cô sẽ đi tour du lịch tới Thái Lan cùng một nhóm hưu trí, Zichen nói. Tại sao cô không gặp họ ở Thái Lan nhỉ? Ted yêu sách, và dự đoán rằng cô sẽ chẳng xem được gì ở Anh ngoài mưa và cái lạnh và những người quá lịch sự để bảo cô nhắc lại tên mình.

Có lý do để tới thăm một nơi mà cái tên của một người là không thể phát âm nổi, Zichen nghĩ, chỉ như việc có một lý do rằng cha mẹ cô vẫn tiếp tục chung sống trong tâm trí con gái họ. Một tháng kể từ bây giờ, Zichen biết cô thà thuật lại những câu chuyện về chuyến đi của cha mẹ mình tới Thái Lan còn hơn kể với Henry và Ted về nước Anh: điểm họp chợ đông vui sau khi màn đêm buông xuống, buổi diễn cabaret mà họ không thích nhưng cảm thấy bắt buộc phải thưởng thức vì thấy bảo đó là điểm nhấn của tour, giường ở khách sạn quá cứng, hoặc có thể quá mềm. Có những khoảnh khắc khác, cũng là tưởng tượng, dù vậy cô sẽ giữ cho riêng mình: cha cô nằng nặc chia đôi suất ăn trong nhà hàng vì ông không muốn phải mua hai suất, mẹ cô soi thấy một hạt gạo trên tay áo cha cô nhưng không nói gì. Họ là một trong số những cặp đôi đã kết hôn khi còn rất trẻ, và đã, qua nhiều năm, rèn luyện cho riêng mình cách sống với sai lầm ấy, với ông ấy là sự gia trưởng, còn với bà ấy là sự khinh bỉ câm lặng.

 

Henry, Ted, và Zichen làm việc tại một trung tâm chăm sóc động vật, trong một toà nhà xây gạch hai tầng cạnh một cơ sở nghiên cứu từng là bệnh xá cho bệnh nhân lao một trăm năm trước. Vì họ ở bên rìa của một thị trấn đại học—cơ cở, một khu vực vệ tinh nơi thực hiện các dự án của trường y, ở trung tâm của những cánh đồng ngô—ba người bọn họ qua nhiều năm đã ít nhiều trở thành một đơn vị độc lập. Janice, người giám sát, một người phụ nữ cao gầy nhẳngluôn tự hào về sự công bằng và tính hiệu quả tột bậccủa bản thân, tới để kiểm tra định kì mỗi tuần một lần; bác sĩ Wilson, vị bác sĩ điều trị thú y, một người đàn ông thân thiện và đãng trí, sắp nghỉ hưu bất kì lúc nào. Cuộc khủng hoảng duy nhất từ khi Zichen bắt đầu làm việc ở đây-nếu không tính thời gian nguồn nước bị ô nhiễm và năm mươi lồng chuột bị viêm gan, hay dịp việc chăm vật nuôi chệch choạc, và ngày đáo hạn trôi qua mà không có lứa con non mới nào, hoặc tệ hơn, có một con chuột mẹ ghê tởm ăn thịt chính lũ con đẻ của nó—là khi một nhóm nhà hoạt động vì quyền động vật cố gắng đột nhập vào toà nhà trong dịp giao thừa đón thiên niên kỷ mới. Họ bỏ cuộc khi chuông báo động réo, và thay vào đó đã giải phóng lũ chồn nâu bị nhốt trong chuồng khỏi một trang trại cách đó ba mươi dặm về phía Tây theocon đường làng. Người nông dân và gia đình ông thu hồi được dưới một phần ba số bị mất, báo địa phương tường thuật. Số chồn nâu còn lại, người nông dân nói với tờ Gazette, sẽ không sống sót nổi qua mùa đông của miền Trung Tây và quá nhiều thiên địch.

Zichen đang đọc báo trong văn phòng, ngẫm nghĩ về số phận của lũ chồn nâu vô gia cư, khi Henry, nhìn qua vai cô, nói ông và người nông dân học cùng trường trung học. Cô sắp sửa bày tỏ sự thông cảm của mình với bạn học cũ của ông khi Henry nhắc lại chuyện gã đó từng có lần theo đuổi Caroline khi ông đang ở Việt Nam. Cô thấy vui vì Caroline đã không cưới ông nông dân nuôi chồn nâu, Zichen nói, cả Henry cũng nói vậy, mặc dù khi nghĩ về điều đó, có thể Caroine sẽ không phiền nếu có một cái áo khoác lông chồn. Ted, đi vào văn phòng với một xấp dải băng ngăn đường màu vàng để sắp xếp và tình cờ nghe được câu chuyện, nhắc Henry rằng bà vợ của tay nông dân nuôi chồn nâu không mặc áo lông chồn, giống như con cái người thợ sửa giày mà không có giày(1). Như thế nghĩa là sao? Zichen hỏi. Khi cô được giải thích về cách diễn đạt, cô nghĩ về cách mà bà ngoại cô vẫn thường cắt tóc cho cô ngắn hơn cả tóc con trai, cả hè lẫn đông, nhưng đó không phải là một câu chuyện hay ho để kể ở văn phòng.

Zichen lớn lên trong tiệm làm tóc của bà ngoại—một cái lán nhỏ thì đúng hơn, ở lối vào của một khu tổ hợp chung cư, với một tấm ván gỗ xếp lên hai chồng gạch dùng làm ghế băng cho khách ngồi đợi, một cái ghế gấp đặt trước tấm gương treo lên cái xà ngang tầm thấp, và một cái chậu rửa tay tạm bợ, đặt cạnh một cái ấm nước lúc nào cũng được giữ ấm trên bếp than. Trên chiếc rèm ngăn cách cửa tiệm với giường ngủ của Zichen và bà ngoại cô, có in hình mấy con thỏ, màu trắng trên nền màu lục-vàng. Trong lán không có cửa sổ, và một cái đèn tuýp bật sáng từ khi cửa tiệm của bà ngoại cô mở cửa cho đến tận cuối ngày, làm cho mọi vật nhuốm sắc trắng-xanh thường trực.

Điều mà bà ngoại đã nói rõ với Zichen từ những năm đầu đời là bà lẽ ra đã có thể có một cuộc sống dễ chịu hơn khi về già: hai người bác của Zichen—anh trai của mẹ cô—đáng lẽ phải phụng dưỡng mẹ họ đủ đầy, và giữa hai gia đình bọn họ phải thấy rằng bà đã nghỉ hưu hẳn hoi rồi. Nhưng làm sao chúng ta có thể bắt mấy thằng con trai của chúng ta phải chịu gánh nặng là một đứa  trẻ như thế? bà ngoại cô thường hỏi khách hàng của mình, trong thời gian Zichen ở cửa tiệm tập ngồi và rồi tập đi, rồi sau đó là phụ giúp bà ngoại, đưa cho bà khăn ấm hoặc lau chùi gạt tàn—hai cái bát trung quốc màu lam-trắng đặt ở mỗi đầu ghế băng, vành sứt mẻ, đầy đầu thuốc lá cháy dở và vết tàn tro—đã chẳng bao giờ làm nguôi ngoai được cú shock do sự hiện diện của đứa trẻ mang lại. Nó mà mồ côi thì đã đi một nhẽ, bà ngoại cô sẽ nói; một trong hai ông bác nhận nuôi đứa trẻ mồ côi là điều hợp lý, câu này ai nghe cũng sẵn sàng đồng tình. Thực tế, một người đàn bà bỏ nhà đi theo trai chống lại ý nguyện của gia đình, sinh ra một đứa con ngoài giá thú—người mẹ như thế lẽ ra đã làm được nhiều hơn cho con mình nếu chết luôn khi sinh nở.

Zichen không mất nhiều thời gian để ghép nối câu chuyện cho riêng mình từ những lời ám chỉ của bà ngoại cô và mấy người bác và cả khách hàng rồi hàng xóm: rằng bà ngoại đồng ý nuôi cô với điều kiện mẹ cô phải chấm dứt mọi sự liên hệ với gia đình; rằng một cặp đôi đã từng đến tiệm một lần để quan sát cô, nhưng rồi quyết định không nhận nuôi cô; rằng cô mắc nợ cuộc đời này tới không chỉ bà ngoại, người đã làm việc cực nhọc ở độ tuổi mà những người phụ nữ khác được nghỉ ngơi, mà còn cả những người khách quen của bà ngoại cô vì trách nhiệm mà họ cảm thấy cần có đối với cô.

Ngồi trên một cái ghế đẩu mây tre trong góc và lắng nghe về vận số của bản thân, cả may lẫn rủi, tranh luận, Zichen ngấm ngầm dịch chân tạo ra những đụn tóc theo một quy luật của mình cô. Chắc chắn trò chơi sẽ bị những cú đưa chổi của bà ngoại cô làm ngắt quãng, nhưng kể cả như vậy cũng không làm Zichen phiền lòng, sự đổ vỡ của những đồi tóc nhỏ bé cũng là một phần của kế hoạch. Đừng cười toe toét như một đứa ngốc nữa, bà ngoại thỉnh thoảng nói với Zichen, quay ra từ những đường kéo, và Zichen sẽ làm mặt thẳng đơ, nhưng khi bà ngoại quay lại với khách hàng cô lại mìm cười với tấm lưng của một ông đang cạo được nửa đầu, hoặc với dây giày của ai đó đang ngồi chờ trên ghế băng. Con bé lấy đâu ra điệu cười như thế trên đời cơ chứ? bà ngoại cô càm ràm với mấy người khách. Một người sẽ nghĩ rằng đứa trẻ như thế nên biết cách để mọi người quên nó đi trong giây lát.

 

Ngôi nhà Hydrangea, một căn nhà gỗ thế kỉ mười sáu, từng là nhà của một gia đình trong nhiều thế hệ trước khi được chuyển đổi thành một nhà trọ B&B(2); Zichen tự hỏi, khi đang đọc thông tin trên trang Web, cuộc đổi thay đã diễn ra như thế nào. Có thể người chủ sẽ kể cho cô khi cô hỏi—nếu không phải toàn bộ câu chuyện, thì dầu là từng mẩu từng mảnh sẽ vẫn làm cô vui thích.

Trên trang Web, không có bức ảnh nào cùng loại mà những nơi khác, vốn có tư tưởng quản lý kinh doanh rõ nét hơn, trưng ra: những đoá hoa nở trong vườn hay những cánh rèm màu nhạt phất phơ trong ngọn gió vô hình. Thay vào đó, một bức vẽ nhỏ của ngôi nhà, bằng mực hoặc có thể là chì, chẳng thể hiện gì nhiều ngoài một bức tường mặt tiền sơn trắng và bốn cửa sổ hình chữ nhật. Nó được giới thiệu rằng “chưa bao giờ là một ngôi nhà lớn”; hai phòng, Phòng Hoa hồng và Phòng Hoa tử đinh hương, đều trống khách trên lầu.

Cung cách khiêm nhường, gần như tạ lỗi khi Ngôi nhà Hydrangea tự quảng cáokhiến Zichen dễ dàng quyết định chọn nó. Chuyến đi tới nước Anh, bất chấp sự băn khoăn của Henry và sự phản đối của Ted, đang trở nên chắc chắn trong tâm trí cô. Ngày mai cô sẽ mua vé máy bay; tuần sau cô sẽ gọi điện đặt phòng.

Trái với niềm tin của Henry và Ted, Zichen không phải một người có kinh nghiệm mà cũng chẳng nhiệt thành du lịch. Vào mùa hè mà cô bắt đầu làm việc ở trung tâm chăm sóc động vật, Ted đã mời cô, cùng Caroline và Henry, tham gia một buổi picnic vào dịp mùng Bốn tháng Bảy(3). Cô đã xin lỗi và trả lời rằng cô cần đi tới cùng Đông Duyên hải để thăm chồng, người trước đó mới vừa hoàn thành văn bằng sau đại học và chuyển đi vì công việc.

Trước cuối tuần nghỉ lễ, cô mua nhiều đồ ăn hơn mức cô có thể tiêu thụ, và trong bốn ngày cô ẩn thân trong căn hộ của mình và chậm rãi đọc một bản tiếng Latin những phát ngôn của Cicero(4). Cô chọn cuốn sách từ thư viện chẳng vì ý tưởng lớn lao nào mà cô có thể thu nhặt từ chữ nghĩa; đôi khi cô quên khuấy một câu trong khoảnh khắc cô hiểu ra ý nghĩa của nó. Nhưng nỗ lực tìm ra ý nghĩa của điều gì đó vừa nhìn đã hiểu ngay làm cô thấy thoả mãn không thể lý giải nổi, cũng như cả quá trình chậm rãi của hoạt động ấy: một hay hai giờ sẽ trôi qua khi cô đi qua một đoạn văn về một cuộc chiến; một ngày tưởng chừng rất dài đã trôi qua rất nhanh.

Sở thích của cô với một tử ngữ là một trong những điều mà chồng cô đem ra chống lại cô khi anh ta đòi ly dị, nó không khiến Zichen ngạc nhiên mà cũng chẳng hề thất vọng. Có một trật tự những điều mà mọi cặp đôi nhập cư như họ phải làm, anh ta có lần giải thích cho cô. Họ sẽ bắt đầu xây dựng gia đình một khi họ thực sự tạo ra nó, anh ta nói nhẹ tênh khi đứa bé mà Zichen rất chờ mong, một cái thai ngoài ý muốn của cha nó, bị sảy. Anh ta lên kế hoạch cho cô đi học cao học để trở thành một người làm thống kế, hoặc một người kế toán, hoặc một y tá, một phần của trật tự những thứ sẽ giúp cho cuộc sống của họ ở đất nước mới; anh ta sắp hoàn thành bằng Tiến sĩ toán, và có mục tiêu làm việc ở Phố Wall. Zichen, chẳng bao giờ tranh cãi, vì tranh cãi không có trong máu của cô, tuy vậy cô bỏ qua bản thiết kế của anh ta cho sự nghiệp của cô với sự phản kháng không giấu diếm. Những tờ giấy nhớ học từ vựng tiếng Latin của cô chẳng được tích sự gì cả, anh ta đã hét vào mặt cô—chỉ một lần duy nhất, quát tháo cũng không có trong máu anh ta—khi cô làm anh ta cảm thấy bị sỉ nhụcvì đã lỡ mất buổi thi G.R.E. anh ta đăng kí cho cô, lãng phí mất hơn một trăm đô, nửa tháng tiền thuê nhà.

Cuộc hôn nhân nhanh chóng kết thúc trước khi anh ta chuyển đi, nhưng Zichen vẫn lấy anh ta làm lý do thoái thác cho mình khỏi đời sống xã hội trong hai năm. Thật là láo. Khi cô nói dối Henry và Ted, cô có thể nghe thấy tiếng bà ngoại mình, những lời mà bà sẽ nói sau khi Zichen đọc to sổ liên lạc của mình trong tiệm. Không tập trung, năm nào thầy cô giáo cũng nhận xét như thế; thiếu nhiệt tình học tập và tham gia các hoạt động trường lớp. Điểm số của cô khiêm tốn, chỉ vừa đủ để lên lớp. Con sẽ làm được gì ở đời nếu con không chịu học hành tử tế? các khách hàng của bà ngoại cô không ngừng hỏi; không biết trả lời sao, cô sẽ mỉm cười mặc dù cô không hiểu câu hỏi ấy, và chính nụ cười ấy chứ không phải điểm số làm cho cô có vẻ là đứa vượt quá tầm dạy bảo.

Zichen thông báo vắn tắt choHenry và Ted về việc ly hôn của mình vào năm thứ ba ở chỗ làm, khi thấy không phải lắm khi cứ tiếp tục nói dối về một cuộc hôn nhân đã không còn tồn tại. Nhưng một người chồng cũ thì dễ để kết thúc và không bao giờ phải nhắc lại nữa, trong khi một cặp cha mẹ, kể cả nếu họ sống ở một châu lục khác, thì cần được duy trì cẩn thận: một chuyến thăm hàng năm; những cuộc điện thoại đem tới tin tức từ Trung Quốc; quà cáp cho gia đình—nhân sâm Wisconsin cho cha cô, kem chống lão hoá cho mẹ cô.

Năm nay cô có thể dễ dàng thực hiện một chuyến đi quen thuộc về Trung Quốc, một thói quen kiên cố, vì thế mà tạo ra một mối băn khoăn hay lưỡng lự nho nhỏ, nhưng thực tế là cái lán nơi bà ngoại cô mở cửa tiệm đã bị phá bỏ, còn bà thì chỉ còn ở trong một bình đựng tro cốt. Bà ngoại cô đã sống trong tiệm cho đến trước khi chết một tháng, ở tuổi chín mươi ba, và Zichen biết chừng nào bà còn sống ở đó thì tiệm sẽ vẫn mở cửa mỗi sáng, bóng đèn tuýp vẫn bật cho đến khi đóng cửa, giống như trong suốt những chuyến thăm nhà hàng năm của cô. Tin bà mất đến với Zichen sau đám tang; cô đã không được báo về dự, cô biết cả mẹ cô cũng vậy. Cả hai người họ, hơn là chỉ một mình cô goá phụ trẻ, bị trách móc vì đã làm cho cuộc đời bà ngoại thật vất vả; cả hai người họ là nỗi thất vọng của bà cụ già, người con gái đã làm cả gia đình phải chịu nhục nhã, đứa cháu gái đã bốc đồng kết hôn với một người đàn ông nó mới gặp hai lần và chẳng duy trì được cuộc hôn nhân quá ba năm.

 

Nhà trọ B&B nằm ở ngồi làng tên là Neville Hill (Đồi Neville – ND), cách Brighton khá xa, nhưng để đơn giản hoá vấn đề, Zichen kể với Ted và Henry thằng Brighton là điểm đến cuối cùng của cô. Họ đang ăn trưa cùng nhau, tận hưởng một ngày cuối thu ấm áp trước khi gió lạnh đầu mùa tràn về. Cô mô tả những nơi mình muốn tham quan: đường lát đá bên bờ biển, bãi biển, eo biển Manche.

“Bây giờ nhé, giải thích hai điều cho tôi,” Ted nói, trong một khoảnh khắc Zichen nghĩ Henry trông rất nhẹ nhõm vì đã có người đối đầu với cô, việc mà ông sẽ chẳng bao giờ làm. “Đầu tiền, tại sao cô lại đi biển vào mùa đông?”

Tháng Mười một chưa phải mùa đông, Zichen phản bác, và Ted khẽ gật đầu với cô kèm theo một nụ cười đắc thắng như thể anh đã lùa được con chuột tháo chạy mà Zichen không tài nào bắt nổi.Hiếm khi có con chuột nào lọt nổi khỏi bàn tay cô(5), và khi điều đó xảy ra—chỉ vài lần trong những năm qua—Ted sẽ nói suốt về nó trong nhiều ngày sau đó với niềm hân hoan như trẻ nhỏ. Khi cô chạm vào một con vật, nó có thể biết ngay là cô đang hồi hộp hay cô làm chủ tình hình, Henry đã giải thích cho Zichen khi đào tạo cô. Ted, trong những tuần đầu tiên, thường kiếm cô và kể cho cô nghe những chuyện kì dị rợn tóc gáy; chuyện ưa thích của anh kể về một cái máy chém đầu chuột tự chế mà anh và Henry đã làm ra để phục vụ cho nghiên cứu của một nhà thần kinh học. Nhưng thật đáng ngạc nhiên cho những người đồng nghiệp của Zichen là cô chẳng bao giờ tỏ vẻ hoang mang. Cô ứng cử công việc này khi họ tuyển người vì cô chẳng có kĩ năng có thể sinh lời nào khác, nhưng nhìn lại đời mình cô tự hỏi liệu rằng có phải cô đã tìm thấy nghề nghiệp phù hợp nhờ tình cờ may mắn. Ngay từ đầu, cô đã kẹp tai chuột nhỏ hay chuẩn bị chuột lớn để cấy ghép da một cách đầy khéo léo cứ như là cô đã làm việc với động vật từ thưở nào rồi. Thậm chí cả những loài có vú to lớn hơn cũng không làm khó được cô: mấy con khỉ là hét trong lồng và làm mặt quái đản khi cô đến cho ăn hay tắm cho chúng, mấy con chó có vẻ ngoài tuyệt vọng chẳng mấy khi sủa. Sau khoá đào tạo, Henry bảo cô rằng ông và Ted sẽ chia nhỏ việc chăm sóc lũ động vật có vú cỡ lớn vì họ nghĩ cô quá nhỏ con, ví dụ, cho việc tự mình cô xử lý một cái xác nặng ba mươi pound. Nữ hoàng Gặm nhấm—vào ngày sinh nhật lần thứ ba mươi của cô, họ để trên bàn cô một cái vương miện đồ chơi, dòng chữ viết nguệch ngoạc lên bằng bút dạ không chùi được.

“Còn bây giờ, mùa đông hay không phải mùa đông,” Ted nói. “Tại sao cô lại đi Anh có một mình?”

Mọi người đi du lịch một mình đầy ra, Zichen trả lời, và chẳng có gì sai ở đây cả.

“Nhưng cô sẽ làm gì ở một nơi mà cô chẳng quen ai hết?”

“Làm sao anh biết tôi không quen ai ở đó?” Zichen đáp lời, vừa mở mồm ra nói là cô đã thấy hối hận rồi. Nhiều năm qua cô đã quen với việc cô là ai trong mắt mọi người: cô biết cô bị những người Trung Quốc cô quen ở Mỹ coi là một kẻ thất bại, một phụ nữ ly hôn làm việc cực nhọc ở một cơ sở chăm sóc động vật, một người không thành công trong cuộc sống; trong mắt người chủ nhà và hàng sóm cô là một người trầm lặng, một người ngoại quốc lịch sự luôn trả tiền thuê nhà đúng hạn, người mà Halloween năm nào cũng để ngoài cửa một cặp bí ngô, không chạm khắc nhưng có hình vẽ mắt miệng, và là người không có khách ghé vào cuối tuần hay ngày nghỉ, cho nên không có chuyện xích mích về chỗ để xe cho khách; với bà ngoại cô và những khách hàng lớn tuổi của bà, những người dành cả ngày ở trong lán để kết bạn và buôn chuyện hơn là chăm sóc cho mái tóc lưa thưa hay cái đầu hói của họ, cô là—trừ việc là một đứa bé nên chui lại vào trong bụng mẹ, một đứa trẻ không mấy lanh lợi và có cung cách ghê ghê, và một phụ nữ trẻ chẳng hề tôn trọng chuyện hôn nhân hay chính tương lai của mình—một minh chứng, sau tất cả, cho sự độ lượng tối hậucủa cuộc đời. Cô đã có thể xây dựng một cuộc đời bỏ qua những khiếm khuyết, để gửi tiền cho bà ngoại, để trở về hàng năm như một con chim câu nhớ nhà và lại ngồi với những người khách già cả, vẫn với nụ cười ghê ghê trên khuôn mặt dù họ đã chẳng còn quan tâm nữa; chỉ đơn giản là ngồi với họ và nghe họ tha thứ cho Zichen khỏi mọi tội lỗi có thể.

Nhưng nói về con người cô trong mắt Henry và Ted khiến cô yêu thích bậc nhất: chắc tay và hiệu quả trong công việc, im lặngnhưng đôi khi cũng biết nói chuyện, không phức tạp. Chuyện cô nhớ được những đoạn văn trong cuốn “Winnie-the-Pooh”, rằng cô đọc cuốn ấy bằng bản dịch tiếng Latin trước khi đọc bản tiếng Anh, thì cô không chia sẻ với họ, vì điều đó sẽ biến cô trở thành một kẻ kì quặc trong mắt họ. Thứ khiến cô hài lòng—đụn phoi bào gỗ làm đệm ngủ cho đám thú mà cô đã vun thành những ngọn đồi nho nhỏ; thời gian cô dành để tưởng tượng ra chồng cũ trong một căn nhà ngoại ô màu xanh nhạt ở New Jersey, hai đứa con trai của anh ta lớn lên và qua từng năm trông lại càng giống anh ta hơn, cô vợ mới không bị lão hoá của anh ta; cuộc hôn nhân mà cô đã tạo ra cho cha cô, người cô chưa từng biết, và mẹ cô, người cô mới chỉ gặp một lần, trong một căn hộ một phòng ngủ trong khu dân cư lâu đời ở Bắc Kinh—là những điều mà cô không chia sẻ với Henry và Ted, bởi họ sẽ biến cô trở thành một người có lịch sử, trong lúc này hay lúc khác, ở nơi này hay nơi khác.

“Vậy là, cô sẽ đi gặp người nào đó ở Anh à?” Ted hỏi.

“Không,” Zichen đáp. “Tại sao tôi nên làm thế?”

Tông giọng đối đầu không thường xuất hiện trong câu trả lời của cô khiến Ted chùn bước, kiểu như là anh đã tọc mạch. Anh nhún vai và, bằng một cử chỉ rất kịch, ném cái bánh sandwich ăn dở của anh cho một con sóc. Nhiều năm trước, Molly, vợ Ted, đã hỏi Zichen liệu cô có muốn gặp gỡ ai đó mà cô biết đang độc thân chăng; vợ của Henry, Caroline, đã một hai lần nhắc đến bác sĩ nha khoa người Trung Quốc của bà, đã ly dị, theo như lời người quản lý văn phòng của anh ta. Khi Zichen không theo đuổi cả hai hướng, hai người phụ nữ ấy không thúc ép cô. Henry và Ted chẳng bao giờ hỏi về đời tư của cô. Sự thoải mái hoà mình vào không khí mà ba người họ thiết lập khiến đời sống bên ngoài công việc của cô không có gì liên quan, và cô thích hình dung cho họ rằng đó là chuyện rất tự nhiên khi cô ngừng hiện hữu vào thời khắc mà cô rời chỗ làm cũng như chuyện rất tự nhiên khi cô có thể lo việc cho bọn động vật một cách tự tin và bình tĩnh. Lần duy nhất họ cảm thấy không thoải mái là lúc Henry lần đầu hướng dẫn cô nhân giống lũ chuột—ông đã đề nghị Ted có mặt khi ông chỉ cho cô cách phát hiện dịch làm nghẽn âm đạo, bằng chứng của việc giao hợp thành công. Đỏ sẫm, Henry chụp lấy vài con cái để cho Zichen xem phần kín của chúng, rồi giải thích rằng thỉnh thoảng chất dịch không đảm bảo đã thụ thai thành công. Ted, đang sắp xếp lại biểu đồ của các lồng với vẻ tập trung, vẫn giữ sự im lặng bất thường với một chủ đề mà anh vào lúc khác có thể đùa cợt cùng Henry.

Liệu Ted có thấy bị công kích bởi phản ứng đột ngột của cô không nhỉ, Zichen tự hỏi, nhưng cô không tài nào tìm được lời lẽ để xoa dịu tình hình trong khi anh vẫn tiếp tục huýt sáo gọi con sóc, nó đang phớt lờ sự hào phóng của anh. Cô đã không khéo léo mở ra một cánh cửa và rồi vụng về đóng sầm nó lại, nhưng có thể vài tổn thương đã thành thật mất rồi.

“Cô sẽ ổn thôi,” Henry nói khi rõ ràng là Ted sẽ không dành phần còn lại trong giờ nghỉ trưa cho một trong những chủ đề yêu thích của anh, trận bóng rổ sắp tới hay một trận đấu vật. “Khi cô nghĩ về điều đó, tôi đã được chia sẻ xem nhiều bức ảnh Trung Quốc rồi nhưng ảnh nước Anh thì chưa hề.”

Zichen chụp ảnh khi cô đi du lịch Trung Quốc, chụp những thứ cô hình dung Henry có thể thích xem, hoặc những cảnh tượng kì lạ có thể tạo cho Ted một cơ hội để phê bình. Vâng, cô đồng ý. Nước Anh sẽ là một thay đổi tốt. Rồi cô phủi hết vụn bánh trên cái bàn dã ngoại để hôm sau không có kiến bò đầy trên chỗ của họ. Trước khi cô nhập hội, Henry và Ted thường ăn trong văn phòng, cửa mở ra cái hành lang lúc nào cũng có mùi chất tẩy trắng, thuốc viên chống chuột, chỗ ngủ ẩm ướt và cả động vật chết; họ dường như không lấy đó làm phiền, nhưng Henry nhận ra Zichen thường ngồi trên mấy bậc cấp phía trước toà nhà để ăn trưa, ông bèn yêu cầu một cái bàn dã ngoại để cải thiện môi trường làm việc của họ.

 

Josephina, nữ chủ nhân của Ngôi nhà Hydrangea, nói chuyện rất dễ chịu trên điện thoại. Nếu bà ta có thấy tò mò tại sao một phụ nữ từ nước Mỹ với cái tên Trung Quốc không thể phát âm nổi lại muốn dành hai tuần ở Neville Hill thì bà cũng không để lộ. Zichen tự hỏi, sau cuộc điện thoại, liệu suy nghĩ ấy có được chia sẻ với chồng Josephina không; cô tự hỏi liệu họ có quyết định rằng thắc mắc ấy chẳng nghĩa lý gì trong việc kinh doanh nhà nghỉ B&B.

Khi cô tới làng Neville Hill, Zichen sẽ giải thích cho chủ nhân rằng cô tới để tưởng nhớ một người phụ nữ lớn tuổi đã làm bạn với cô khi cô mới chuyển tới Mỹ. Margaret là tên bà ấy. Bà ấy đã trải qua tuổi thơ ở Neville Hill trước khi cưới một mục sư người Mỹ, ông John Hubor, và đã sống ở Mỹ năm mươi ba năm. Liệu cặp vợ chồng ở Ngôi nhà Hydrangea có cố công truy dấu một cô gái ở làng trong quá khứ, đã bỏ đi, dời làng theo cuộc hôn nhân sau chiến tranh? Có thể họ từng nghe về một cô gái tên là Margaret, hoặc có thể họ sẽ xin lỗi vì chảng có chút hồi ức nào. Sự thực là, cái tên Neville Hill chưa bao giờ được nhắc tới trong những cuộc nói chuyện của Zichen với bà Margaret, ngay cả khi Zichen chưa quyết định đi tới Neville Hill, cô tìm hiểu thấy ngôi làng ấy trung khớp với mô tả của bà lão: chuyến dã ngoại của trường học tới làng Seaford là đi bộ, những chuyến xe tới Brighton chỉ dành cho những dịp đặc biệt của gia đình.

Đó là mùa xuân năm 1994 khi Zichen gặp bà Margaret và ông John, trong siêu thị; mùa xuân năm 1995 bà Margaret được chôn cất ở một nghĩa trang bên sườn đồi. Trong lối đi giữa những kệ đựng đường, bột mì, và dụng cụ nấu bếp, bà Margaret nhầm Zichen với một sinh viên Trung Quốc bà quen, người đã tốt nghiệp và chuyển tới California; ông John đã ngỏ lời mời Zichen kết bạn với họ, giống như với người phụ nữ kia đã đc ngỏ lời, bà Margaret dùng tên cô ta để gọi Zichen suốt những lần cô ghé chơi nhà họ.

Cô sẽ mô tả về bà  Margaret cho cặp đôi ở Ngôi nhà Hydrangea, và kể cho họ bà Margaret đã dạy cô tiếng Anh ra sao khi cô mới vừa tới Mỹ vì bà ấy muốn Zichen, một phụ nữ trẻ đã rời bỏ đất nước mình để theo chồng, có bạn bè.

Suốt quá trình lớn lên, Zichen chưa bao giờ có bạn thân. Đứa con hoang là cách vài đứa ở trường gọi cô, chúng học từ ấy từ bọn anh chị lớn. Một lần, khi Zichen mười tuổi, và mệt mỏi vì bị bạn cùng trường trêu chọc, cô đã chỉ vào một người hàng xóm đang đi qua phố và nói ông ấy là cha đẻ của mình. Chú ấy, nghe thấy lời khẳng định của Zichen, tái mặt đi nhăng chẳng nói gì—chú ấy mới vừa ly hôn, và hai đứa con gái sinh đôi của chú ấy đã chuyển đi cùng mẹ chúng.

Láo thế cơ chứ; bà ngoại cô sẽ bị shock vì cháu mình chẳng biết xấu hổ chút nào. Cái chú mà Zichen chỉ định làm cha mình, một tuần sau, hỏi cô liệu rằng cô có muốn đi xem triển lãm các loài bướm mà chú ấy cho rằng các con gái của chú sẽ thích lắm. Đi qua đường từ phía công viên là Khách sạn Friendship (Khách sạn Tình bạn – ND), và sau cuộc triển lãm chú ấy đưa cô tới cổng khách sạn. Đó là một trong chỉ hai khách sạn ít ỏi mà người ngoại quốc được phép ở tại Bắc Kinh, chú giải thích; một lần, khi chú ấy và các con gái của chú ở đấy, một người Mỹ đã cho mỗi bé gái một thanh socola. Thật nực cười khi đứng trước một khách sạn vì viễn cảnh tươi sáng về một thanh socola; Zichen vẫn mỉm cười với hai người bảo vệ có súng, và, sau đó, với một đôi người ngoại quốc đi ra từ khách sạn. Cặp đôi, cả hai cùng có nước da nhợt nhạt và mái tóc màu rơm, chắc chắn cho rằng chú kia và Zichen là cha và con gái, vì họ ra tín hiệu tỏ rõ là họ muốn chụp ảnh hai cha con. Đó là lần đầu tiên Zichen nhìn thấy máy ảnh lấy ngay. Chú kia cho cô tấm ảnh, nhưng cô từ chối không nhận, họ không nói ra nhưng đồng tình rằngcuộc sống của họ sẽ vẫn tiếp diễn như thể cuộc đi chơi chưa từng xảy ra.

Vào tuổi dậy thì, cô là một trong những đứa con gái không ai muốn chơi thân; cô quá kì lạ và không đoán biết nổi để có thể là một người tri kỷ, quá kém nổi bật để trở thành nơi được trao gửi bí mật. Ở tuổi ấy, tình bạn đem lại cho ta sự kịch tính lâm ly hay sự nhẹ nhõm; cô bất khả tạo ra cả hai điều ấy, và sau đó, khi trở thành một phụ nữ trẻ, bất khả tạo ra cả hai điều ấy để thu hút bất kì chàng trai nào.

Cô đã đem lại sự dễ chịu trong phòng tắm nắng tràn ngập ánh sáng của bà Margaret, trao cho bà lão ấn tượng rằng bà đang dạy Zichen học, mặc dù ngôn nữ họ học chẳng phải tiếng Anh mà là tiếng Latin. Lúc đó bà Margaret đã lẫn rồi, và Zichen, tự mình luyện hết cuốn “Wheelock’s Latin(6),” dù sao thì vẫn cho bà lão niềm vinh quang của việc nói lặp lại: nông dân, nông dân, của nông dân, do nông dân, vì nông dân, người nông dân. Một điều nữa cũng được lặp lại, là kí ức về ngôi làng thời thơ ấu của bà Margaret, nơi bà biết mình không còn có thể về thăm lại thêm lần nữa: con đường mòn dẫn tới một cái ao bí mật, đôi vợ chồng trong căn nhà nông thôn lợp ngói đỏ sinh ra đứa bé có sáu ngón tay trên một bàn tay. Mỗi mùa xuân lại chứng kiến một bầy gà con trên sân; vào mùa hè những đám mây tơ đôi lúc dừng lại không nhúc nhích hàng giờ liền; tháng nào cũng có thể coi là mùa mưa, và cơn mưa dường như khiến nhà cửa mọi người vĩnh viễn ẳm ướt và lạnh lẽo.

Zichen thật tốt khi đến và ngồi cùng bà Margaret, ông John nói trong lần đầu ông lái xe đưa cô về lúc cuối buổi chiều, ông xin lỗi vì bà Margaret đã lẫn. Bà ấy sinh ra trong một gia đình có cha là thuỷ thủ, ông kể cho Zichen trong một chuyến xe khác, như thể giải thích việc bà Margaret có thể nói được mười bốn ngôn ngữ, mà tất cả trong số đó, ngoại trừ tiếng Latin, tiếng Pháp và tiếng ANh, bà ấy học trong hàng thập kỉ sống đời hôn nhân ở Mỹ. Khoảng mùa hè trong năm cuối đời, bà Margaret cho thấy những dấu hiệu của việc đi tới phút lâm chung, thỉnh thoảng không ai hiểu nổi lời bà nói kể cả ông John. Thình lình, một ngày bà ấy chìa ra một bản của cuốn “Winnie Ille Pu,” bản in đầu tiên của bản dịch tiếng Latin, làm quà cho Zichen; dịch giả, giống như bà Margaret và Zichen, là một người đàn ông bỏ nhà ra đi và định cư ở một đất nước khác, nhưng điều ấy mãi về sau Zichen mới tìm hiểu ra. thai

Không, cô chưa từng biết về cuốn “Winnie-the-Pooh,” hôm đó trong xe cô đã kể với ông John như vậy. Cô chẳng có cuốn sách thiếu nhi nào suốt thời thơ ấu. Đó hẳn phải là do nỗi buồn man mác trong mắt ông John đã khiến cô kể chuyện cho ông nghe, về chuyện bị gọi là con hoang khi còn nhỏ, chuyện bị sảy thai, chuyện không yêu chồng. Ông John, một người lái xe cẩn thận, đã bỏ một tay khỏi vô-lăng và nắm tay cô trong suốt quãng đường còn lại. Liệu đó có phải một giây phút của sự dối lừa hay chăng? Zichen tự hỏi đôi lần; liệu cô đã phản bội tình bạn của bà Margaret ư?—không phải vì bà Margaret không bao giờ biết đến khoảnh khắc ấy từ Zichen hay từ ông John mà bởi Zichen đã hồi tưởng lại nó hết lần này tới lần khác suốt một thời gian dài sau khi bà Margaret được chôn cấn còn ông John thì chuyển tới thành phố Sioux, để được gần với các cháu của ông và sau cùng, như ông đã giải thích với Zichen sau đám tang bà Margaret, để tới sống trong một nhà dưỡng lão.

Mỗi năm một lần vào tháng Mười hai, Henry lại đưa Ted và Zichen đi làm vài ly ở một thôn gần đó có tên là Tiffin, vì chẳng ai trong số họ thích mấy chỗ trong làng đại học, nhạc quá to và bọn sinh viên thì ồn ào khủng khiếp. Quán bar ở trên đường làng và chẳng bao giờ kín khách. Mọi người ở đó lớn tuổi hơn; vài người trong đó, những người hay chuyện hơn, đã từng chơi trong giải súng sơn với Henry; những người còn lại thì giữ vẻ khép kín. Người pha chế, một cựu đô vật từng vô địch bang thời trung học, thích trêu Ted; hàng năm, anh này đều hỏi Ted xem hôm đó anh mặc quần lót màu gì, đối với Ted, là chính Ted, đã có lần anh khoe rằng mình chỉ mua độc hai loại: đen-vàng theo màu của trường đại học, và đỏ-trắng theo màu trường trung học của anh, cũng là trường cũ của vợ và con gái anh. Mọi người ở quán bar luôn lịch thiệp với Zichen, nhưng sau nhiều năm, họ trở nên thoải mái hơn, nâng cốc với cô khi cô tới, gọi cô là Nữ hoàng Gặm nhấm.

Cô là một cô dâu người ta đặt hàng qua mạng, một năm cô kể với người pha chế, khi cô đã uống nhiều hơn sức cô kham nổi. Sự thật không phải như vậy, chẳng có giao dịch thương mại nào trong cuộc hôn nhân của cô: cô và chồng cũ đồng ý kết hôn sau khi gặp nhau hai lần tại một quán trà gần cửa tiệm của bà ngoại cô, anh ta chọn cô vì cô lớn lên trong hoàn cảnh khó khăn, điều ấy sẽ giúp cô trở thành một bạn đồng hành tốt khi đến Mỹ, cô chọn anh ta vì nước Mỹ.

Cô cảm thấy khoan khoái trong chốc lát, khi nói to mấy chữ “cô dâu đặt hàng qua mạng” và nhìn người pha chế đón nhận câu chuyện bằng sự nhìn nhận rằng điều đó quá xa vời hay không cần thiết phải quan tâm. Cô cũng cảm thấy khoan khoái, cô biết, khi ở Ngôi nhà Hydrangea cô kể chuyện về bà Margaret và đọc cuốn “Winnie-the-Pooh” bằng tiếng Latin, về chuyện bằng cách nào mà cô, rất ít trải nghiệm với thứ ngôn ngữ ấy, đã để cho cái đầu của con gấu tội nghiệp đập đi đập lại trên cầu thang.

“Cha con và mẹ đã làm những gì chúng ta có thể cho con,” mẹ của Zichen từng nói, trong lần duy nhất họ gặp nhau, có thể cũng là lần duy nhất kể từ khi sinh ra Zichen mà bà ấy nhắc đến cả mình và cha của Zichen trong cùng một câu nói. Zichen không biết tại sao mà mẹ cô lại đồng ý gặp cô trước chuyến đi của cô tới Mỹ, nhưng cô nhận ra, ngay từ giây phút đầu tiên gặp mẹ, sự khắc nghiệt và cứng đầu mà bà có chính là những tính cách của bà ngoại. Cha mẹ của ai cũng chỉ có thể làm được chừng đó, mẹ cô giải thích, và đứa con phải tự có trách nhiệm với cuộc đời của riêng nó. Mẹ cô không kể gì cho cô về cha cô, chỉ nói rằng họ đã mất liên lạc từ lâu; bà cũng không đả đụng gì tới gia đình mới của bà, mặc dù Zichen biết thừa là bà có một ông chồng và hai đứa con nữa. Zichen luôn nhận thức được bà ngoại cô đã giữ cô lại nhằm phỉ nhổ vào đứa con gái ương ngạnh và ô nhục; và việc mẹ cô đã sinh ra cô để phỉ nhổ vào cha cô trở nên thật hiển nhiên khi họ gặp mặt.

Năm nào cũng vậy, trên đường về từ quán bar bên ngoài thị trấn, Zichen ngồi ở ghế sau và lặng lẽ khóc. Henry cẩn trọng lái xe, cả hai tay giữ vô-lăng, ông luôn làm vậy sau mỗi lần uống, trong khi đó Ted, ngồi ở ghế trên, nói về trận bóng rổ sắp diễn ra như một chuyên gia thực thụ. Cô đổ cho rượu làm mình rơi nước mắt—và cả ánh trăng lạnh lẽo trên nền trời mùa đông.

 

Có một năm Ted xin được thả xuống trước, để đi xem đấu vật, cô kể với Henry rằng cô đã lớn lên mà không cảm nhận được tình yêu mà cha mẹ cô dành cho nhau. Qua kính chắn gió cô nhìn ngắm màn mưa sương giá đang bám đuổi họ, và khi tiếng cần gạt nước trở nên quá ồn, cô nói cha mẹ cô duy trì hôn nhân là vì cô; và họ học cách tha thứ cho nhau vì như thế tốt cho cô. Đó là điều gần với sự thật nhất mà cô có thể nghĩ ra—cô ước giá mà mình có thể kể cho Henry về người đàn ông trước cổng Khách sạn Friendship, hay cái nắm tay ông John dành cho cô, nhưng những câu chuyện ấy sẽ biến cô trở thành một con người khác trong mắt Henry—rồi sau đó ông đỡ cô từ phía sauvà đưa cô về tận cửa, nói rằng ổn cả rồi, vì đó là tất cả những gì ông ấy có thể nói.

Ở Ngôi nhà Hydrangea, có thể cô sẽ kể cho các chủ nhân về bà ngoại và mẹ cô, hai người phụ nữ trong đời cô mà niềm đam mê mù quáng của họ đã giúp họ trụ vững qua những phong ba của số phận, nhưng ngay cả khi cô tưởng tượng ra như thế, cô biết cô sẽ không kể. Chẳng có cách nào khiến cô có thể gạt mình ra khỏi những câu chuyện của họ về chiến tranh, và cô biết rằng trong tất cả mọi câu chuyện cô đều phải bị gạt ra rìa—cuộc đời mà cô đã tạo dựng cho mình là một cuộc đời của sự trốn chạy, của việc loại bỏ điều không cần thiết hay cần thiết cũng đều như nhau, việc sử dụng những mảnh ghép và những kí ức vay mượn, thu mình vào những giây phút lạc lối trong cuộc đời của con người trên thế gian.


(1) ND: nguyên văn ‘just as cobbler’s children have no shoes’ ý nói ngay cả của nhà trồng được mà vẫn không có để dùng.

(2) ND: B&B là dạng nhà nhọ Bed and Breaksfast chỉ cung cấp chỗ ngủ và bữa sáng cho khách lưu trú, thường do các hộ kinh doanh gia đình làm chủ.

(3) ND: ngày Quốc khánh Mỹ.

(4) ND: Marcus Tullius Cicero, triết gia, nhà hùng biện, chính khách, nhà lý luận chính trị La Mã.

(5) ND: nguyên văn ‘a mouse or a rat’ ý nói những việc mờ ám khuất tất.

(6) ND: tên cuốn sách học tiếng Latin cơ bản.

Copyright © 2010 by Yiyun Li.

ThKh chuyển ngữ không có sự đồng ý của tác giả.

———-

ThKh – 2019

ThKh là một bút danh khác của ChuKim, một người viết tự do, sống và yêu tại một ngôi làng mang tên thành phố. Nếu có thể, hãy ủng hộ và khích lệ bằng cách đọc và chia sẻ những gì anh viết trong khả năng của bạn. Xin cảm ơn.

– natchukim.cogaihu@gmail.com –

PS: Tất cả nội dung trong blog này đều được tuyên bố quyền sở hữu và quyền tác giả về nội dung, ngoại trừ những bài sưu tầm có đề rõ. Mọi trích dẫn, đăng lại, vui lòng ghi rõ nguồn. 

 

Truyện ngắn: Mặc khải của người công nhân nạo vét – Karen Russell

Karen Russell (1981-) là nhà văn người Mỹ. Các tập truyện ngắn St. Lucy’s Home for Girls Raised by Wolves (2006), Vampires in the Lemon Grove (2013) cùng tiểu thuyết đầu tay của bà, Swamplandia! (2011), đã gây được tiếng vang. Tập truyện ngắn thứ ba của bà, Orange World and Other Stories, ra mắt tháng 5 năm 2019.

Karen Russell (Grafilu - newyorker.com)

Tranh: Grafilu – newyorker.com

‘Mặc khải của người công nhân nạo vét’ (The dredgeman’s revelation) là truyện ngắn của Karen Russell được đăng trong tuyển tập 20 under 40 (2010) của tạp chí The New Yorker. 


Mặc khải của người công nhân nạo vét

 

Người công nhân nạo vét có tên, Louis Thanksgiving Auschenbliss, nhưng gần đây cậu ta thích coi mình là một người chuyên nghiệp hơn. Trong sáu tháng vừa rồi, cậu dành từ sáng tới nửa đêm để tiến sâu hơn vào không gian quái lạ của đầm lầy Florida, vai kề vai với mười hai người nữa trong đội, những thành viên “chuột bùn” của công ty Model Land. Họ chính là động cơ sức người của tàu nạo vét nổi, một chiếc sà lan bốn mươi foot với bốn thuyền phụ trợ kèm theo—thuyềnchở gỗ, thuyền chở nước, nhà bếp, và, để ngủ, cái nhà thuyền. Chiếc tàu nạo vét có một cái cần trục đại bự bắt vít xuống boong và một chiếc gàu múc trông như cái sọ rắn tí hon, treo cân bằng phía trên cao quá đầu mấy cây cọ và cây ngập mặn. Công ty Model Land đang đào một con kênh đi qua vùng trung tâm hoang tàncủa đầm lầy, và cái tàu nạo vét ầm ầm tiến về phía Vịnh giữa những làn sương và tiếng kẽo kẹt của dây cáp, xé tung gốc cây, đá tảng và xới lên hàng trăm ngàn gallon đất bọt.Cả ngày lẫn đêm, mọi người trên sà lan đều phải đeo mạng che mặt chống muỗi để làm việc—và cách đan của lớp lưới bảo vệ tinh xảo ấy là ý nghĩa của cụm từ “công nhân nạo vét” đối với Louis. Như áo giáp mềm, một lớp màn linh hoạt. Dưới tư cách là công nhân nạo vét, Louis chẳng khác gì so với mọi người trên boong. Và trên tàu nạo vét, trong khu đầm lầy kì lạ và ẩm ướt này, mỗi buổi sáng vàng ươm đều giống như một lớp da mới mà cậu có thể chui vào.

Karen Russell - The dredgeman's reveletion (ảnh - Historymiami - newyorker.com)

Ảnh: Historymiami – newyorker.com

 

Ở tuổi mười bảy, Louis là thành viên trẻ nhất trong đội. Đương lúc cao trào của cuộc Suy thoái(1), và thỉnh thoảng mấy ông anh quay sang chuyện cũ để giải trí—kể về những cô người yêu thẫn thờ bị họ bỏ rơi trên những ghế băng đỏ trong quán ăn ở Decatur, các thầy cô giáo trung học của họ, cửa tiệm của gia đình ai đó trên đường Rascal Mountain, bang Georgia, khẩu phần trong quân ngũ của họ, lũ chó và bọn trẻ con vẫn ở trên đất liền, khoản nợ mà họ khoái trá phớt lờ. Mắc kẹt trong những hoài niệm của mấy ông anh, Louis trở nên hồi hộp gần như không chịu đựng nổi.

“Mày thì sao, Lou?” sau cùng có ai đó hỏi. “Làm thế nào mà bị xô đẩy tuốt tới đây vậy?”

“À, không có gì lắm . . . ” cậu lẩm bẩm. Chỉ chút xíu kí ức tuổi thơ trong cậu là còn rõ rệt. Trên thực tế, vùng lũ mênh mông và trống trải lan rộng ra nhiều dặm theo mọi hướng quanh mép tàu nạo vét dường như đang chế nhạo cái ý tưởng rằng cậu từng có tuổi thơ. Hai bầu trời trôi qua họ—một bên trên và một phía dưới, trên mặt nước, bóng mây phản chiếu thật hoàn hảo. “Một chuyện về em, chà,” Louis nói, húng hắng, cố ra vẻ như mấy ông anh để khiến quá khứ của mình trở nên hay ho. “Một chuyện thú vị, em đồ rằng, là việc em đã chết khi ra đời.”

“Chà, bố khỉ, Louis, mày không cần khoe khoang chuyện ấy đâu,” Gideon Thomas, thợ máy, nói. Anh ta cười. “Đã chết khi ra đời—cứt, con trai, ai mà chả thế!”

Trong số tất cả anh em trên tàu nạo vét, Gid có lẽ là bạn thân nhất của Louis, mặc dù đó không phải mối quan hệ bình đẳng cho lắm, lúc nào Gid cũng trêu chọc Louis chẳng chút nương tay và thường “mượn” đồ của thằng nhóc mà anh chẳng trả nổi, như thức ăn chẳng hạn.

“Em không khoe,” Louis làu bàu, và cậu cũng không hề kể chuyện nhảm nhí. Cậu chỉ lặp lại điều cậu nghe từ cha nuôi—”đã chết khi ra đời” là cái kiểu ông ta dùng để dè bỉu Louis mỗi lần cậu chạy quá nhanh so với nắm đấm của ông già. Và mặc dù ông già đã cô đặc câu chuyện về sự ra đời của cậu xuống chỉ còn mấy từ kinh khủng, đó đều là sự thật—Louis Thanksgiving suýt chút nữa đã không tồn tại.

Khi mới sinh ra, sọ của cậu trông như cái đàn violin be bé, bị thắt lại và im re. Vị vác sĩ đã kéo đứa bé ra khỏi người mẹ đã qua đời ở giữa khu trung tâm lạnh lẽocủa Viện Mồ côi New York bắt đầu lắc nó cho đến tuyệt vọng, nghĩ bụng, Ôi, cách đánh thức này mới thô bạo làm sao!Bởi đứa nhóc bé xíu này—không chịu thở, chẳng buồn ngọ nguậy—đang cư xử sai phép lịch sự của cả thế giới. Nó không chớp mắt. Nó kiên định và tái xanh trên đôi tay đầy máu của bác sĩ.

“Một ca chết non,” bác sĩ nói với y tá. “Và người phụ nữ đã chết, vỡ tử cung, tệ quá. . . .” Vậy là đứa bé đã hoàn toàn hết hi vọng, thế rồi, khoảnh khắc mong manh chấp chới giữa sự ra đời và cái chết của nó. Sự sống của nó. Và người mẹ không hôn thú, nằm trần truồng trên một cái bàn trong Viện Mồ côi, giờ đây không còn là mẹ hay con gái của bất kì ai.

Vị bác sĩ châm một điếu thuốc lá Thổ Nhĩ Kỳ và khẽ bật khóc, một nỗi buồn đong đếm bằng đề-xi-ben đâu đó giữa tiếng thở dài của một con bạc và người đàn bà nghèo khó đau khổ vật vã than van khi mất việc—và rồi có tiếng khóc khác hoà cùng bác sĩ. Khuôn mặt xanh mét của đứa bé chết non bừng nở như một đoá hoa và nó càng khóc mãnh liệt hơn, không còn nghi ngờ gì nữa, sống rồi, hít thở không ngại ngần, làm các bước quá tốt để trở thành Louis. Khuôn mặt nó ửng đỏlên sau từng giây, và bác sĩ nhổ điếu thuốc khỏi môi ông như một bông cẩm chướng hắc ín(2).

Lẽ ra ông thích hút thuốc tiếp, và uống chút gì nữa, nhưng bọn trẻ mà—bạn không thể chỉ đứng đó và nâng ly mừng hành trình trở lại của chúng với hư vô! Dầu sao. Nếu trong phòng chẳng có nhân chứng nào—không y tá, không người mẹ, chỉ có đứa bé đang gào khóc chứng kiến, và chính bạn—liệu bạn có thể . . . ? Không, phần tốt đẹp bên trong bác sĩ nhấn mạnh. Chúng ta không thể làm thế. Vậy là bác sĩ đeo chiếc kính màu lục của ông lên và xoa bóp đưa không khí vào ngực đứa bé bằng mu bàn tay; rồi khi máu và không khí bắt đầu đồng loạt hoạt động vàsắc thái tăm tối trên khuôn mặt nhàu nhĩ của Louisrạng lên thành sắc vàng tươi hồng hào, ông nhìn đứa bé và nói, “Chà, anh bạn, ta nghĩ con đã lựa chọn đúng đấy.”Gót chân nứt nẻ của người mẹ ở trên bàn lúc này lạnh như bột bả.

Kiệt sức, bác sĩ để trống giấy khai sinh. l-o-u-i-slà những chữ cái mà hai bà xơ buộc trên một chiếc vòng tay nhỏ cho đứa bé, vì bác sĩ nhớ, hay tưởng tượng ra ông nhớ, rằng người mẹ xấu số trong một giây phút đã thầm thì cái tên hoàn toàn phổ thông này với ông. Mẹ của Louis là một người nhập cư tới từ một đất nước ông không biết phát âm tên hay tìm nổi trên bản đồ—và nếu Louis có nghe được cái tên ấy khi nó lớn lên, chà, đại loại với nó cứ như xứ Oz hay cung trăng, một địa danh hư cấu.

Một trong những bà xơ ở quỹ Cứu trợ Trẻ em tới để đón đứa cô nhi sơ sinh, và Louis tuột mất quá khứ thực sự của nó chỉ sau vài tiếng kin kít phát ra khi đôi giày của bà xơ cất bước trên nền gạch men. Đưa nó đi, bỏ lại sự trống trải cứ mỗi lúc một lớn dần về một người phụ nữ lại phía sau nó, con người choàng khăn xa lạ này đã lên dây cót đồng hồ cuộc đời cho Louis. Bà xơ (người thi thoảng mơ rằng mình là một người đàn ông trong ngành quảng cáo, viết giới thiệu cho những bộ phim Hollywood) đặt một tờ giấy với lời mô tả ngắn gọn về thông tin của thằng bé vào trong chăn của nó, nghĩ rằng việc này biết đâu sẽ giúp nó được một gia đình Công giáo nhận nuôi: đứa bé chết non khốn khổ sống sót như một phép màu, cầu chúa phù hộ cho louis, tạ ơn(thanksgiving – ND)!

Đâu đó bên dưới dòng kẻ, dấu phẩy bà xơ viết bị nhoè và thế là Louis có một cái họ.

Khi ba ngày tuổi, Louis Thanksgiving được xếp vào một nhóm gồm mười một cô nhi, phụ trách bởi một xơ, một linh mục, và một gã môi giới phương Tâyđể ria mép hoàn toàn không quan tâm gì đến bọn trẻ. Nótrở thành một trong những đứa không may mắn phải lớn lên ở miền Trung Tây, một phần của những đứa kém phẩm hạnh nhất bị gửi lại từ chuyến tàu đưa trẻ mồ côi chạy từ New York qua Clarinda, bang Iowa. Trong khi nhiều đứa con trai và con gái trên chuyến tàu tìm được những gia đình nhận nuôi đáng mến, thì Louis hoàn toàn không được như vậy. Viện Mồ côi New York đã đưa một mẩu tin thống thiết lên mặt báo ở mỗi thành phố mà chuyến tàu đi qua, và hàng tá gia đình nông dân đã tập trung dưới cái mái hiên kẻ sọc ở nhà ga Clarinda để đánh giá những cái đầu gối nứt nẻ tới từ thành phố New York. Louise được ông Frederick K. Auschenbliss chọn, một người nông dân gốc Đức sản xuất sữa đã đối xử với cậu còn tệ hơn với vật nuôi của ông. Chí ít thì lũ bò còn được đứng yên và phẩy ruồi; khi lên mười, Louis phải dậy vắt sữa bò từ 2 giờ 30 sángvà phải bón phân chuồng trên khắp cánh đồng lúc bình minh. Ông Auschenbliss không phải một người cha trìu mến. Hãy hình dung thay vào đó là một gã cai nô lệ dần dà sống đúng như tiếng rít từ cái tên của hắn—một gã cổ rụt trong chiếc cổ áo đi lễ ngày Chúa nhật dựng đứng, đôi mắt vằn những vệt li ti không màu, giống như mỡ nằm trên chảo, nửa mặt khuất trong bóng tối của chuồng gia súc.Louis còn sơ sinh khi tới trang trại nhà Auschenbliss, mười sáu tuổi khi cậu trốn đi, và ngay cả những ông anh lắm mồm nhất trong đội công nhân nạo vét cũng chẳng thể cạy mồm cậu nói nửa lời về quãng thời gian ấy.

Louis, bây giờ lớn lên là một chàng trai trẻ đầy thương tổn và vô học, chẳng anh em với ai trong ngôi nhà có mười hai người, bỏ trốn khỏi trang trại và cha mẹ nuôi cùng các anh em trai ngay khi thời cơ chín muồi. Cậu lên tàu hoả xuôi về phương Nam trên hành trình mà cơn ngủ cứ bị thứ quy luật lặp đi lặp lại làm cho gián đoạn: mặt trời lặn rồi mặt trời lại mọc. Những cánh rừng bị đứt đoạn thành các bãi biển và rồi tái hợp trở lại khi những dãy núi băng qua. Tia sét thò những cái chân nhện xuống bên ngoài toa chở hàng và bò lên thân cây thông, kéo lê ngọn lửa theo nó. Cậu nhảy tàu lên tuyến đi qua miền Trung Tây, chạm tới những cánh đồng kê vàng óng và những vùng khuất của Đại Tây Dương, trước khi thực sự tiến về phương Nam, vươn xa khỏi Florida Panhandle.

 

Florida, những ngày này, là một nơi kì quặc: một bán đảo nơi bầu trời tự nó di chuyển trên đường như một chiếc đầu máy xe lửa màu lam, những đám mây phì phò đi xuyên qua các đầm lầy; nơi những cây cam và những khóm rau đều đặn mở lối cho rừng sâuvà rồi, xa hơn về phía Nam, mở toang thành trảng cỏ cao mười foot trải rộng ngút ngàn. Đây, cuối cùng, là cảnh tượng đập vào mắt Louis qua cửa toa chở hàng: một thảo nguyên rộng lớn như trảng cỏ Phi châu. Gió chiều cuốn đi mải miết một loài cỏ kì lạ hay một giống ngô dại—cỏ nước mặn, một người bạn đường nói vọng lên từ dưới vành mũ. Đó là cái tên cho loài cỏ thân dài tới mức nuốt chửng đc thân người. Những đội khảo sát của chính quyền đang làm việc trên khắp các tuyến đường, một đối trọng quái đản với hàng tá diệc và nai mà Louis trông thấy đứng trong đầm lầy. Rồi cậu nhận ra chiều cao chóng mặt của cây cối trong rừng thông, hàng triệu cây thân nhỏ vươn cao hết tầm mắt. Chúng được gọi là những cây thông cắt, vì những vết sẹo gạch chéo mà những người khai thác nhựa để lại—hàng ngàn mẫu Anh đã được khai thác lấy nhựa thông. Những cây thông khô khốc và trang nghiêm gợi cho Louis nhớ tới một bức ảnh nguyên mẫu Daguerre(3) của lực lượng Liên minh gầy còm dưới trướng tướng Lee(4) mà cậu từng nhìn thấy một lần hồi nhỏ.

Khu rừng nào cũng sâu, nhưng chúng chẳng hề yên bình hay tĩnh lặng—đầy người ở trong đó. Những cây rìu vung lên rồi hạ xuống, một tia sáng xanh loé lên ở rìa thân cây, và Louise dõi theo từ cán rìu tới cánh tay mập mạp và khuôn mặt vuông chữ điền bèn bẹt của những người thợ gỗ thuộc Đoàn bảo tồn dân sự(5). Gần mười ba triệu người tìm việc đang tập hợp lại như những đám mây châu chấu trong các thành phố, nhưng chỉ một vài trong số những kẻ săn tiền ấy có được chỗ mà đứng trong rừng. Từ trên tàu, Louis chỉ nhìn thấy một dúm người. Khi tàu gặp sự cố máy móc bên ngoài Rừng Quốc Gia Hồ Crooked, động cơ đột nhiên ngừng hoạt động và khối kim loại vật vã tới khi dừng hẳn ở giữa một khu rừng già. Ở ngoài này, Louise có thể nghe thấy tiếng những cơn gió bắt đầu thổi, tiếng xì xì của những cây không khí và những cây dứa Nam Mỹ đỏ thẫm. Lũ cóc sồi đồng thanh hợp xướng không thôi. Nếu cậu mà có thể nghe thấy cái chết của chính mình giữa tất cả những âm thanh huyên náo này, cậu sẽ thây kệ nó. Nhà, nhà, nhà,đường ray ca vang,và đoàn tàu lục tục hồi sinh trở lại.

Louis xuống tàu ở Titusville, và kí một hợp đồng sáu tháng với Đoàn bảo tồn dân sự. Cậu viết tên mình là louis thanksgiving, bỏ họ Auschenbliss, rồi nhìn quanh nhìn quất con phố bụi bặm như thể cậu vừa bỏ chạy khi gây ra tội ác. Sao mọi người lại ngu đần đến nỗi đi dùng súng nhỉ, cậu tự hỏi, trong khi cậu chỉ cần xử lão Auschenbliss bằng một cú đánh không chảy máu.

“Có người da đỏ đấy, nhưng họ ở trong trại riêng,” người tuyển dụng nói với cậu bằng giọng kiên nhẫn, như thể điều này gây quan ngại mà ông ta thường xuyên phải nói giảm. “Màu đỏ ở đây, tức là—chúng tôi chưa phân trại cho cậu.” Ông ta nhìn giấy tờ của Louise và ngước lên coi có vấn đề gì chăng. Louise nhìn lại ông ta vẻ hoài nghi. Cậu muốn kể với ông ta rằng cậu đã dành mười sáu năm vừa qua sống cùng súc vật và một đám anh em trai có thú giải trí tuyệt đỉnh cuối tuần là nghĩ ra “mấy trò đùa thực tế” với lũ bò và máy móc nông trang, một trò trong số đó thiếu chút nữa đã chém bay đầu Louis. Louis chẳng thấy vấn đề gì với bất kì ai cả—da đen, da trắng, hay da đỏ—chừng nào họ của người đó không phải Auschenbliss.

Giai đoạn đầu, cậu được phân về sà lan nạo vét của Đoàn bảo tồn dân sự với mười lăn người khác, được giới thiệu với cậu toàn bằng nghề nghiệp chuyên môn (“Đây là đầu bếp, thuyền trưởng, kĩ sư, người đốt lò . . .”). Giờ cậu là thành viên một đội của chính quyền đi khảo sát rừng quanh Ocala. Ba mươi đô la một tháng, và, cứ cố đi, bạn chẳng tài nào tiêu quá năm đô trừ phi bạn là con bạc khát nước trầm trọng—ở trong đầm lầy thì có gì mà mua ngoài thuốc lá, tem thư, và trang thiết bị cho khu trại? Louis mua một bộ dụng cụ linh tinh hết mười lăm xu.

Vài người công nhân nạo vét là cựu chiến binh cằn nhằn rằng trang bị của đội thiếu một cái nhà thuyền có đủ chức năng cho anh em ngủ giường tầng khô ráo trên sông; thay vào đó, cả bọn phải dỡ đồ từ sà lan và dựng trại mỗi tối, sau khi mất công tìm hòn đảo nào không bị ngập nước. Louis ngủ trong một cái lều với năm người nữa, mùi mồ hôi và thuốc lá thấm vào lớp không khí trong lều. Bên ngoài, bốc lên từ mặt đất như hơi thở của địa cầu, là mùi than bùn, một bức tường mùi than bùn kì vĩ, không gì tinh tế và dễ bay hơi như mùi hương—không, thể loại này thực sự thối. Dưới ánh mặt trời, than bùn làm cho khứu giác người ta khò khè gợi cho Louis Thanksgiving nhớ về mùi thum thủm làm cả vùng Clarinda điêu đứng. Phân bò, Louis nghĩ, khụt khịt mũi; hương thơm nông trại. Nhưng ở đây không khí mặn chát, thối gấp bốn lần. Cậu nhỏ nhẹ kêu ca về chuyện ấy, thấy vui vì buổi tối có chuyện để nói với mấy người khác. Chân anh em xoắn hết cả vào nhau, cậu nhận ra ngay đêm đầu, chẳng nói gì và chẳng di chuyển lấy một inch khi cậu tìm thấy cái nệm cuộn của mình, cái lều trở nên ẩm vì mấy người kia cẩn thận nằm sát nhau. Ai cũng phải giữ nguyên một tư thế; bạn phải luyện sao cho trong lúc ngủ cơ thể tĩnh như một con thuyền được neo lại mà không đung đưa. Louis từng nghe kể rằng một người kiểm soát viên phụ trách đào tạo trong công ty đã bị đánh chết ở phía Nam của Tallahasseesau khi leo lên nệm ngủ của người khác mà lại khoả thân ngay đơ—một thằng lại cái nực cười, mọi người xì ra.

Đêm đến, ánh trăng sáng tới mức chiếu xuyên qua cả lớp vải lều. Louis thường thức cho tới tận khi nhập nhoạng trước bình minh, lắng nghe tiếng muỗi bay vo ve như kiểu điều gì thần thánh lắm. Cậu yêu mến tất cả mọi người, cả sự nóng nực lẫn mùi thối và cái tàu nạo vét hôi rình hình ấm nước đã rạch một con kênh tách cậu khỏi tuổi thơ của mình. Cậu yêu mến cả những con hàu bị nghiền nát hay những cái cây bật gốc. Cậu cũng đủ thông minh để giữ những cảm xúc ấy cho riêng mình. Louise thích giữ một quả kiwi suốt cả ngày rồi đợi cho tới khi những người khác ngáy mới bỏ nó ra. Cậu bấm ngón tay qua lớp vỏ lông để mùi kiwi lan toả khắp lều. Lần đầu làm như vậy, cậu để ý thấy như là mọi người cười trong giấc ngủ; sau khi làm việc này hàng đêm, cậu tự mìm cười khi hình dung ra những giấc mộng đẹp lan từ người này sang người khác. Tâm trạng cậu tốt cho tới tận sáng, và vài người vốn ít nói trong đội phải làu bàu rằng thằng nhóc nông dân này chắc bị chập cheng. Ai mà lại ngủ dậy rồi huýt sáo trong cái nóng một trăm lẻ hai độ (ND: ba mươi chín độ C)? Thằng khùng cỡ nào mà lại cứ cười rạng rỡ với bạn khi cằm nó dính đầy muỗi chết với máu tươi của chính nó?

“Xem ai đang nhăn nhở như thằng ngu dưới cái nắng giữa trưa kìa,” ông trung uý nói, lắc lắc đầu. “Mày là thằng nhóc tốt bụng nhất tao từng biết, Louis ạ—thành thực mà nói, như thế đâm ra lại đáng lo. Tốt nhất là mày đừng bẻ cổ và giết bọn tao trong lúc ngủ! Tao có thể kể cho mày nghe nhiều chuyện lắm. Nhiều điều kì quặc xảy ra với những đứa tính tình đặc biệt lắm, mày biết đấy.”

Thỉnh thoảng, đội trưởng chuyển tới một bình rượu táo tím, đùa rằng nó không làm mờ mắt mấy anh em. Louise đồ rằng khẩu vị rượu mạnh của đội trường như kiểu kết hợp giữa rượu táo Nhà thờvà xăng—nó không làm cậu hành xử kì quặc chút nào, nhưng nụ cười của cậu thu lại, và cậu thường phải nhẹ nhàng xin thứ lỗi vì đã chạy và nôn qua đuôi tàu. Louise vẫn còn khuôn mặt bè kiểu trẻ con, một khuôn mặt nông dân, nhưng có nét đẹp trai thanh tú đầy non nớt ẩn dấu chỗ xương gò má của cậu—cậu có cái mà mọi người mô tả là “mặt vuông chữ điền”(6), với uy lực đẳng cấp Tổng thống, một dấu hiệu của kẻ đam mê the phòng. Đàn bà sẽ không thể cưỡng lại được, một sinh vật tuyệt luân như vậy ở giữa chốn này. Người phụ nữ cuối cùng mà Louis nhìn thấy là vợ của ông đầu bếp, hình dáng cao to như đàn ông, mặt như cái đĩa, mắt ác mà bé xíu, tóc vàng bồng bềnh nhìn bẩn bẩn. Đấy chắc hẳn là anh trai ông đầu bếp, Louis nghĩ vậy khi nhìn họ ôm hôn ở Pháo đài Watson(7). Sao anh trai ông đầu bếp lại mặc váy nhỉ?

“Cô ấy oai vệ, thằng ôn này,” ông đầu bếp nói vậy.

 

Sà lan nạo vét rổn rảng xuôi về hạ lưu với cái tay gàu đưa qua đưa lại. Lần đầu tiên trong cuộc sống ngắn ngủi của mình, Louis thực sự có bạn bè, tất cả những người lướt qua cậu để rồi trôi vào khoảng không—những người điềm tĩnh, thành viên gia đình, những gã trai tân, những kẻ dạy đời, những gã tai ác, da trắng, da đen, trẻ con da đỏ và những nô lệ được giải phóng. Có những chàng Adam, đá văng con rắn độc khỏi ngón chân cái trần trụi của Louis và cứu mạng cậu với những lời lèm bèm thong thả; những anh chàng cựu quân nhân bám theo con hươu đuôi trắng tiến vào khu rừng già ngả nghiêng giữa ngày dài vẫn bị bao phủ bởi bóng tối; những kẻ say bắn bừa bãi vào những con mèo vàng kì lạ vẫn do thám quanh khu trại của họ; những con bạc đã vặt sạch tiền của Louis chỉ với vài lá bài và rồi trả lại (một ít) khi ngày tàn. Mọi người đều là bạn của Louis. Khi trời còn sáng, họ lội lên phía trước. Họ khảo sát những khu vực cũ của Rừng Quốc gia trong nguyên tuần, và vào cuối tuần họ “dông dài,” như ông LaVerl, sĩ quan không lưu, nói: bắn súng, câu cá, thỉnh thoảng săn cá sấu dọc theo những cái ổ dưới làm dưới chân những đường sắt bỏ hoang. Ông đầu bếp bảo Louis đi kiếm hai tá trứng từ mấy cái ổ cá sấu ấy, và đãi cả đội một bữa tối trứng tráng vị cá.

Khi ánh sáng tắt lịm, họ ngủ. Con hươu đuôi trắng chạy vụt đi như ảo ảnh thấp thoáng giữa những cụm cây. Đôi khi Louis thấy buồn ngủ khi quan sát chúng từ trên boong, và điều ấy khiến cậu lo rằng sẽ không xác định được khi nào thì chìm vào giấc ngủ: hươu ẩn mình trong màn sương với những cặp vó bé xíu, những giấc mơ lốm đốm cứ lây lan phi nước đại trong đầu Louis. Có những đám cháy rất tệ làm cảnh vật mờ mịt; vào những tháng hè, ngày nào bạn cũng có thể nhìn thấy khói bốc lên, ở bất kì đâu nắng chiếu được tới mặt than bùn.

Louis nghe mấy nhân viên khảo sát khác nói tất cả mọi người trong nước đang “săn bắn một tuần cho công việc của một ngày.” Thi thoảng khi nghĩ về điều này, cậu thấy thật may vì cậu đã phát ốm lên vì cái bụng của mình. Hạnh phúc đôi khi cũng làm một dạng áp lực, Louis nhận ra như vậy, thậm chí còn hữu hình và góc cạnh hơn cả nỗi khát khao. Ở Clarinda, cậu đã mong mỏi điều tốt đẹp hơn chẳng theo dạng nào, khát khao như một cái máy đánh sữa màu ghi; thực tế, cậu đã quá nghèo tới nỗi chẳng bám víu nổi vào một khái niệm vững chắc: Một người cha thực sự? Một cô gái trong thị trấn? Một ngàn mẫu Anh? Một người bạn? Trái lại, niềm hạnh phúc này có góc cạnh; có đường nét cắt tỉa như một viên kim cương, và cậu hoàn toàn có thể đánh mất. Chà, Louis xác định rằng cậu sẽ không để mất nó, và rằng cậu sẽ không bao giờ trở lại như trước. Cuộc Suy thoái là điều tuyệt vời nhất từng xảy đến với cậu. Cậu có một tập tiền mới cứng, một bộ đồng phục với tên cậu được thêu chỉ màu dâu rừng lên túi áo, và thịt lợn cùng lòng can đảm trong bụng cậu.

 

Phấn chấn, chẳng muốn rời đi chút nào, Louis Thanksgiving kí tiếp một hợp đồng nữa, lần này là nạo vét một con kênh băng qua đầm lầy tới Bờ Vịnh(8), cho công ty Model Land, một công ty tư nhân đã mua hàng trăm ngàn mẫu Anh “đất nông nghiệp nguyên sơ Florida” vẫn đang chìm thăm thẳm dưới nước. Họ sẽ tháo nước khỏi đầm lầy, rồi sau đó khai phá và bán nó, nên họ cần một đội “chuột bùn” thiện chiến để thực hiện.

Nhưng chẳng ai giải thích cho Louis rằng cậu phải đi sâu đến đâu vào đầm lầy, hay những ông chủ của cậu ở trụ sở công ty Model Land, tại St, Augustine, bang Flodira, muốn cả đội tháo nước vùng lũ nhanhthế nào chỉ với một cánh tay gàu—một nhiệm vụ Héc-quyn cho bất kì máy móc nào, đặc biệt lại còn với cái tàu nạo vét cổ lỗ lụ khụ của công ty Model Land, so với nó thì tàu của chính quyền nhìn chẳng khác nào tàu du hành vũ trụ.

Cái tàu nạo vét ở đó để đào xuống bùn, và múc lên một gáo đầy đất sét rỉ nước. Và điều này xảy ra ở một khu đầm lầy mà bạn có thể đào xuyên lớp bề mặt than bùn sâu mười tám foot trước khi chạm vào lớp đá ổn định.

Đội hình cũng đã thay đổi—không ai thuộc Đoàn bảo tồn dân sự cùng kí hợp đồng cùng cậu. Ông LaVerl quay lại trang trại ngựa của gia đình ở Savannah, còn người da đỏ duy nhất trong đội, Euphon Tigertail, kẻ đã sống sót vượt qua những điều kiện khắc nghiệt khi làm việc ở Kênh đào Panama, quyết định rằng mình không thể làm việc trong đầm lầy thêm được nữa. Anh không chịu nổi những kẻ thù tí hon—bọn ruồi trắng và ruồi hút mát. “Em có chắc là em muốn trở thành công nhân nạo vét vì bộ đồ này à, Lou?” Euphon thầm thì, cả hai nhìn chằm chằm vào sườn tàu tàu nạo vét. Cánh tay đào của nó cao như một ngôi nhà và vục sâu xuống một bãi lầy. Cặp chân thép đúc làm cho cái máy trông như một con lừa say rượu. Đụn cỏ lún xuống về phía thảo nguyên cỏ nước mặn, trông như một cánh đồng lúa mạch sáng lấp lánh bị nhấn chìm. Trong một thoáng, Louis nghĩ tới đồng cỏ xa xôi nhà Auschenbliss và rùng mình.

“Em nên đi khai thác nhựa trong rừng thông.Mấy thảo nguyên này chỉ toàn thứ bỏ đi thôi; nó không như vùng rừng thông đâu. Chẳng có gì thông thiếc ở đây cả. Không thăng tiến, Lou. Không hồ hay cây cối hay nghỉ ngơi gì cả. Chỉ toàn cỏ nước mặn cho đến khi em phát thét. Em sẽ không có ngày nào được khô ráo trong hàng tháng trời. Em đi đến đó và sẽ chẳng bao giờ thoát ra nổi.”

Làm sao mà bạn có thể phạm sai lầm được khi mà bạn chỉ có một phương án duy nhất? Louis cảm thấy quá khứ địa ngục đã triệt tiêu mọi sự hối tiếc trong cậu. Nhưng cậu xấu hổ vì sự thoái lui của bạn bè mình—và hơi shock một chút, nghe họ phàn nàn về những tháng cuối cùng. Sau rốt, Louis cảm thấy một cơn bối rối đầy lãng mạn, lắng nghe mấy ông tóc hoa râm nói chuyện. Hoá ra những đêm và những cung đường mà cậu hằng cho là thiên đường, với những ông khác trong Đoàn bảo tồn dân sự, lại là “những tháng khủng khiếp, một cơn ác mộng” và “thung lũng bóng tối—chỉ toàn muỗi là muỗi!” Khi mỏ neo sà lan nạo vét chạm tới Chokoloskee, toàn bộ các anh em Đoàn bảo tồn dân sự bỏ đi như tháo nút thắt, Louis, Euphon và LaVerl chia tay nhau ở bến tàu như những kẻ xa lạ.

 

Nhiệm vụ đầu tiên của Louis trên tàu nạo vét mới là nghe ông đội trưởng răng sứt hướng dẫn những việc “liên quan”: cậu phải lặn phía trước tàu, răng ngậm một con dao và cắt những thân cây đuôi mèo đầy sình khỏi trục và bánh xe tàu nạo vét. Dee-tree-tus. Cái tên trong một cuốn sách, Louis nhận ra, khi cậu lấy dao ra khỏi miệng và khạc lên lớp mạ đồng. Cậu làm tét môi dưới; nước có vị như máu mặn và chua. Trong ngày đầu tiền cậu phải nhảy qua mũi tàu năm lần xuống vùng nước sình hôi thối của cá sấu và cắt những thân cây bám đầy cỏ.

“Em nên làm gì nếu gặp cá sấu?” Louis hỏi trong bữa tối đầu tiên.

“Mày dí con dao ở giữa cặp mắt thối tha tróc vảy, là nó sẽ lượn khỏi mày. Hoặc nhắm chỗ cổ nó, cắt đứt dây tuỷ sống của nó,” Ferguson, một trong những người phụ trách máy trục, nói. Anh ta từng một lần đi săn cá sâu với vài gã chuyên nghiệp ở gần Vịnh Flamingo, và bây giờ được coi là một chuyên gia về loài có vảy lưng.

“Tuy thế mày đừng nhăm nhăm vào mỗi cặp mắt,—bọn cá sấu có thể rụt lại đấy.” Anh ta giơ hai ngón tay u xương lên và giật ngược lại về phía cổ tay.

“Cảm ơn anh đã chỉ cho em,” Louis nói. Cậu tưởng tượng ra mình đang hét lên dưới nước, và những mũi kim nhỏ xíu bằng muối đâm thẳng vào lợi và tròng mắt cậu. Có chút hồi hộp, cậu từ chối cởi đồ trước khi lặn. Cậu nhảy xuống nước mà vẫn mặc quần dài và quần lót cotton, và đạp lên đám thực vật biển đầy bùn sình dơ bẩn. Chân cậu nổi như hai tấm ván phía sau, mọi cơ bắp đều căng lên, chuẩn bị rụt lại khỏi hàm răng cá sấu.

Louis không phải một người tiếp thu nhanh xuất sắc, nhưng cậu khoẻ và dễ bảo, rồi chỉ trong một tháng cậu đã làm tất cả mọi việc trên tàu nạo vét: lọc phần mỡ hơi xanh khỏi thịt lợn trong nhà bếp, giúp những người đốt lò ướt đẫm mồ hôi giữ động cơ hơi nước hoạt động. Mọi người trông như thợ nuôi ong khi đeo găng cotton và mạng che mặt chống muỗi, phổi họ đầy khói ẩm từ cây ngập mặn mà họ đốt liên tục để đuổi côn trùng.

“Xếp hàng vào, các chàng trai! Uống thuốc đi,” đội trưởng nói, ấn mấy viên than hoạt tính màu chàm và lưu huỳnh vào bàn tay Louis đang khung khum. Mỗi lần cậu hỏi mấy viên này dùng cho bệnh gì, cậu lại có câu trả lời khác nhau: nhiễm trùng tai, dị ứng phấn hoa, viêm mí mắt, tổn thương da. Gideon Thomas nói chỗ ấy toàn thuốc giả, dù vậy Louis thấy anh ta vẫn xếp hàng để nhận, như một chàng trai Công giáo ngoan đạo xếp hàng chịu Lễ.

“Aaaa,” Gideo kêu, thè cái lưỡi bẩn của anh ra.

“Đưa tay mày đây, thằng điên. Tao đéo phải mẹ mày!” đội trưởng rít lên. Nếu những viên thuốc có hiệu quả, khó mà hình dung ra bạn sẽ thảm hại thế nào nếu thiếu nó. Mọi người giơ những vết vảy cam của họ lên cao và phân loại chúng như những nhà côn trùng học.

Tuần 1: Họ không thể ngủ nổi với những vết bọ cắn; gãi, và rồi lại thêm vết mới, đó là một nỗ lực suốt tám tiếng đồng hồ. Lũ côn trùng từng là một mối phiền kinh niên trên sà lan của Đoàn bảo tồn dân sự, nhưng ở đây trên thảo nguyên thoáng đãng của đầm lầy, chúng là dịch bệnh, tiếng vo ve của chúng trong không khí nghe như tiếng kêu khốn khổ từ bụng của những người khát nước. Chúng bò lổn nhổn thành một lớp lông trên thân tàu nạo vét của công ty Model Land. Theodore Glyde, người kĩ sư tàu nạo vét khó tính, kêu ca rằng anh ta đã làm theo ca chỗ tàu nạo vét, rời boong tàu lúc hoàng hôn và làm thêm việc thứ hai là diệt côn trùng.

Tuần 2: chân của mọi người nứt nẻ nâu bóng lên như cánh gián. Louis, người từng mang nhiều vết bầm tím hơn thế hồi ở trang trại Auschenbliss, đổ một chút rượu lên ống chân và quay lại làm việc. Trên sà lan Đoàn bảo tồn dân sự, cả đội không bao giờ đi quá mười hai dặm tính từ bến tàu nơi có bác sĩ, nhưng tàu nạo vét này đã tiến vào khu vực không có trên bản đồ của đầm lầy khiến các vết thương đủ thời gian mưng mủ. Những cơn đau đầu làm mờ mắt một nửa đội hình.

Tuần 3: những vết đau bắt đầu rỉ nước. Mọi người kể về thời còn trong quân ngũ về, chuyện cắt cụt chân tay, những vết nhiễm trùng hoại tử. Trong cả đoàn, chỉ còn mình Louis vẫn hạnh phúc không suy suyển. Cậu xung phong vận chuyển nước ngoài giờ và chia cho mọi người phần trứng đúc thịt của cậu.

“Louis, mày đang ăn kiêng hay thế nào?” Gideon gằn giọng. Anh ta dựa vào lan can bên mạn phải cạnh Louis, cắm mặt ngấu nghiến đĩa trứng của Louis với biểu cảm đau khổ tội lỗi. “Mày nên ăn đi chứ, nhóc. Không hay ho gì khi mày cứ chia sẻ như vậy ở đây đâu. Mày đang nhìn cái con mẹ gì vậy?”

“Phong cảnh.”

“Phong cảnh!” Gid khịt mũi. Anh nhăn cái mũi to bự, anh thường làm thế mỗi khi nghe ai nói điều gì anh không thích, cứ như là anh sắp xì mũi ra sự sai trái của điều đó. “Có cái gì đấy . . . cái gì đấy rất đàn bàkhi ngắm cảnh, Lou.”

Louis toét miệng cười với Gideon và nhún vai; ngay cả việc bị người khác chọc ghẹo cũng làm cậu thấy vui. Hết ngày làm việc, lúc hoàng hôn: cậu thích ngắm cánh mặt trời đỏ rực hạ xuống qua tấm lưới thép của mạng chống muỗi cho tới khi cặp mắt xanh của cậu thoả mãn. Sau tấm mạng, cậu của vẻ mặt của một người đi lễ nhà thờ.

“Anh Gid ơi?” cậu hỏi anh bạn, khi họ đang đóng nước thải vào thùng, mặt trời chỉ còn là một chấm nhỏ tươi tắn phía sau rặng cây. “Anh Gid . . . anh có muốnquay về không?”

Thận trọng, anh bạn cậu quay lại. “Về đâu?”

Ý Louis là “bất kì nơi đâu.” Trở về đất liền. Trở về với chính bản thân họ, trở về với cái tên của họ mà không có nghề nghiệp đính kèm, trở về với bất kì chỗ nào bất động, bẩn thỉu—hoặctới một trong hai cái cột đôi mà con đường đầm lầy họ đang xây dựng để liên kết. Cậu đã nghe kể về bệnh sợ nước, và cậu tự hỏi không biết có từ nào như thế về cậu chăng. Hay về con người mà cậu sẽ trở thành. Sợ mặt đất? Đó là nỗi sợ phải cắm rễ, sợ đời sống đô thị, sợ xe cộ, những thị trấn và năm tháng trên lịch. Cậu đã không trở thành một công nhân nạo vét nếu bên dưới cỗ máy không phải là dòng nước cuồn cuộn, chắc chắn là như thế. Nhiều lúc, trong đêm, Louis mơ màng nghĩ về việc phá hoại tàu nạo vét—giật tung các bộ phận trong phòng máy như vặt hoa. Đó chỉ là suy nghĩ, một suy nghĩ điên rồ, nhưng đội càng tiến gần tới Vịnh, cậu càng nôn nao trong lòng. Mồ hôi cậu túa ra nhiều hơn khi cậu hình dung ra bình minh nơi chân trời đặc quánh—một sự vắng bóng đột ngột rừng ngập mặn làm lộ ra cả đại dương bao la, đại thành công mà công ty Model Land hướng tới khi thuê tàu nạo vét và cả đội.

“Chúa ơi, Louis, mày trông như cái thằng gì nhỉ? Người Hy Lạp ấy. Thằng Narcissus! Mắt long lanh tự ngắm bóng mình phản chiếu trong cái xô đấy.”

“Xin lỗi. Em hơi hơi . . . nhớ nhà, chắc thế. Vậy là anh hào hứng mong lúc kết thúc? Những thứ bên bờ Vịnh ấy?

“Ngu thế, tất nhiên rồi!” Gideon bật cười, đổ xô nước đen qua lan can lên đầu một con cá sấu nhỏ bé đang giận dữ. “Tao có hào hứng với tiền công và một con đàn bà trên giường không á? Tao có hào hứng thoát ra khỏi cái địa ngục ẩm ướt này và mua một cái quần mà không sợ bị bốn mươi loài côn trùng đốt xuyên qua, và một đôi giày mà tao không bị lòi ngón chân không á? Trời đất quỷ thần ơi, Lou, tao sẽ hát Ave Maria! Tao sẽ lặn vì đất liền!”

 

Louis dành buổi sáng ngày 12 tháng Năm năm 1934, tự hạ gục mình hết ván bài này tới ván bài khác với Gideon trên boong. Cậu được nghỉ, và tha hồ nghĩ ngợi. Hôm ấy cậu không bị đau đầu, hay có điềm báo gì. Buổi trưa, cậu thấy hơi đói, nên cậu ăn mấy miếng thịt cò khô và cân nhắc chèo thuyền quanh nhà thuyền để hít thở. Cậu đốt vài quả pháovà thảy vào bãi đá vôi, rồi quan sát như hươu đuôi trắng chạy vội qua đầm lầy. Cứ sau mười giờ làm việc, con kênh dài thêm được một trăm bốn mươi foot; họ còn cách Vịnh một tháng nữa và sẽ kết thúc hợp đồng.

Louis ngồi trên mạn phải tàu nạo vét, hai chân trần đung đưa, bắp chuối nóng lên khi chạm vào lan can sắt, nhìn một đôi rái cá quần nhau trong bụi cỏ đuôi mèo. Một lúc sau chúng đã trở thành bạn tình, chúng múa một điệu ballet ngớ ngẩn, những con ốc đen phía dưới lá hoa súng và những con gà đầm lầy màu tím. Cậu cách phòng máy hai mươi lăm foot khi một tiếng hét như cơn sóng triều gần như đã làm cậu ngã nhào khỏi boong. Cậu quay lại và thấy ngọn lửa nhấn chìm mái phòng máy trong một cú chồm lên ngoạn mục; trong vài giây, một đám khói dày đặc nuốt trọn phía thành tàu trên boong và che phủ hàng mẫu Anh ánh nắng lên thảo nguyên cỏ nước mặn về phía Đông Nam.

Mọi thứ tiếp theo mà Louis nheo mắt nhìn đều bị nhuốm đỏ: một người mỏng dính như tấm thép—Ira, Louis uể oải nghĩ, hoặc có thể là Jackson—lảo đảo ngã khỏi đuôi tàu. Louis nghe tiếng đầu anh ta nện xuống; một người khác nhảy sau anh ta. Để cứu anh ta, Louis nghĩ, tự hào vì đã nghĩ ra được mối liên kết. Một cách mờ ảo, ý tưởng ấy đến với cậu rằng cậu cũng nên làm gì đó. Khói mù dường như đã thâm nhập trí não cậu từ thế giới bên ngoài, bởi cả boong tàu nạo vét đang mất phương hướng bởi tiếng ồn của hơi nước thoát ra ngoài. Đầu nồi hơi nổ rồi, Louis nghĩ, và cảm thấy mạch mình đập loạn. Cậu nhấc thân mình lên và tìm đường hướng về phía phía phòng máy đang bốc khói, nơi mà những người khác đang đưa nước tới.

Louis đưa một tay lên ôm mặt và thấy dính dính. Máu đang chảy ra từ một bên mắt cậu, bên còn lại thì không mở ra nổi. Cậu thấm mệt, sự mệt mỏi kinh khủng. Mình có thể ngủ luôn ở đây, cậu nghĩ. Khuôn mặt chữ điền của cậu khiến cậu ngạc nhiên trong làn nước phía dưới thuyền; ở một vài điểm cậu quăng mình lên trên lan can. Bóng phản chiếu của cậu nháy mắt với cậu, như thể nó đang cố nhớ ra làm sao mà lại quen nhau. Mấy con rái cá, cậu phát hiện, đã biến mất.

“Gideon cần đến bệnh viện!” Hector, một trong những thợ máy trục, hét lên. “Nó chết rồi, nó chết rồi!”

Rõ ràng, Hector đã quên mất trình tự của cái chết và y học như trên đất liền, Louis chán nản nghĩ—nếu Gid chết rồi, thì đã quá muộn để đưa đến bệnh viện.

Gần như không thể băng qua bức tường hơi nước nữa, và, khi cuối cùng cậu cũng ngã vào phòng máy, Louis tìm thấy cái xác như bị luộc của Gideon Thomas. Anh ta nằm trên sàn, tay phải nắm lấy cổ họng. Chết rồi, Louis nghĩ—hơi nước từ nồi hơi chắc hẳn đã làm bỏng mắt và phổi anh ấy. Nhưng rồi, khi Louis quan sát, cánh tay bắt đầu cử động, xoa bóp làn da đen thui của Gid. Mắt phải anh mở ra như một vết nứt xanh giữa trời, tay còn lại anh đẩy thẳng vào bức tường thép—và rồi, không thể tin nổi, anh ta đứng dậy, nhìn Louis vô hồn, một nửa khuôn mặt anhcháy xèo xèo. Mồm anh ta mấp máy, nhưng chẳng phát ra tiếng nào. Hàm anh co giật như nhai kẹo cao su, phía trên là mắt phải anh hướng về phía boong tàu chẳng chút tò mò, với một sự bình tĩnh cố hữu. Người thuỷ thủ, Louis nghĩ—luồng ý tưởng này nảy đến với cậu từ vài sự kiện bị lãng quên lâu lắm rồi, một bài thơ thuộc lòng mà người ít tuổi nhất trong nhà Auschenbliss đã đọc tại giáo hội trong một mùa đông nhiều năm trước. Người thuỷ thủ có đôi mắt sáng.

Bằng cách nào đó mà Gid đang loạng choạng tiến về phía cậu, cố gắng khạc khói ra. Đây là một phép màu tồi tệ, Louis nghĩ khi nhìn Gid. Tiến về phía anh ấy đi, cậu nghĩ, nhưng cậu bị hoá đá, chỉ nhìn chăm chăm. Gid bước một bước về phía Louis rồi nói, với giọng trôi trảy đau khổ, “Tao tin là phổi của tao bị bỏng hết rồi, Louie. Tao tin . . . ,” trước khi gục xuống.

“Một cái bệnh-viện! Một-”

“Quỷ tha ma bắt anh, Heck, im mồm,” lần đầu tiên trong đời Louis nói bằng giọng giận dữ. “Bệnh-vi-ện” nghe như lời kích động của một thằng ngu. Mọi người đưa Gid đi đâu được bây giờ? Chẳng nó chỗ nào quanh đây cả. Đó chính là điểm mấu chốt cho sự tiếp tục hiện diện của họ ở đây, đó là điều mà công ty Model Land thuê họ thực hiện: biến bãi bùn lầy này thành một nơi chốn thực sự.

Chuyện gì đó đang xảy ra phía dưới. Cả boong tàu bắt đầu rung lên. Ở chỗ khác, nhóm thợ trục đang chạy đua, mang nước tới chỗ ngọn lửa nhỏ bây giờ đã vươn tới chỗ nhà thuyền. Ngọn lửa cũng liếm lên những tấm ván bạc màu của nhà bếp. Mùi thép bị nung nóng làm phổi và cổ họng Louis sưng lên. Ánh sáng chói loà từ đầm lầy sâu như buổi trình diễn pháo hoa tháng Bảy, thế rồi tất cả các bóng đèn đồng loạt cháy—cáiđai điều chỉnhcủa động cơ hơi nước chắc hỏng rồi, Louis nghĩ. Bụi cỏ đuôi mèo đu đưa trong làn khói, cùng dập dìu và ngả lại gần con tàu như những kẻ quan sát ngoài hành tinh.

Cái gì đó hay ai đó ngã vật xuống trên boong phía đuôi tàu nạo vét và Louis không ngoái lại nhìn. Máu trên tay cậu đã trở thành máu trên tóc cậu, cậu nhận thấy, máu trên cổ cậu, trên chiếc áo khoác jean của cậu. Hector tới bảo cậu rằng phía dưới họ trong khoang chứa đồ có cái trống hậu, một bộ phận tối quan trọng của máy cẩu, đang cuộn trong mớ cáp của nó. Nhưng tiếng kêu của anh ta rơi tõm xuống chân và giờ thì anh ta nhìn trân trối  qua vai Louis, mắt trợn tròn, cái nhìn như thể choàng tỉnh. Anh ta chỉ về phía phòng máy, nơi hai đống than—hai foot, Louis nhận ra, giày của Gideon—đang rõ mồn một. Đế giày anh ta tuột ra khỏi gót chân thành hình trái tim. Từ hông trở xuống anh ta trông như một gã đang thư giãn trên boong tàu.

“Cởi giày anh ấy ra,” Louis nói. “Đi nào, địt cụ, ai đó cởi giày anh ấy ra!” Nhưng những người khác lại phản ứng bằng cách dạt ra xa khỏi Louis đang vung vẩy chân tay, cứ như là sợ sẽ bị những lời tục tĩu của cậu làm vấy bẩn. Vài người trong đội đã tụ họp lại. Không ai biết nguyên nhân vụ tai nạn—sự ăn mòn, đội trưởng đưa ra giả thuyết. Ông ấy đã từng nhìn thấy một vết mòn dài hai inch trên đầu nồi hơi.

Khi mọi người đứng lộn xộn bên mạn phải sà lan, những bóng đen bắt đầu xâm chiếm bầu trời: lũ diều hâu xuất hiện lốm đốm từng nhóm hai, ba con phía đường chân trời đầy nước, nửa tá, hàng tá con theo sau. Chúng di chuyển cực nhanh nên trông đơn giản như những cái lỗ đang lao đi trong không gian, một trận mưa tuyết của những lỗ mực. Móng vuốt bắt đầu bổ xuống người Gid. Đợt đầu tiên nhào xuống và lấy mất mũ của Gid, và xé toang cổ áo cài nút của anh. Hector lôi khẩu súng trường ra bắn loạn xạ về phía lũ chim; một viên đạn sượt qua đội trưởng. “Bỏ súng xuống!” đội trưởng gào lên. “Mày giết người bây giờ.”

Tất cả quan sát bầy diều hâu. Trông chúng chẳng có chút gì giống với những con kền kền gà tây đầu đỏ mà cả đội đã thấy ở hồ Long Glade; chúng là những con chim to lớn, đen đúa và có bướu cổ, khi chúng đập cánh Louis nghĩ tới những chiếc dù đám tang nhễu nước mưa dọc theo những bức tường đá của Nhà thờ St. Agnes trong đám tang ở Clarinda. Bây giờ vài con chim tạo thành đội hình hình tròn quần thảo quanh Gid; trong chớp mắt một con đã hất tung thuốc lá của anh ta, một con khác xé rách tay áo anh từ phần khuỷu tay. Hai con diều hâu miệt mài làm việc để kéo cái giày đen khỏi chân anh. Louis không thể cử động hay nghĩ gì; tâm trí cậu nhẹ bẫng như khí heli. Vị đinh ốc và tiền xu dậy lên trong miệng cậu cho đến khi cậu phát ốm vì nó. Quanh cậu những thợ máy trục đang gào “Bắn đi!” trên một ụn đất đã trở thành âm thanh như tấm vải mỏng, trùm lên như một mái hiên che cả tàu nạo vét.

Điều trôi qua tâm trí Louis lúc này như vỏ hến của suy nghĩ, một tràng những tiếng “O”, tròn trịa và trống rỗng, như lớp ngoài bị vứt bỏ của những tiếng gào thét. Một mảnh thuỷ tinh nhỏ xinh màu tía đánh dấu vị trí cặp mắt kính của Gid trên boong tàu, Louis quỳ xuống để nhặt nó; khi cảm thấy một vết chích trên cổ, cậu ngước nhìn lên.

Trong một khung cảnh dường như vừa hợp lý lại vừa đáng sợ như giấc mơ tồi tệ nhất của Louis, lũ chim sà xuống chỗ Gideon và quắp móng vuốt của chúng vào da thịt anh; khoảng nửa tá diều hâu nhấc bổng anh lên không trung. Cơ thể Gid nhỏ dần giữa khoảng không quang đãng. Bầu trời hôm nay như một viên ngọc saphia trong veo, thời tiết tốt hơn so với nhiều tuần nay; đã lâu rồi, mọi người mới có thể chứng kiến cái đầu Gid bé tí như một đốm đen, ngả ra phía sau vai, giống như anh ta đang cố tập một tư thế ngoẹo cổ xấu xí.

Một sự im lặng nghẹt thở bao trùm lấy họ. Cảm giác như hàng giờ đồng hồ trôi qua trước khi mọi người có thể cử động.

“Bọn mày đã bao giờ thấy lũ chim làm gì như thế chưa?” Hector hỏi, mặt trời sắp lặn. Giọng anh ta lí nhí như tiếng trẻ con, Louis thấy phải thật sự dũng cảm mới có thể mở mồm ra nói được. Cổ họng Louis khô như sa mạc và dù có cho hàng triệu đô cậu cũng không thể hé nổi một lời. Không, Louis nghĩ, bạn chứng kiến một chuyện như vậy và bạn chìm sâu vào nội tâm; bạn không muốn tạo ra dù chỉ một rung động trong không khí.

“Chưa bao giờ,” gã chuyên nhổ neo nói phía sau cậu. “Chưa bao giờ thấy con chim nào hành động như vậy.” Giọng hắn nhẹ nhàng vui vẻ, cứ như là hắn đang bình phẩm về thời tiết lạnh bất thường, hay là đồ ăn có vị đặc biệt. Hector, trong cơn hoảng loạn, có vẻ không nghe thấy câu trả lời. Vài người vẫn dõi theo chấm nhỏ trên bầu trời nơi Gid đã biến mất phía sau một vệt mây bên đỉnh núi. Trăng đang lên. Lửa đã gần tắt hẳn. Louis, cuối cùng cũng có thể vượt qua sự cứng họng tăm tối, bao la của bản thân, đã nhận ra điều thú vị mà cậu chỉ cho những người còn lại: bầy diều hâu đang quay trở lại.

Mọi người bắt đầu la hét, lắp bắp những lời vô nghĩa; vài người nhảy ùm ra khỏi tàu. Louis nghe thấy tiếng tay đập ướt át, điên cuồng lên mặt nước. Bầy chim lúc này đã nuốt chửng tàu nạo vét. Chúng đậu trên khắp giàn thép và mũi tàu và trên cả mái buồng điền khiển, khiến cho cả khối cấu trúc trông như được bọc bởi vải nhung đen; Louis thấy có nhiều chim như vậy trên thế giới này dường như thật quá phi lý. Cậu nhìn một con diều hâu trông to như con người nâng và giang cánh; một vật gì đó hay một phần cơ thể Gid loé sáng trên mỏ nó rồi rơi xuống nước. Sau cùng, Louis cảm thấy một tiếng hét xé lòng thoát ra từ cổ họng cậu.

“Ôi, im đi. Chúng nó chỉ là chim thôi mà,” Theodore, tay kĩ sư cao ráo, vàng vọt cáu kỉnh nhắc đi nhắc lại, làm điệu bộ dù chẳng hướng về ai. “Chúng chỉ là mấy con diều hâu bẩn thỉu. Chúng lẽ ra không thể làm hại chúng ta được—dù sao đi nữa, mọi người, chúng ta còn sống. . . .” Anh ta cứ tiếp tục thế trong khi bầy diều hâu cứ mỗi lúc một đông. Làm sao mà chúng vẫn tới được? Louis tự hỏi. Hàng trăm con nữa đang tới. Cậu đứng đó và chờ đợi, mặt ngẩng lên tái mét. Theodore vẫn đang vung tay lung tung, như thể anh ta có thể tranh cãi để đoạt lại mạng sống của mình đem cất vào lỗ trên mặt trăng.

“Chúng tới rồi, anh em,” Louis Thanksgiving khẽ nói, bên cạnh cậu Theodore khịt mũi chán nản và khoanh tay trước ngực ra vẻ anh ta mất kiên nhẫn để chứng minh điều gì đó.

Chúa ơi, Louis nghĩ. Cậu không còn cảm thấy sợ hãi nữa—chỉ còn nỗi buồn thuần tuý, bởi cậu mới mười bảy tuổi vào mùa hè này và cậu chưa muốn rời đi. Cuộc sống thực sự của cậu mới chỉ bắt đầu chưa được đầy một năm. Tiếp theo là mình.


(1) ND: cuộc Đại suy thoái kinh tế toàn cầu diễn ra từ năm 1929 cho tới đầu thập kỷ 1940.

(2) ND: nguyên văn “a tar carnation”, có lẽ tác giả sử dụng tiếng lóng ý nói loại thuốc lá cuộn tối màu.

(3) ND: phương pháp chụp ảnh mang tên nhà sáng chế người Pháp, Louis Daguerre.

(4) ND: Robert Edward Lee, đại tướng Liên minh miền Nam trong Nội chiến Mỹ 1861-1865.

 (5) ND: Civilian Conservation Corps do Tổng thống Franklin D. Roosevelt thành lập năm 1933.

(6) ND: nguyên văn “lantern jawline”: hàm vuông như đèn lồng.

(7) ND: một địa danh ở bang South Carolina, Mỹ.

(8) ND: Gulf Coast, vùng biển phía Nam nước Mỹ.

Copyright © 2010 by Karen Russell.

ThKh chuyển ngữ không có sự đồng ý của tác giả.

———-

ThKh – 2019

ThKh là một bút danh khác của ChuKim, một người viết tự do, sống và yêu tại một ngôi làng mang tên thành phố. Nếu có thể, hãy ủng hộ và khích lệ bằng cách đọc và chia sẻ những gì anh viết trong khả năng của bạn. Xin cảm ơn.

– natchukim.cogaihu@gmail.com –

PS: Tất cả nội dung trong blog này đều được tuyên bố quyền sở hữu và quyền tác giả về nội dung, ngoại trừ những bài sưu tầm có đề rõ. Mọi trích dẫn, đăng lại, vui lòng ghi rõ nguồn. 

 

Một con chuột triết gia

Sau nhiều năm đằng đẵng tưởng chừng như vô tận của quá trình tiến hoá, cuối cùng loài chuột cũng đã có một con chuột triết gia. Tất nhiên, điều làm nên sự khác biệt giữa nó và những con chuột khác cũng na ná như sự khác biệt giữa những con người triết gia và những con người bình thường. Lần đầu tiên, nhờ có con chuột triết gia mà thế giới loài chuột biết đến cảm giác vỡ oà trước mặt trời chân lý; những khoảnh khắc trầm ngâm đến ngu xuẩn trước những câu hỏi theo kiểu ‘chuột là gì?’, ‘đời chuột vì điều gì?’, hay ‘chuột?’; niềm ham thích được chạm tới một cuộc sống cao cả hơn, mãnh liệt hơn. Nói chung, kể từ ngày con chuột triết gia xuất hiện, loài chuột cứ như thể đã thoát thai hoàn cốt, chúng đã giác ngộ được cái chính mình, đã biết dừng lại và suy tư, nên chúng tồn tại.

Con chuột triết gia cũng không biết tại sao nó lại trở thành con chuột triết gia, chỉ biết ngay khi vừa có nhận thức, nó đã mang đầy đủ phẩm chất và năng lực của một con chuột triết gia. Khi suy nghĩ về điều này, nó đồ rằng do đời sống ở đô thị loài người với đầy rẫy những triết lý được truyền tải qua những phương tiện lưu giữ và biểu đạt kiến thức của loài người mà nhiều không đếm xuể các thế hệ trong dòng dõi của nó đã vô tình thẩm thấu từ lúc nào không biết, và bùm, thời gian chỉ chờ cho thời cơ chín muồi là đời chuột sang trang.

Ban đầu, con chuột triết gia đảm nhiệm vai trò của một bậc thầy. Nó thu thập môn đệ, nhưng nó không dạy những con chuột môn đệ ấy bất kì điều gì, nó chỉ làm cho chúng biết suy nghĩ. Thâm sâu đến vậy là cùng. Và thế là ánh sáng của tư duy cứ thế lan toả trong thế giới loài chuột. Nhưng phàm ở đời, hễ cứ đơn giản như thế thì không có chuyện gì mà nói cả. Những con chuột vốn dĩ đã ngu muội và mọi rợ suốt chiều dài lịch sử của giống loài mình. Chúng bệ rạc, tuỳ tiện, bản năng, yếu ớt, kém cỏi không thể tưởng tượng nổi, dẫu cho đã trải qua và chứng kiến tiến trình phát triền nền văn minh của loài người, cho đến giờ phút này chúng mới chỉ sản sinh ra được duy nhất một con chuột triết gia.

Vậy là con chuột triết gia nay phải gánh thêm trọng trách của một con chuột chúa tể. Nó bừng sáng để khai mở kỉ nguyên vĩ đại của loài chuột, kỉ nguyên chuột triết gia. Nó hô hào, nó hiệu triệu, nó truyền cảm hứng, nó truyền lệnh, nó thị phạm, nó dẫn dắt loài chuột từng chút từng chút đi qua đêm trường tăm tối. Không, nó làm gì đã đi qua được đêm trường tăm tối, nó mới chỉ đang lần mò bước đi trong màn đêm đen kịt, nhưng chỉ nội việc sử dụng được phép ẩn dụ và làm cho những con dân của nó phấn khích với hình ảnh ví von ấy đã là một chỉ dấu vĩ đại cho sự thăng tiến trong những tâm hồn chuột.

Tất cả mọi việc diễn ra trong một năm rưỡi.

Một ngày, khi đã đi qua ba phần tư đời chuột, con chuột triết gia bình tâm nhìn lại những gì mà nó đã làm. Là một bậc thầy, một chúa tể, hiển nhiên là con chuột triết gia có mọi đặc quyền và sự cung phụng từ những con chuột khác mà một con chuột có thể có. Nó xứng đáng với những điều ấy. Nó nhìn quanh, thấy giống loài của nó đã có sự chuyển mình, rồi đây, có thể là hàng ngàn, hàng vạn thế hệ nữa trôi qua, sẽ tới một ngày có những con chuột với đầy đủ khả năng để nhìn lại và ghi dấu điểm bước ngoặt của loài chuột với sự hiện diện của con chuột triết gia là nó.

Con chuột triết gia cho phép mình trở lại làm một con chuột triết gia vẹn nguyên và hoàn mỹ. Nó muốn được trở về với bản thể sơ khai và trong sáng nhất mà nó vốn có, để được thêm lần nữa vươn tới chân lý của đời chuột, lần này là cho riêng mình nó, chỉ riêng mình nó mà thôi.

Loài chuột. Tại sao lại là loài chuột? Loài chuột với loài người. Tại sao lại là với loài người? Nó tự hỏi.

Con chuột triết gia bắt đầu với suy tưởng về những giống loài khác sống quanh loài người. Mèo (nó nghĩ tới mèo đầu tiên), chó (sau đó là tới chó), trâu, bò, gà, vịt, ngan, lợn, ngựa, dê, ruồi, muỗi, kiến, gián, cá, tôm, chim, ong, bướm. Rồi nó thả mình vào dòng tư duy trừu tượng theo lối của một triết gia, hằng mong tìm về triết lý sâu thẳm của sự tồn tại.

Một ngày, hai ngày, ba ngày, rồi nhiều ngày trôi qua. Bỗng nhiên, một tia sáng loé lên trong tâm trí con chuột triết gia khi nó đang lặng ngắm cảnh hoàng hôn từ trên đỉnh cao của đời chuột. Nhân tạo. Câu trả lời chính là nhân tạo. Mọi sự nằm ở ranh giới giữa nhân tạo và phi nhân tạo, trên ranh giới ấy, loài chuột đã được lựa chọn. Chúng có những năng lực sinh học phi thường mà những loài quá bé nhỏ không thể có cho sự thoát thai; lại thiếu đi những ưu điểm đem lại lợi ích sinh tồn sát sườn cho đời sống loài người. Loài người đã bỏ qua loài chuột. Loài người không ngu chuột để trị, không biến toàn bộ giống loài của chúng trở thành một giống loài nhân tạo như những loài vật hàng ngày ở cạnh họ để mua vui hay làm nô lệ, hoặc bi ai hơn là làm nguồn cung cấp thức ăn, cũng không cố công huỷ diệt loài chuột mà để mặc chúng tồn tại như một loài sinh vật nhỏ bé rác rưởi. Loài người đơn giản chấp nhận sự hiện diện song song của loài chuột với mình, chỉ thi thoảng đưa bàn tay đầy quyền lực của họ ra và chọn lấy vài con chuột, cố gắng biến chúng trở thành những con chuột siêu đẳng, họ dành cho loài chuột một tình cảm đặc biệt mà những loài vật khác không bao giờ có được.

Con chuột triết gia bật khóc. Giống loài của nó đã ăn những thức ăn nhân tạo, ngủ trong những ngõ ngách nhân tạo, sinh con đẻ cái trong những bối cảnh nhân tạo, sống trong một thế giới nhân tạo với ranh giới giữa sự sống và cái chết đầy mong manh mà chúng chưa bao giờ biết được tại sao. Chúng không trở thành một loài vật nhân tạo chỉ vì chúng may mắn vượt qua được cuộc chọn lọc nhân tạo. Không có gì là chọn lọc tự nhiên ở đây cả. Không có gì là huyền diệu trong sự tồn tại của nó cả. Giọt nước mắt cuốn theo cả đời chuột lăn dài trên khuôn mặt con chuột triết gia.

Lại thêm lần nữa, con chuột triết gia ngoái đầu nhìn lại những gì đã trải qua. Nó không ân hận vì những gì mình đã làm. Lịch sử loài chuột, hay biết đâu cả lịch sử loài người, dám lắm chứ, đều sẽ dấn bước để trở thành những dạng sống không ngừng thay đổi, và sẽ ghi dấu di sản mà nó đã để lại cho loài chuột. Với điều kiện loài chuột tiếp tục vượt qua được cuộc chọn lọc nhân tạo mà chúng sẽ phải không ngừng tranh đấu.

Con chuột triết gia quyết định lên đường, nó nhẩm tính thời gian của mình không còn nhiều, nó muốn đi thật xa, đi đến những nơi không có dấu chân loài người, nó muốn một lần được sống và chiêm nghiệm về một thế giới phi nhân tạo, một thế giới tự nhiên như bản thể của tạo hoá, để nó có thể cảm nhận niềm hạnh phúc vui sống mà cuộc đời nhân tạo của nó chưa từng được nếm trải.

Trước khi nó bỏ đi, những con chuột khác hỏi nó, ‘Thưa thầy, thầy đi đâu? Chúng tôi biết phải làm gì khi thiếu thầy đây?’ Con chuột triết gia kể cho những con chuột ấy một câu chuyện cuối cùng, câu chuyện về một kiếp sống khác mà mỗi con chuột đều xứng đáng có được nếu như chúng có thể trân quý hết mình từng khoảnh khắc của đời chuột, sống với niềm khát khao và lòng dũng cảm vô bờ bến mà chúng chưa bao giờ hình dung nổi về bản thân mình. Nói đoạn con chuột triết gia co rúm người lại rồi bắn vọt đi.

———-

ChuKim – 2019

ChuKim là bút danh của một người viết tự do, sống và yêu tại một ngôi làng mang tên thành phố. Nếu có thể, hãy ủng hộ và khích lệ bằng cách đọc và chia sẻ những gì anh viết trong khả năng của bạn. Xin cảm ơn.

– natchukim.cogaihu@gmail.com –

PS: Tất cả nội dung trong blog này đều được tuyên bố quyền sở hữu và quyền tác giả về nội dung, ngoại trừ những bài sưu tầm có đề rõ. Mọi trích dẫn, đăng lại, vui lòng ghi rõ nguồn.

Truyện ngắn: Đứa trẻ – Salvatore Scibona

Salvatore Scibona (1975-) là nhà văn người Mỹ. Ông được biết đến qua các tiểu luận, truyện ngắn cùng hai tiểu thuyết The end (2008) và The volunteer (2019). Hiện ông là giám đốc quỹ Sue Ann và John Weinberg của trung tâm Cullman tại thư viện New York Public cho các học giả và cây viết.   

Salvatore Scibona (Grafilu - newyorker.com)

Tranh: Grafilu – newyorker.com

‘Đứa trẻ’ (The kid) là truyện ngắn của Salvatore Scibona được đăng trong tuyển tập 20 under 40 (2010) của tạp chí The New Yorker. 


Đứa trẻ

 

Thằng bé mặc cái áo khoác parka đen, đội mũ trượt tuyết nhìn khá hợp, quần jean, giày sneaker; trông khoảng năm tuổi; và nó đang khóc.

Nó đứng ở Cổng C3, sân bay Hamburg-Fuhlsbüttel, hai ống tay áo lủng lẳng bên hông. Nó vừa nói vừa nức nở—không gào toáng lên hay van lơn, chỉ nói chuyện với hết người tiếp viên hàng không này tới người tiếp viên hàng không khác—nhưng không ai có thể nhận ra nó đang nói thứ ngôn ngữ nào. Có vẻ như là, giông giống, tiếng Ba Lan. Thứ phương ngữ hỗn tạp của một thành phố từng chịu cảnh mười đế quốc khác nhau đã đi qua chiếm đóng trên đường chinh phục một vùng đất xa xăm nào đó.

Salvatore Scibona - The kid (Lorenzo Mattotti - newyorker.com)

Minh hoạ: Lorenzo Mattotti – newyorker.com

 

Một chuyến bay của hãng AirBaltic vừa nhả khách ở một cổng gần đó mới gần một giờ đồng hồ trước. Chuyến bay khởi hành từ Riga, có thể là thằng bé nói tiếng Latvia chăng. Nhưng khi thằng bé xuất hiện trước quầy thủ tục ở khu C3 thì chiếc máy bay đến từ Riga đã lại cất cánh khỏi phi trường và chẳng còn nhân viên nào của hãng AirBaltic có mặt ở cổng hay ở bất kì đâu khác trong khu sảnh. Thằng bé nhìn lên phía những người nhân viên phía sau quầy, diễn đạt chuyện của nó theo cách không ai hiểu nổi, trong khi hai trăm hành khách quan sát, chăm chú, chờ đợi chuyến bay Lufthansa 531 tới Amsterdam.

Rất có thể đó là tiếng Lithuania.

Không lâu sau đó thằng bé chẳng ừ hử gì nữa; nó chỉ chỉ trỏ về hướng đi Cổng C1 và C2. Nhưng người phụ trách của nửa tá nhân viên Lufthansa và các hành khách bắt đầu tìm đi khoang hút thuốc và phòng vệ sinh, còn người mà hệ thống loa sân bay réo gọi bằng tiếng Đức, thì cũng không thể tìm thấy ở bất kì đâu trong tầng dưới cùng của khu sảnh.

Je m’appelle Laurence. Comment t’appelles-tu?”

Ich heiße Elisabeth. Wie heißt du?”

Nhưng không ai có thể làm nó nói ra bất kì từ nào nghe giống một cái tên. Và vài người lớn quanh đó bắt đầu cho rằng họ gặng hỏi như thế chỉ tổ khiến thằng bé thêm căng thẳng. Cứ sau mỗi câu hỏi thì thằng bé lại ít phản ứng hơn.

Một y tá người Kazakhstan quỳ xuống bên cạnh thằng bé, vuốt tóc nó, nhưng nó vẫn cứ khóc lóc. Cái áo khoác của thằng bé chẳng vừa với nó chút nào: tay áo chẳng dài đủ tới cổ tay nó. Một chút bông lót thòi ra từ mấy chỗ rách trên mặt áo, ai đó đã cố vá lại bằng băng dính dán điện. Một nhân viên quầycủa hãng Lufthansa—người mà độ tuổi (quãng chừng sáu mươi) và kiểu tóc phồng to nổi bật có vẻ cho thấy bà ta là người chịu trách nhiệm—cố dùng tiếng Anh, tiếng Nga, và tiếng Hà Lan để moi được cái tên. Và rồi, với cô y tá Kazakhstan, dường như thằng bé biết họ đang hỏi tên nó; và, trong cơn ác mộng đang hiện hữu này, cái tên vẫn chưa được tiết lộ ấy chính là thứ duy nhất níu thằng bé vào mép bờ vực mà nó đã lỡ xảy chân. Nó cong cong một ngón tay hướng về phía vùng mê cung rộng lớn còn lại của sân bay, cứ như thể đang rà soát một sai lầm nào. Nó để cô y tá nắm bàn tay ướt đẫm của nó. Nó dẫn cô ấy cùng bà nhân viên quầy đi xuống chỗ hành lang đông người.

Một người Mỹ trẻ tuổi giới thiệu mình là là một nhân viên cấp cứu y tế hỏi, “Liệu thằng bé có muốn thở vào cái túi này không? Quieres hablar conmigo, hermano?”

Bà nhân viên quầy nhấn mạnh, “Không phải, nó là người Estländer(1).” Nhưng đó chỉ là đoán vậy thôi.

Loa nhắc đi nhắc lại lại bằng tiếng Anh, “Nhà ga số 1, một cháu nhỏ bị lạc và đã được giữ lại,” trong khi thằng bé lật đật đi theo, trông phi lý: một cơ thể được chế tạo để vận hành tự động, như thể nếu bạn tới đủ gần bạn sẽ nghe thấy tiếng tích tóc từ trong cơ thể ấy. Còn nữa, bên dưới cái mũ đội lệch, khuôn mặt nó trông đầy bất tuân, cứ liên hồi nháy mắt và sụt sịt mũi. Ngực ưỡn ra trong cái áo khoác nhỏ. Cô y tá cố cởi khoá áo cho nó. Cô nghĩ hẳn thằng bé phải thấy nóng khủng khiếp. Nhưng nó vặn người né tránh khi cô đụng vào. Không thể tin nổi là cái đầu nó lại chứa được nhiều nước đến thế; nó đã khóc lâu lắm rồi mà không uống miếng nước nào. Cô y tá và bà nhân viên quầy đưa nó vào phòng vệ sinh nữ để lấy cho nó vài tờ khăn giấy.

Khi họ trở ra, nó chẳng cho ai nắm tay nó nữa. Nó rụt tay lại khi họ cố làm vậy, và chỉ về hướng này, rồi hướng kia, cho đến khi họ bắt đầu nhận ra nó không hề tìm về lại chỗ cũ.Nó đang mò mẫm trong một mê cung. Tìm cha mẹ. Và nó không muốn ai trong hai người phụ nữ xa lạ này giúp nó hết. Nhưng nó mong rằng họ sẽ vẫn ở gần quanh đó.

 

Không lâu sau khi Elroy Heflin nhập ngũ, anh được điều về Văn phòng Hợp tác Quốc phòng tại Đại sứ quán Mỹ ở Riga, Latvia, khi nước này chuẩn bị gia nhập NATO. Những ngày ấy thật tuyệt. Cả lũ con trai đóng quân ở một khách sạn ba sao—một cung điện từ thế kỉ mười tám, gần đây được cải tạo lại theo phong cách Thuỵ Điển—đã từng được Hồng Quân sử dụng làm doanh trại trong năm mươi năm.

Sĩ quan chỉ huy của anh nói, “Tôi muốn giúp cậu có cái nhìn tổng thể. Cậu đến từ đâu ấy nhỉ, Heflin?”

“Khắp nơi ạ,” Elroy nói. “Las Cruces, Albuquerque, Radium Springs, Vado.”

“Hãy tưởng tượng cậu là một tay người Nga sinh sống ở trung tâm thành phố Albuquerque. Mấy thằng nông dân trong đồng phục Xô viết đang ăn trưa ở cửa hàng Lotaburger. Cậu là một trong số chúng. Phe của cậu đã thắng trong Chiến tranh Lạnh mà không phải nổ phát súng nào. Cậu cảm thấy sao?”

“Vô địch thiên hạ, thưa ngài.”

“Ờ đúng rồi đấy.”

Bọn con gái bạn địa ăn mặc rất đĩ. Đám tân binh không nên hiểu nhầm. Đối với bọn này, mặc như thế là có ý, hãy thử tiếp cận em coi nào. Còn với bọn con gái, ý chúng nó, đây là cách mà những người châu Âu đích thực ăn mặc, hiểu chưa? Vậy nên bỏ đi. Các cậu chỉ ở đây có tám tháng thôi. Bọn con gái Latvia muốn lập gia đình y như tất cả mọi người vậy.

Elroy nghe thấy ổn phết. Anh nhận ra anh là loại người thích kết hôn. Và trong vài tháng anh đã có một cô bạn gái nghiêm túc. Dễ như bỡn. Không như ở nhà. Anh đi uống với vài thằng bạn ở khu phố cổ, tại một quán cafe trên con phố rải sỏi chỉ đủ rộng cho một con ngựa béo đi vừa. Cô bồi bàn đã khá tử tế với anh. Cô ta muốn luyện nói tiếng Anh.

Trên giường cô hỏi anh, “Sao anh mê tai em quá vậy?”

Vị của nó hay hay. Cô đã không vệ sinh kĩ tai mình. Anh cảm thấy một chút vị của Liên bang Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Xô viết ngay trong miệng mình. Nó có vị mồ hôi, chất nhờn, và hương hoa chanh.

“Hai mươi năm trước,” anh nói, “họ có thể đã đưa anh tới đây để hãm hiếp em và đốt nhà em.”

“Đần thế,” cô nói, lật vài trang cuốn tạp chí du lịch. “Bọn em làm gì có nhà.”

Anh tỉnh dậy trong căn hộ một phòng của cô và thấy cô đang đánh giày cho anh bằng nước bọt và một cái tất cũ. Có vài lần cô đề nghị giặt quần áo cho anh, nhưng anh không chịu theo ý cô. Anh đã luôn tự giặt quần áo và tự nấu ăn, trừ lúc trong quân ngũ, từ hồi anh mười một tuổi.

Gió nồm, rồi mưa tuyết. Anh mang theo hai cái ô cho hai đứa. Họ rảo bộ qua quận Nghệ thuật Mới, cô chỉ cho anh những bức tượng mặt người quằn quại trên đường diềm mái của trường luật. Đó là một ngày Chúa nhật. Họ dự Thánh Lễ trong nhà thờ Công giáo, và vì một trò đùa khó chịu mà cả hai đều chịu Lễ, mặc dù đêm hôm trước mới tập thể dục. Anh không biết cha xứ đang nói gì, chỉ trừ, hầu hết, là anh biết. Thánh Lễ phổ biến ở khắp nơi. Anh nhìn lên những con dơi đang treo mình trên xà nhà và chuyện trò với Chúa ở đây. Anh nói muốn gặp bố mẹ cô, nhưng họ đã qua đời cả rồi.

Tên cô ấy là Evija.

Anh muốn gợi ý để cô trang điểm theo lối truyền thống hơn một chút; tuy vậy, anh tôn trọng những khác biệt văn hoá. Trước khi đợt dàn quân kết thúc, anh làm cô mang bầu. Anh muốn kết hôn, nhưng cô thì chưa. Và bằng cách nào đó, sau một chuỗi các quyết định—không có cái nào có vẻ là quyết định đúng thời điểm nhưng đều là chuyện tất yếu phải xảy ra—anh thấy anh, khi đóng quân ở phía Bắc Afghanistan, gửi một phần ba lương của mình tới một ngân hàng ở Liên Xô cũ để chu cấp cho một thằng nhóc anh chỉ gặp mỗi năm một lần. Rồi, chưa hết, Evija đang hẹn hò vớimột thằng điếm háo danh người Nga, và viết e-mail cho Elroy hỏi, cô ta có thể có số thẻ tín dụng của anh không? Cô ta muốn đưa thằng nhóc đi du thuyền tới du lịch Na Uy. Anh xin sĩ quan chỉ huy mới cho lời khuyên, xem có hợp lý không, vì nhỡ đâu có ai tấn công được tin nhắn và lấy được số thẻ tín dụng của anh thì sao?

Vị sĩ quan chỉ huy nói, “Binh nhì Heflin, một cái du-con mẹ nó-thuyền á?”

Anh e-mail cho cô ta, nói rằng anh sẽ không chi tiền cho chuyện đi du thuyền, thế là anh không nhận được tin gì từ cô ta suốt vài tháng. Để gây sức ép cho cô ta, anh dừng luôn không chuyển tiền. Thế rồi, khi đang về nhà nghỉ phép, anh nhận được e-mail nói rằng, do hoàn cảnh cuộc sống cá nhân, Evija sẽ chuyển tới Tây Ban Nha; cô ta sẽ không đưa con theo; gia đình cô ta cũng không nhận thằng bé, nên chỉ còn Elroy; vậy bao giờ anh sẽ tới đón thằng bé, Janis; và xin lỗi vì báo gấp quá, nhưng trong tháng được không?

Elroy được thăng hàm lên hạ sĩ. Anh trở nên can trường hơn, tàn nhẫn hơn. Anh đã vươn tới tận cùng của chính mình.Anh ngồi trước máy tính trong căn hộ nghỉ hưu của bố mình ở Los Alamos, ăn mận. Elroy cắn mận ngập răng và làm phọt nước ra áo. Anh chẳng để ý. Anh rớm nước mắt—vì điều gì nhỉ? Cảm thấy biết ơn ư? Anh muốn đó là những giọt nước mắt biết ơn, phải. Rồi anh cười, sảng khoái và rổn rảng. Nhìn vào màn hình, anh thốt lên, “Vỡ mặt rồi.”

 

Hai ngày sau—chưa có kế hoạch rõ ràng rằng ai sẽ trông nom thằng Janis khi Elroy quay lại đơn vị, rồi thủ tục nhập cảnh cho thằng bé vẫn chưa đâu vào đâu, lại còn thiếu đủ thứ như đệm hơi cho nó ngủ chẳng hạn—Elroy ngồi trong quán quen của anh và Evija, một tiệm café ở Stabu iela(2), chờ đợi. Anh tóc vàng, mắt nhỏ trông y như người bản địa, nên cô bồi bàn thả thực đơn xuống và bắn một tràng tiếng Latvia với anh. Anh trả lời bằng câu mà Evija đã dạy anh phát âm cho chuẩn: “Tôi nghĩ một lúc đã, nếu cô không phiền.”

Evija sẽ đến cùng thằng bé. Rồi sao? Elroy không biết.

Chỗ ngồi của anh bên cánh tiệm café giúp anh quan sát được tiền phòng bằng kính, nơi khách bước vào, và khuất khỏi những ánh mắt tò mò từ phòng ăn chính. Nếu anh cần bộc lộ cảm xúc, cứ thoải mái. Nhưng chẳng cần phô bày giữa thanh thiên bạch nhật làm gì. Anh ngồi yên, khoanh tay dưới gầm bàn, chờ đợi. Anh đã thức suốt trên máy bay và cả ở sân bay, từ New Mexico bay sang phía Đông, nên da anh ửng lên với mấy vết phát ban. Mắt anh khô đi vì không khí trên máy bay. Cảm xúc không cần phải phô bày giữa thanh thiên bạch nhật. Nhưng mà, nếu những cảm xúc ấy bùng nổ từ trong đáy lòng anh và trào lên tới tận cổ họng, thì liệu anh có trẻ con quá không nếu anh muốn một người phụ nữ ở đó với anh, đừng rời mắt khỏi anh?

Anh xem đồng hồ. Anh đã định nịnh bợ Evija bằng cách tặng hoa, nhưng anh chẳng mua chuộc nổi bất kể điều gì anh muốn từ cô ta. Trừ phi cô ta tự đề nghị, không thì thà không có còn hơn. Nhìn vào thực đơn, anh gọi một ly soda, sau khi người ta mang đồ tới, anh cúi xuống phía sau chậu cây chi sung, dấp chút nước vào tay, vảy vào mắt và sau tai. Anh ngồi dậy, trấn tĩnh, hi vọng.

Cứ mỗi lần anh đến ở cùng Evija và thằng bé, Riga lại trở nên khang trang, trù phú hơn, có nhiều xe hơi mới. Gã người Nga lánh đi khi Elroy tới. Evija nhấn mạnh rằng gã người Nga là một tay đồng tính kiểu phổ thông cần một cô gái để giữ vỏ bọc bên ngoài, và rằng cô chưa bao giờ hôn miệng gã ta.

Cô ta làm bánh kếp khoai tây cho Elroy và con, nó không ăn nổi kem chua, sốt táo, tất tật những gì trông như gia vị ăn kèm. Có những thói quen quái đản tình cờ lại hình thành nên con người chúng ta. Elroy, khi còn nhỏ, khi ngủ luôn thích đắp những cái chăn nhỏ tới mức làm ngón chân bị chuột rút. Sở thích ấy sau này giúp anh thấy thoải mái với điều kiện khắc nghiệt của huấn luyện cơ bản—nóhạ gục bạn, rồi vực bạn dậy, nhanh hơn, chặt hơn—và rồi anh nhận ra mình có tài trong việc chịu đựng đau đớn, có tài trong việc lãng quên. Thêm cả tài năng giết chóc theo bản năng.

Ba người thường dùng bữa ở ban công nhà Evija. Evija gọi đó là “chỗ của chúng ta”, bao gồm cả Elroy và thằng Janis. Cô nói tiếng Anh với thằng bé khi bố nó ở đấy, để thằng bé luyện. Nó quá nhát nói tiếng Anh, cả bố và mẹ đều đồng tình về chuyện này. Tuân theo vài nguyên tắc riêng, thằng bé chỉ nói tiếng Anh với hai người bọn họ, và mặt thì cứ đỏ bừng lên.

Ở quán café, Elroy gọi một đĩa gan gà lúc một bà già đi từ tiền phòng vào, quát lên với một con chó bị kéo theo sau thì phải, nó bị khuất sau mấy cái bàn thấp.

Người bồi bàn đang vắng mặt. Bà già nhìn xuống một tấm ảnh và ngó quanh phòng. Elroy vội cúi rạp xuống.

Mông anh vẫn ở trên ghế, nhưng hai tay chống xuống sàn, đầu cúi xuống gầm bàn. Mặt sàn gỗ bóng loáng véc-ni. Anh nghẹt thở. Hình như anh đã nhìn thấy gì đó mà chẳng biết đó là gì. Kiểu như lúc bạn rụt tay lại khỏi cái chảo nóng trước khi cảm nhận được vét bỏng. Anh đã từng bắn khoảng bốn đến bảy tên phiến quân mà chẳng hề có chút sợ hãi sâu thẳm nào nảy lên trong lòng như ngay chính lúc này.

Sau cùng, anh ép mình phải đứng dậy. Bà già chỉnh lại cái khăn choàng cũ sờn, nhìn quanh. Con chó theo sau bà ta chính là thằng Janis, đang loay hoay kéo qua thềm cửa một cái túi lăn cho trẻ con to hơn cả nó.

Elroy dùng tiếng Latvia, “Thưa bà?” và vẫy tay ra hiệu.

Evija không đến. Cô ta cử sứ giả, là mụ phù thuỷ này.

Nếu mọi chuyện tuỳ theo ý của bà già và thằng Janis, cuộc giao dịch chắc chỉ tốn mười lăm giây là cùng. Bà ta nhìn vào bức ảnh—bố con Janis và Elroy gần như chẳng mặc gì trên bãi biển ở Jurmala năm ngoái—và bảo thằng bé tới ngồi vào bàn. Nhưng thằng bé đã tới bên bố nó và trèo lên ngồi cạnh.

Thằng bé bảo bà già bằng tiếng Latvia là bà đi đi được rồi.

Nhưng Elroy muốn bà già chỉ cho anh phải làm gì. “Bà không có gì để đưa cho cháu sao?” anh hỏi.

Bà già dặn dò thằng bé, và thằng bé trả lời, “Vâng, cháu biết rồi.” Và, khi Elroy hỏi, thằng bé thầm thì giải thích rằng bà già nói nó không được quên để ý đến giấy tờ để trong túi.

Elroy nhìn bà già bỏ đi, và cảm thấy thứ gì đó ấm áp trên đùi mình. Đó là tay trái của thằng bé. Tay kia, thằng bé đang lật thực đơn, xem xét ảnh thức ăn. Elroy kêu huỷ món gan và họ rời đi mà chẳng ăn gì.

Hai người lên xe buýt tới sân bay. Anh cài dây an toàn cho Janis trên chuyến bay tới Hamburg.

Từ New Mexico Elroy đã mua một cuốn sách tô màu và một cây bút sáp. Thằng bé mân mê ngón tay quanh cây bút sáp, trong khi Elroy dạy nó ấn nhẹ tay sao cho khỏi hỏng sáp. Và chưa gì, chỉ trong một tích tắc, cây bút sáp gãy đôi trong tay thằng bé. Nó ngước lên miệng run run sợ sệt, như thể nó sắp khóc tới nơi.

 

Tới Hamburg, vừa xuống máy bay, Elroy đưa thằng bé vào khoang xí phòng vệ sinh nam và nhét tiền vào túi áo nó.

“Con không cố ý làm gãy cây bút sáp,” Janis nói. “Con xin lỗi bố.”

“Con để cái đồng hồ của bố ở đâu rồi?” Elroy lục lọi, dán lại miếng băng dính cũ mèm vá trên áo thằng bé. Elroy cần thời gian để suy nghĩ cho thông suốt. Anh cần mươi, mười lăn phút. Anh sẽ phải mua một cuốn sách dạy làm cha mẹ. Anh sẽ phải lên một danh sách đồ tạp hoá, như kiểu ngũ cốc, bảo hiểm sức khoẻ, thuốc dị ứng. Thằng bé bị dị ứng, còn căn hộ thì chỗ nào cũng dính đầy lông con chó của bố Elroy. Elroy cần một lúc yên tĩnh, không có thằng bé kè kè, để rồi anh có thể hình dung được rằng anh biết mình đang làm cái đéo gì. Anh cần một xấp giấy và một cái bút chì.

“Con để đồng hồ trong túi quần,” thằng bé trả lời. “Con xin lỗi bố.”

Elroy bảo, “Còn nói xin lỗi thêm lần nữa thì bố sẽ cho con lý do để hối hận đấy.”

Thằng bé nhìn lên, nó bị đặt ngồi lên bệ toilet mà vẫn mặc nguyên quần.

“Cứ thế và cứ khóc đi,” Elroy nói. “Mấy giờ thì bố sẽ quay lại đón con ấy nhỉ?”

Thằng Janis giơ ngón cái và ngón trỏ. Nó trả lời, “Hai ạ.”

Elroy ra khỏi khoang xí. Anh bảo thằng bé khoá cửa lại, sau đó nghe tiếng lạch xạch, và tiếng khoá sập vào. Elroy ra khỏi phòng vệ sinh nam, chú tâm giữ tốc độ vừa phải giữa đám người châu Âu ồn ào đang đi cùng phía với anh, vượt qua anh từ hai bên. Hàng lang ám mùi đồ ăn chiên xào. Anh bước đi, kéo túi của anh và thằng bé tới Ga số 2. Mấy bánh xe bị móp của cái túi nhỏ làm anh phát bực vì cứ bị kẹt vào cạnh túi. Anh kéo phần nặng sai chiều. Rồi anh cầm cái tay nắm yếu ớt không bị rút lại mà kéo nó đi. Anh mất toi năm phút chỉ để tìm một cái đồng hồ, trong khi đi xa khỏi phòng vệ sinh chỗ thằng bé đang đợi. Để mà nghĩ được, Elroy cần mua một cái bút chì. Anh tốn thêm mười phút ở Ga số 2 để tìm cửa hàng tạp hoá. Khi tìm thấy thì anh nhận ra mình, vì lý do sâu thẳm nào đó, đã bỏ hết tiền lại chỗ thằng bé. Tại sao anh lại bỏ thằng bé lại với ngần ấy tiền? Anh không biết. Và bây giờ thì người thu ngân, đáng lẽ chấp nhận tiền đô nếu Elroy có mà trả, không đồng ý để anh thanh toán món quá nhỏ ấy bằng thẻ tín dụng. Loa sân bay nói gì đó bằng tiếng Đức, nghe như Có một cái nhà trẻ ở cái cổng C nào đó. Elroy đang thực hiện kế hoạch, hiển nhiên là anh tự nghĩ ra, và anh vẫn chưa biết mục tiêu của kế hoạch là gì. Chặng bay của anh tới London sẽ bắt đầu gọi lên máy bay trong ba phút nữa. Đã gần hai giờ tới nơi rồi. Anh vòng lại phòng vệ sinh ở Ga số 1, dự định lấy một vài đồng từ chỗ thằng bé, mua một cái bút chì, mua vài tờ giấy, ngồi một tí thôi, nghĩ ngợi, lại vòng lại, đón thằng bé, và đưa nó tới cổng ra máy bay ngay khi người ta gọi lần cuối. Anh phải phác hoạ một lịch trình, như là nơi trông trẻ, lớp học giáo lý, cắt tóc. Anh đã có thể định làm gì mà lại để hết tiền lại chỗ thằng bé không biết? Loa lại nói gì đó bằng tiếng Anh, rằng ở Ga số 1 có một vụ lạc và đã được giữ lại. Cái gì đó bị lạc và đã được giữ lại.Anh dừng lại, lắng nghe.

Phát ra tiếng rung trầm liên tục, một cái thang cuốn đưa những hành khách vừa hạ cánh xuống tầng dưới.

Anh quay đầu. Trở lại phía cổng đi London, túi vẫn kéo sau. Như một con thuyền vẫn lướt đi dù mỏ neo đã hạ. Gió cuốn nó đi. Khắp xung quanh là nước. Phải mất một lúc bạn mới nhận ra mình đã bị chỉ dẫn lạc lối.

 

Janis ngồi trong một căn phòng nhỏ, một văn phòng ở đâu đó trong sân bay. Ba người Đức tốt bụng đứng quanh nó, giọng họ nhỏ nhẹ. Trên bàn có socola nóng. Thằng bé biết nó đang ở Đức, cho nên những người này dứt khoát là người Đức. Và về người Đức thì nó biết chính xác một điều, nó nghe chú bạn diễn viên của mẹ nó ở Riga nói rằng: Một thằng Đức thì trông có vẻ giống bạn tốt đấy, nhưng tốt nhất là cứ treo nó lên.

Đừng để bị đánh lửa bởi socola của họ.

Cứ thế và cứ khóc đi, bố nó đã dặn rồi. Và Janis khóc lóc thả cửa.

Mấy người Đức nói với nó mấy câu nghe như câu hỏi, lên giọng theo kiểu vừa ngọt ngào vừa hăm doạ ở cuối câu. Nghe như, “Phích phích, búp búp, ẶC ẶC ẶC?” Nó thấy tốt nhất là không trả lời. Hầu hết những chuyện buồn khổ nó từng gặp phải trong đời đều là vạ miệng.

Nước Đức ở châu Âu. Latvia, quê mẹ nó, cũng ở châu Âu. Nó có hai quê nhà: ở Riga với mẹ và ở Mỹ với bố, mặc dù Janis chưa đến Mỹ bao giờ. Nước Đức chắc loanh quanh đâu đó ở giữa. Mẹ nó đang đi nghỉ và nó cũng thế, nhưng nói “đi nghỉ” nghe không đúng lắm trong trường hợp này vì nhà của bố, điểm đến của nó, vẫn được tính là nhà nó mà.

Papa sẽ về. Tầm bữa chiều. Bất cứ lúc nào. Janis nên để dành bụng. Nó sẽ không ăn bất kì đồ gì người ta cho nó. Theo lời Papa dặn, nó đã ở trong khoang xí phòng vệ sinh cho đến khi kim giờ trên cái đồng hồ của bố chỉ số hai. Nó chờ thêm một lúc nữa. Rồi nó nhét cái đồng hồ vào túi quần và quay lại chỗ đi xuống từ máy bay. Và lại đợi. Papa không có ở đấy. Thế là Janis đã quên mất chi tiết nào trong kế hoạch rồi. Thôi không sao, giờ ăn chiều sắp đến là điều chắc chắn cả nó và bố nó đều không thay đổi được kể cả nếu như cả hai muốn. Papa sẽ về vào bữa chiều. Chuyện này thật tệ, nhưng bữa chiều sẽ làm mọi việc ổn lại thôi.

Janis muốn có cuốn sách tô màu quá. Bố nó đã lấy lại và để trong túi của bố mất rồi. Cuốn đấy không có chú thích và, riêng về điều này, rất tuyệt. Nó chưa đọc thông thạo lắm, nên không thích cảm giác nó đã đọc sót mất chuyện gì. Cuốn sách kể về một cậu bé đã cho ăn và thuần hoá một con thú hoang dã và phần thưởng là tình bạn con thú dành cho cậu. Cuốn sách cũng không có tiêu đề, nên Janis có thể tự đặt tên theo ý nó.

Nó hớp một ngụm socola nóng trong lúc mấy người Đức chuyện trò. Nó muốn nín lắm rồi, nhưng nó được phép khóc mà. Một trong những lời mà bố nó dặn là nó được phép khóc.

 

Hai giờ sau, Elroy hạ cánh ở London. Anh xuống khỏi máy bay, đi bộ khỏi khuôn viên sân bay, rồi lên xe bus đi sai chiều. Anh đã được chứng kiến một điều thú vị nữa trên thế giới-lái xe bên trái đường. Bạn sẽ không tin cho đến khi bạn nhìn tận mắt. Như những người phụ nữ anh chứng kiến đã lướt đi trên đường phố ở Kunduz, trùm kín từ đầu tới chân bằng vải xanh, che mạng ở mắt. Anh đã được cảnh báo: cụp mắt xuống. Anh không được nhìn đâu. Nhưng Kunduz có khác nào hành tinh trong phim “Chiến tranh giữa các vì sao” đâu cơ chứ. Như kiểu, Làm sao tôi làm thế được, một đứa trẻ như tôi á?

Elroy xuống xe buýt sau vài bến, lẻn vào phía sau một cụm chung cư, và ném cái túi bé xấu hoắc vào thùng rác. Sau đó anh nhận ra mình có thể quay lại đi đúng chiều đường—thấy chưa, như là mọi thứ đều lùi lại, có thể ban đầu bạn làm sai nhưng về sau bạn có thể làm đúng—và, phải rồi, một chiếc xe buýt trờ tới và đưa anh quay lại sân bay.

Sân bay Heathrow, Ga số 5. Một cấu trúc sáng sủa, hình chữ nhật bằng thép và kính nằm giữa các đường băng. Lấy vé. Kiểm tra túi. Một cái bảng hiệu ở khu vực an ninh chỉ rõ những vật bị cấm, trong số những vật dụng khác, cung nỏ, dao rựa, kìm, súng, bật lửa hình súng, cây lao, ná cao su.

Tâm trí anh lúc này khác gì một đống thịt băm bầy nhầy.

Anh bỏ đồ đạc lên băng chuyền vào khoang quét, rồi bước qua máy dò kim loại, hạ thấp vai, thở sâu. Nhưng cái máy không tha cho anh, kêu toáng lên, một người nhân viên cằm nọng đưa anh đến điểm kiểm tra thứ hai—hỏi, Anh có đeo máy tạo nhịp tim, xương hông kim loại, hay mảnh đạn nào trong đầu không?—và chỉ anh ra chỗ khoang kính chứa máy soi an ninh hàng không.

Elroy thở sâu. Có những lúc bạn đi sai đường để rồi quay lại đường đúng. Giống như có lần, trên một con phố vắng ở Kunduz, anh thấy một đống đất với đất xung quanh lộn xộn một cách có chủ đích, anh quỳ xuống và thổi, rồi anh nhìn thấy cái tấm ép, anh vội đứng dậy. Và, trước khi anh kịp hiểu ra, anh văng, “Cái địt,” rồi sút tung nó đi. Song nó không nổ. Như thể Chúa đang nói, “Ta muốn con được sống, cục cứt ạ.” Cả ngày hôm đó Elroy chẳng còn sợ gì nữa.

Từ mọi hướng, không khí trong máy soi thổi ồ ạt vào người anhtrong khi cái máy đánh hơi tìm cocaine, PCP, smack, mathamphetamine (3); tất nhiên cả TNT, C-4 và Semtex(4).

Một tia sáng xanh lục loé lên, rồi cánh cửa mở về phía trước. Một nhân viên khác đưa anh tới chỗ máy tán xạ ngược tia X. Anh đứng trước một bức tường, giơ cao tay, lòng bàn tay hướng ra ngoài, trong khi những chùm sóng bức xạ quét dọc người anh. Tại bảng điều khiển, một người phụ nữ Caribe khó đăm đăm có răng cửa bọc vàng không tìm ra được vấn đề gì với anh và để anh đi.

Trong ráng chiều mùa thu, anh ngồi trên một chiếc ghế giả da trước hàng cửa sổ nghiêng. Tuần này ánh sáng đã phai hẳn mất một sắc màu: màu vàng, chắc vậy. Ánh hoàng hôn khắp châu Âu nơi đâu chả như nhau. Điều này đưa anh trở lại một thời với đầy những đụn lá, một thời mà lá cây bông vương đầy trên cạp quần lót của anh. Chất đống như núi và rồi tan biến.

Những chiếc máy bay phản lực nhìn thẳng vào cửa kính nhà ga trông như những con cá heo ịn mũi lên bức tường ở thuỷ cung. Sương mù tan đi. Ánh sáng rọi từng mảng vuông lên khuôn mặt nhẵn nhụi của Elroy. Anh chìa cổ đón lấy, giơ cằm lên quay quay. Trên đầu là một cái lưới thép mắt cáo sơn trắng.

Có một cái bảng đề tên sân bay. Chữ cái in hoa chạm nổi trên nền đồng. Từng có một xóm nhỏ ở đây, tên là Hitherowe, Hetherow, Hetherowfeyld. Một dãy nhà trên một bãi đất hoang. Heathrow(5). Cây sồi lùn và cây hoa kim tước trồng trên đất mịn, nơi bọn trẻ chơi giữa cây cối và rác rưởi cho tới khi Mẹ gọi chúng về uống trà.

Anh lên máy bay, ngồi vào ghế, và chiếc máy bay xé toạc bầu trời.

 

Lát sau, những người Đức cố khiến Janis làm gì đó mà nó không biết. Một người đàn ông tháo cà vạt, để lên bàn, đặt cho thằng Janis một câu hỏi và chỉ vào thằng bé. Rồi ông ta cởi áo khoác, và bỏ hết mọi thứ trong túi ra: thuốc lá, hoá đơn ATM. Mỉm cười, mở to mắt, giống kiểu, Thấy chưa? Một lối trình diễn.

Họ muốn nó cởi quần áo? Nó không biết chống lại họ bằng cách nào. Có một nguyên tắc mẹ nó dạy: Không ai được cởi quần áo của con, hay lấy đi bất kì thứ gì của con. Một cô người Đức đặt tay lên mũ của Janis, nó để cô cởi mũ, lộ ra mái tóc bù xù, nhưng nó không thể không khóc được. Nó bị cơn đói hành hạ. Họ nên cảm thấy khốn nạn với những gì họ đang cố làm với nó. Họ bắt nó đứng dậy, rồi cởi áo khoác nó ra. Bây giờ thì điều gì cũng có thể xảy ra. Cô kia đặt áo nó lên bàn, lục tìm các túi áo. Họ để nó nhìn. Họ tìm được một cái vỏ kẹo Kit Kat. Kẹo sao su. Cùng hai trăm sáu mươi đô la Mỹ gập làm đôi.

 

Đường bay ngắn nhất về phía Tây đi qua Bắc cực.

Trọng lực ép máy bay xuống. Thêm cả lực cản phía dưới hai cánh, kết hợp với độ xiên của mặt phẳng cánh, nâng máy bay lên,đưa các hành khách vút đi giữa không trung, trong một con tàu nặng tám trăm ba mươi ngàn pound.

Elroy quan sát một dòng sông băng băng tan dần vào lòng đại dương. Chúa tạo ra thế giới với đầy ắp những điều kì diệu để chúng ta không quên đi sứ mệnh người giao phó. Elroy không biết liệu anh đã quên hay vẫn còn nhớ.

Anh quá cảnh ở sân bay Boston Logan rồi hạ cánh ở sân bay Albuquerque—chuyến hạ cánh thứ tư trong ngày, mặc dù đã ba mươi giờ trôi qua rồi. Phấn hoa cúc ngập mũi anh và làm tim anh thổn thức. Xoang mũi bắt đầu chảy nước.

Anh đã thuê trên mạng một chiếc xe mini, nhưng Avis(6) đã quá tay với yêu cầu của anh, họ giao cho anh một chiếc Mustang mui xếp. Anh lái xe về phía Bắc, hạ mui, thẳng một lèo đường liên bang qua thung lũng sông Rio Grande, ngẩng mặt lên phía những vì sao vẫn nằm yên đó từ lúc ở phương Đông. Anh mạo hiểm lái xe chạy lệch khỏi làn đường cho phép.

Phía Tây Santa Fe, anh hướng về phía dãy núi Jemez, không khi loãng làm anh khó hô hấp, anh thở hổn hển, đường xá tối thui. Sau cùng anh thấy một bờ tường lửng dài khoảng ba dãy phố—anh đã đi theo trực giác, gần như bằng cách đánh hơi, như một con chó săn—và gặp một cánh cổng, lúc một giờ sáng giờ MST. Anh chưa ăn gì từ lúc lên máy bay ở London, sự thèm khát thức ăn của anh đúng là một cơn hoảng loạn vật lý. Hơi thở vừa ngắn vừa gấp. Cột sống anh hoá đá.

Một người bảo vệ ngồi trong chòi gác sáng đèn cạnh cổng đang chơi Sudoku. Ông ta hỏi Elroy, bằng thứ tiếng Anh với tốc độ tên lửa của người bản xứ New Mexico, anh tới gặp ai.

“Nhưng tôi không thấy Trung sĩ Slocum để lại lời nhắn gì ở đây là ông ấy đang chờ anh tới,” người bảo vệ nói khi nhìn vào bảng ghi chép. Người bảo vệ yêu cầu phải có lời nhắn từ chủ căn hộ thì mới gọi cửa sau mười giờ tối.

“Thôi nào, ông bạn,” Elroy nói. “Tôi đã ở đây ba hôm trước mà.” Cuối cùng anh hứa ngày mai sẽ bồi dưỡng người bảo vệ hai mươi đô nếu ông gọi cho bố anh.

Trung sĩ Slocum không phải bố đẻ của Elroy. Ông là bố dượng của anh. Bố-dượng-cũ, chính xác là thế. Ông cho Elroy sống với ông sau khi kết thúc cuộc hôn nhân thứ hai và cho anh đi học trung học ở trường St. Xavier. Sau đó ông già nghỉ hưu ở đây. Mẹ đã bỏ đi. Ai mà biết đi đâu.

Cánh cổng trượt vào trong bức tường lửng, Elroy đánh con xe mui xếp vào bãi. Đèn chụp, vườn đá, tường nhà trát thấp. Anh đi bộ dưới hàng hiên và gõ cửa.

Khi Trung sĩ Slocum mở cửa, ông đang cầm một cái dĩa, thứ vũ khí nửa mùa.

“Con chào bố,” Elroy nói. “Hi vọng con tới khi bố còn thức.”

“Elroy,” ông già béo chào đơn giản. Ông đang dở bữa. Vụn bánh dính đầy trên ria ông. “Bố cònthức không à?” Trung sĩ Slocum nói ở sảnh nhà tranh tối tranh sáng. “Bố nghĩ bố ngủ rồi cơ. Những ngày này, lúc nào bố cũng buồn ngủ. Bố không đọc nổi, không nghe nổi, không thể cả đi tè…”

“Bố không vui khi gặp con à?” Elroy hỏi.

Ngài Trung sĩ trỏ cái dĩa về phía bóng tối sau lưng Elroy. Ông hỏi, “Thế thằng nhóc Janis đâu rồi?”

 

Hôm sau, một chú mặc đồng phục phi công đánh thức Janis khi nó đang ngủ trên một cái giường xếp trong văn phòng sân bay. Chú ấy giới thiệu mình tên là Kristaps bằng tiếng Latvia, trong lúc những người Đức quan sát. Nói tiếng Latvia với người lạ. Chỉ nói tiếng Mỹ với người con quen. Một hệ thống đã giúp Janis kiên định suốt từ trước. Nhưng nó phải thừa nhận rằng, ở Đức, một người lạ đang nói tiếng Latvia với nó là một tình huống đặc biệt. Chú phi công đang định bẫy nó kiểu gì đây. Cuối cùng thì Papa vẫn sẽtới mà.

Janis đi tới sảnh với chú phi công để lấy sữa và bánh mỳ trứng, rồi chú phi công hỏi bằng tiếng Latvia, “Bố hay mẹ cháu đâu?” Tức giận, cứ như thể Janis đã gây ra tội lỗi gì.

Và Janis trả lời, mặt đỏ bừng, bằng tiếng Mỹ, “Cho cháu xin mù tạt được không?,” định đổ đầy cái thứ dữ dội ấy ra đĩa, phòng khi nó bỏ cuộc và ăn mất.

“Người đưa cháu đến đây đâu rồi?” chú phi công nghiêm giọng.

Tại sao lại cảm thấy khóc thật sướngnhỉ? Nhiều năm rồi, Janis đã tự hỏi nó bị làm sao khi mà khóc, lẽ ra phải thấy tệ, thì nó lại thấy sướng mới lạ.

Janis nhấc miếng trên của bánh mì ra, hi vọng lòng trắng trứng bị sống, nhưng nó chín rất chuẩn; hi vọng lòng đỏ bị quá lửa, nhưng nó dễ dàng chảy ra khi Janis chọc vào. Nó đói đến cồn cào ruột gan.

Nó cần phải ăn. Nhưng nó cũng cần Papa quay lại. Và tất cả những việc này là một bài kiểm tra. Papa sẽquay lại, nhưng với điều kiện Janis giữ vững niềm tin và không ăn.

Chú phi công chửi nó.

Janis gặm tay áo khoác. Chú phi công đứng dậy đi lấy cà phê. Janis cảm thấy cơn đói như một cú thụi từ dưới xương ức, một trận gió quẩn trong đầu nó. Nó đã chọn được tiêu đề cho cuốn sách tô màu. Tiêu đề sẽ là “Joe yêu Foxie, và Foxie yêu Joe rất nhiều.” Nó mở nắp bịch sữa Đức và đổ tràn lên thức ăn trên đĩa.

Đến trưa, người ta đưa nó lên một chiếc xe.

Họ đi trên một con đường thênh thang. Đó là một thành phố lớn, có tàu thuỷ, cần cẩu và xe lửa. Thật tráng lệ biết bao khiến Janis tự hỏi phải chăng nó đang ở Thiên đường.

 

“Bố cứ đinh ninh là mày sẽ về cùng thằng nhóc,” Trung sĩ nói.

“Vâng,” Elroy mệt mỏi bơ phờ.

“Bố hiểu sai à?”

“Vâng, việc không xong, bố biết mà?”

Con chó nhát chết của ông Trung sĩ, con Mavis, xuất hiện sau cánh cửa kính thông ra phía sân trong. Nó cào lên khung cửa và nhìn ông già với hai tai cụp lại và đôi mắt xoe tròn, như kiểu, con biết con không được vào nhà, nhưng con là một con ngố dở hơi, con vào được chứ?

Ông Trung sĩ đứng dậy khỏi sofa và tập tễnh tiến về phía cánh cửa, một quyển tạp chí trong tay. Ông hỏi, “Chính xác là bố biết cơ?”

“Thì đấy, việc không xong. Cơ mà nó trông giống con lắm. Màu nhiệm vãi đái, bố nhỉ? Bố kì vọng con cái sẽ giống bố y hệt ngay lập tức, nhưng rồi bố chẳng thấy thế chút nào, cho đến khi họ lớn đến một độ tuổi nhất định, chuyện lại đâu vào đó.”

Ông Trung sĩ trượt cánh mở, cuộn quyển tạp chí lại, uốn cong, rồi vụt vào đầu con Mavis. Con chó oẳng lên rồi chạy mất. Ông Trung sĩ trở lại chỗ ngồi.

Elroy đi về phía tủ lạnh, bên trong có đồ gia vị Tex-Mex hết hạn. “Xúc xích hun khói của con đâu mất rồi?” anh hỏi.

“Bố ăn rồi,” ông già trả lời.

“Trời ơi,” Elroy rên lên, tan nát. “Bố ăn thật rồi à?”

“Nhà bố mà. Đồ ăn là của bố. Bố vẫn trên cơ mày đấy, đừng có quên. Đi ra cửa hàng mà tự mua lấy cái gì đi.”

“Ôi, bố ơi, con sẽ phải đi ra tận White Rock.” Elroy quay ra nhìn tất chân ông già, bên trái được khuôn cứng như cái bay thợ xây: ông già mất ba ngón chân ở Việt Nam. Elroy nói, “Lẽ ra bố là bố của con mới phải.”

Lúc bình minh, khi ông Trung sĩ chuẩn bị ra ngoài ăn sáng ở một quán ăn trong thị trấn, Elroy thức dậy trên sofa và hỏi, “Bố mua cho con cái gì trên đường được không?”

“Ở nhà thuê mà đòi ăn miễn phí à,” ông Trung sĩ nói, bấm cài dây xích cổ cho con chó đang phấn khích. Ông Trung sĩ đi đâu, con Mavis theo đó.

Elroy lục trong túi quần—anh mặc nguyên quần áo mà ngủ—và moi ra một mớ tiền, anh uể oải đưa cho ông già.

Ông Trung sĩ lấy ra một tờ lẫn màu lam-lục trang trí với hình cây sồi. “Cái quái gì đây?” ông hỏi.

“Đấy là cái ờ ờ cái gì ấy nhỉ. Đồng lat(7). Năm lat—tiền thật của mình đâu rồi nhỉ?” Elroy lẩm bẩm, ngồi hẳn dậy. Anh nghĩ trong giây lát.

“Ông con giời, đây này. Trên răng dưới dái.Có khi mày nên mang cầm luôn cái Huân chương Sao Đồng của mày đi, nếu mày còn nhớ đã vứt nó ở đâu.”

“Bố bố thí cho con mười đồng được không?” Elroy hỏi. “Có đủ ko ạ? Mua một pound thịt ấy?”

 

Hai năm sau, Thượng sĩ Heflin đang trong đợt dàn quân thứ tư ở Afghanistan, lần này là ở vùng đường băng Bagram, khi anh nhận được e-mail của Evija:

Ellie thân yêu của em,

Em về Riga tháng này, em viết thư này cho anh tại quán café ở Stabu iela mà khi xưa chúng mình thường ghé chơi.

Tất nhiên là em nhớ Janis quay quắt và nhớ cả anh nữa. Em run lên khi nghĩ biết đâu anh bây giờ đã có bạn gái rồi. Em lấy tư cách gì mà gọi anh là “thân yêu” sau những gì em đã làm cơ chứ? Và cả xin anh tha thứ cho em nữa? Thế mà có vẻ như vừa ngu ngốc lại vừa có lý khi đòi hỏi như vậy, như khi anh muốn đi qua con kênh, và em bảo anh, “Đừng, băng chưa đủ dày đâu!” mà anh vẫn chạy bất kể thế nào, và anh đã qua được bờ bên kia, khô nguyên.

Em không có tư cách xin anh hãy quay lại đây và đưa Janis về. Nhưng chúng ta đã từng thuộc về nơi này. Cả ba chúng ta. Em không thể ngừng hi vọng rằng chúng mình có thể có thêm một cơ hội nữa.


(1) ND: người Estonia, nguyên văn tiếng Đức.

(2) ND: ‘iela’ có nghĩa là ‘phố’, nguyên văn tiếng Latvia.

(3) ND: một số loại ma tuý.

(4) ND: một số loại chất nổ.

(5) ND: nguyên văn ‘A heath with a row of houses on it.’

(6) ND: hãng cho thuê xe qua mạng.

(7) ND: đơn vị tiền tệ Latvia.

Copyright © 2010 by Salvatore Scibona.

ThKh chuyển ngữ không có sự đồng ý của tác giả.

———-

ThKh – 2019

ThKh là một bút danh khác của ChuKim, một người viết tự do, sống và yêu tại một ngôi làng mang tên thành phố. Nếu có thể, hãy ủng hộ và khích lệ bằng cách đọc và chia sẻ những gì anh viết trong khả năng của bạn. Xin cảm ơn.

– natchukim.cogaihu@gmail.com –

PS: Tất cả nội dung trong blog này đều được tuyên bố quyền sở hữu và quyền tác giả về nội dung, ngoại trừ những bài sưu tầm có đề rõ. Mọi trích dẫn, đăng lại, vui lòng ghi rõ nguồn. 

 

Truyện ngắn: Giờ đây chúng mình không như thế, thật nhanh – Jonathan Safran Foer

Jonathan Safran Foer (1977-) là tiểu thuyết gia người Mỹ. Ông được biết đến qua tiểu thuyết đầu tay, Mọi thứ được soi tỏ (Everything is illuminated – 2002). Ông hiện giảng dạy sáng tác tại Đại học New York.

2560

Tranh: Allan Vest – theguardian.com

 

‘Giờ đây chúng mình không như thế, thật nhanh’ (Here we aren’t, so quickly) là truyện ngắn của Jonathan Safran Foer được đăng trong tuyển tập 20 under 40 (2010) của tạp chí The New Yorker. 


Giờ đây chúng mình không như thế, thật nhanh

 

Anh đã không giỏi khắc hoạ chân dung. Phần lớn thời gian anh chỉ bông đùa thôi. Anh đã không quyết đoán dù trong phòng thay đồ hay ở bất kì đâu. Anh đã tới trễ vì anh mải tìm hoa. Anh thường lờ tịt đi mỗi khi mẹ anh gọi. Anh không làm được bánh mì nướng nếu không nghe radio. Anh không biết người ta khen thật hay khen đểu. Anh đã không mệt mỏi như anh nói.

Em không chịu nổi việc đồ nội thất không hoàn hảo. Em quá nhẹ để ôm hết túi khí. Em hầu như không mở nổi cái lọ nào. Em đã không chắc mình nên làm tóc ra sao, rồi thế là, trễ mất mười phút và đi xuống tới giữa thang, em vẫn soi bóng mình phản chiếu trong khung ảnh của một gia đình quá cố. Em không hề nổi giận, chỉ là bảo vệ phẩm giá của em thôi.

Anh không chạy nổi đường dài. Em đã thật tốt với em gái anh khi anh chẳng biết nên tốt với nó như thế nào. Anh cố chùi đi một vết bẩn; cuối cùng nó lại bẩn hơn. Em đã chỉ hỏi một câu đơn giản. Anh đã gần như luôn có mặt ở nhà, vậy nhưng anh lại không thực sự ở nhà. Em không biết phải làm thế nào với chồng sách hơn ba cuốn trên cái bàn đầu giường anh, hay mớ tiền lộn xộn trong đĩa tiền thừa, hoặc đồ nhựa nữa. Anh đã không sợ phải cô đơn; anh chỉ ghét nó thôi. Em đã ngưỡng mộ khi khu vườn của ai đó sinh sôi. Anh quá mệt với đống thức ăn.

Chúng mình đã tới Atacama. Chúng mình đã tới Sarajevo. Chúng mình đã tới hồ Tobey Pond hàng năm cho tới khi chúng mình không còn làm thế nữa. Chúng mình vượt qua lớp tuyết dày mười ba inch để tới dự một bài nói chuyện ở nhà triển lãm vũ trụ. Chúng mình cố gắng có những bữa tiệc tối. Chúng mình cố gắng không sở hữu gì cả. Chúng mình để lại dấu tay trong một khu vườn rêu ở Kyoto, phủ một cái khăn tắm lên và làm cho nhau sướng tại Jaffta. Chúng mình đã đối mặt với cha mẹ anh vào ngày lễ Tạ ơn và cha mẹ em trong những ngày còn lại, và làm sao mà chúng mình lại ở bên cha anh khi ông chìm dần vào trong chính thân xác ông nhỉ? Anh nằm xuống cạnh ông, nhìn bàn tay mình lần mò lông mày ông, nói, “Bỏ qua tất cả–” “Tất cả gì cơ?” ông hỏi, nên anh nói, “Không có gì,” hoặc chẳng gì cả.

Anh đã luôn làm hỏng hộ chiếu của anh trong khi giặt đồ. Em thì luôn ước lượng dở tệ. Em chẳng buồn coi những thói quen của anh là duyên dáng. Anh đã nhấn mạnh rằng đã quá muộn để thành thạo một nhạc cụ hoặc cái gì cũng thế. Em là người chẳng bao giờ kêu ca về mấy chỗ đau nhức.

Anh đã không biết cách giải thích chu kì của mặt trăng nếu thiếu giấy bút, mà kể cả có. Em không biết mấy cái e-mail đâu rồi. Anh không chúc mừng người phụ nữ nào cho tới khi cô ta nói hẳn ra là cô ta đang mang bầu. Em dành ra vài phút mỗi ngày để lặng lẽ hối hận vì sự lười biếng thậm chí còn chẳng hề tồn tại của bản thân. Lẽ ra anh nên tha thứ cho những lỗi lầm mà em không hề mắc phải.

Hễ gặp chuyện khẩn cấp là em kém kinh khủng. Em lại rất giỏi về vở “Vườn cherry”(1). Anh thường chẳng bao giờ phàn nàn, vì anh ghét phải đối đầu, và bởi mọi thứ thường thường khá ổn với anh. Em đã không thể chạm tới đại dương mỗi khi đêm về. Anh đã mất dấu giọng nói của anh ở đâu giữa máy điện thoại của anh và của em. Em chẳng bao giờ đứng cạnh cửa sổ trong các bữa tiệc, nhưng em vẫn luôn ở gần phía cửa sổ. Anh phát điên lên vì những lời nói tử tế. Anh chỉ không xem bản tin dưới tầng hầm thôi. Em đã nỗ lực phi thường để khiến mọi thứ trông thật dễ dàng. Anh thì rất dở trong việc ghi nhận nỗ lực của mọi người. Em không có tài làm vườn, nhưng em không hài lòng với cảm giác không hài lòng ấy. Anh đã luôn thấy chỉ cần một cái áo đẹp, hoặc một cái gì đó mà anh chẳng bao giờ có. Em bị tổn thương quá nhiều bởi những điều đã xảy ra từ lâu lắm nên bây giờ làm gì cũng thấy khó khăn. Anh đã luôn loay hoay để hai tay khỏi lóng ngóng. Em thì lúc nào mà chả mê mẩn những món quà bất ngờ. Phần lớn là anh chỉ đùa thôi.

Anh không thường xuyên bất an, chỉ hay nghĩ về ngày tận thế. Em thì cứ hết tìm từ rồi lại tra đến khoá(2). Anh không sợ yên tĩnh; anh chỉ ghét nó thôi. Nên tay anh toàn để tay trong túi quần, lần sờ cái điện thoại mà anh chẳng bao giờ trả lời. Em không hà tiện hay khéo dùng dụng cụ, đơn giản chẳng làm được gì khi vắng mặt anh. Anh chưa bao giờ thờ ơ với lũ nhóc con của người lạ, mà bực bội bởi mình cứ không ngớt lạc quan. Em đã chẳng hề ngạc nhiên khi mà, đêm hôm qua ấy ở Norfolk, anh lái xe đưa em tới hồ Tobey Pond, nắm tay đưa em đi xuống con dốc có hàng cây mâm xôi và băng qua mấy cái ván mục để tới chỗ những chòm sao soi bóng trên mặt nước. Sẻ chia hạnh phúc cho nhau lại làm niềm hạnh phúc của em giảm đi. Anh đã không khiêu vũ ở đám cưới chúng mình, còn em thì không phát biểu. Chẳng chút nào trong anh cảm thấy hồi hộp buổi sáng hôm ấy cả.

Khi em thét lên chẳng vào mặt ai, anh hát cho em nghe. Khi em cuối cùng cũng chìm vào giấc ngủ, người y tá đưa thằng bé đi tắm, và rồi, vẫn say ngủ, em vươn tay ra.

Thằng bé ngủ không đến nỗi tệ. Anh đã không công nhận với ai rằng anh không có khả năng ở bên cạnh nó hay bất kì người nào. Em đã không bị choáng ngợp nhưng thực sự kiệt sức. Anh không sợ lăn đè vào con khi anh ngủ, nhưng nhiều đêm anh thức giấc biết chắc rằng thằng bé đang nằm yên trên sàn. Anh khoái phá hỏng mọi thứ. Em yêu những đôi tất tí hin. Em đã không bị trầm cảm, nhưng em chẳng hạnh phúc. Anh không bào chữa gì cho mình về nỗi bất hạnh của em; anh chỉ ghét nó thôi. Thằng bé chỉ vui vẻ khi có ai ôm ấp nó. Anh thích dùng búa đóng đồ đạc lên tường. Em ghét khi thiếu hụt đời sống nội tâm. Anh đã thầm tự hỏi hay thằng bé bị điếc. Anh ghét nỗi khao khát gặm nhấm trong lòng ngay cả khi anh đã có tất cả. Chúng mình đã học cách hiểu cho sự mù quáng của nhau. Anh Google những câu hỏi mà anh không thể hỏi bác sĩ hay hỏi em.

Họ khuyến khích chúng mình mua bảo hiểm. Chúng mình làm tình để đạt cực khoái. Em thích việc bọc vải. Anh đã tới phòng gym chỉ để có chỗ mà đi, rồi nhìn vào gương mỗi khi vô tình thấy điều gì anh không ưa. Em đã ghét cái giường của chúng mình. Thằng bé có thể tự đứng lên, nhưng không biết cách ngồi xuống. Họ phạt chúng mình vì rác của nhà hàng xóm. Chúng mình không thể đợi tới lúc khởi đầu và cả khi kết thúc những chuyến đi nghỉ. Anh đã không biết xem bản vẽ thiết kế và chẳng hình dung nổi cái bếp cải tạo thế nào, nên anh đứng ngoài việc ấy. Họ tới trước cửa khi chúng mình đang dùng bữa, nhưng anh đã nói chuyện với họ và cho họ.

Anh đếm ngược vài giây tới khi thằng bé thiu ngủ, và rồi lại đếm ngược vài giây khi thằng bé chuẩn bị thức dậy. Chúng mình dạo bước lặp đi lặp lại, lặp đi lặp lại tới những hàng quán quen thường khi. Ông bà nói thằng bé trông giống họ. Anh luôn xem trailer phim trên máy tính của mình. Em thì lúc nào cũng lau chùi. Anh đã luôn nghe tiếng cười của cha anh và chẳng bao giờ nhớ nổi khuôn mặt ông. Em làm trái tim mọi người tan vỡ cho tới khi em bỗng dưng không thể làm thế được nữa. Thằng bé thình lình vẽ, thình lình nói, thình lình viết, thình lình lý luận. Một buổi tối nọ anh không giúp được nó giải bài tập toán. Thằng bé lập gia đình.

Chúng mình đã tới London xem kịch. Chúng mình đã cố gắng dành thời gian để chẳng làm gì mà chỉ đọc thôi, nhưng rồi chúng mình chẳng làm gì mà chỉ ngủ. Chúng mình không bao giờ đề cập tới điều ấy, vì chúng mình còn chẳng biết nó là sao. Anh đã không làm gì ngoài việc tìm kiếm em trong suốt hai mươi bảy năm. Anh còn chẳng biết nguyên lý của dòng điện. Chúng mình đã cố gắng tránh mặt nhau càng lâu càng tốt. Anh không tự biện minh về cảm giác buồn chán trong em, nhưng nào anh có hạnh phúc gì cho cam. Anh rất vui khi những người làm việc cho anh chân thành quý mến anh. Chúng mình vẫn thường kê lại đồ nội thất và chẳng bao giờ nhìn vào mắt nhau. Anh ghét việc mình không thể tới thăm một thành phố nước ngoài nào mà không mường tượng về bất động sản. Rồi cha em qua đời. Anh vẫn thường cầm sách mà không đọc. Em chẳng lúc nào là không ở trong vườn nhà ai đó. Hai bà mẹ của chúng ta thì thèm khát được nói chuyện phiếm.

Vào một thời điểm nhất định em bị thuyết phục rằng mình đã luôn đọc báo cũ từ ngày hôm qua. Vào một thời điểm nhất định anh ngừng dằn vặt vì không được cảm thông, và trở nên quá phụ thuộc vào máy G.P.S. trên xe anh. Em không thể chấp nhận nổi một chút thạch trong hộp bơ lạc. Anh không thể chấp nhận nổi những tiếng cười ồn ào vô cớ. Vào một thời điểm nhất định anh có thể nhìn chằm chằm mà chẳng cần lý do hay lời xin lỗi. Chẳng hài hước lắm sao nếu Chúa hiện thân và trình bày về chính Người, có nhất thiết là phần lớn mọi người trên đời sẽ bị thất vọng hay không nhỉ? Vào một thời điểm nhất định em đã ngừng bôi kem chống nắng.

Làm sao anh có thể giải thích cách anh đã hờ hững với thảm hoạ hạt nhân nhưng lại sợ chết khiếp một cú ngã nhẹ? Em đã không thể chấp nhận nổi những kẻ không thể chấp nhận nổi lũ trẻ con trên máy bay. Anh thì không thể chấp nhận nổi cái bọn cứ luôn nhấn mạnh rằng một ly cà phê sau bữa trưa sẽ làm chúng nó mất ngủ cả đêm. Vào một thời điểm nhất định anh có thể nghe thấy âm thanh từ đầu gối mình và cảm thấy khỏi cần sửa lỗi ngữ pháp của người khác nữa. Làm sao anh có thể giải thích vì đâu những thành phố ngoại quốc trở nên quan trọng nhường ấy với anh? Vào một thời điểm nhất định em ngừng dằn vặt với những tham vọng của bản thân, mà vào một thời điểm nhất định em đã bỏ cuộc. Anh đã không thể chấp nhận nổi mấy tay ảo thuật gia cứ làm những trò mà người thực sự có phép thuật sẽ chẳng bao giờ làm.

Chúng mình đã sống rất ổn. Anh vẫn yêu thích các kỳ Olympic. Chuyện càng nhỏ, anh càng để cho sự đồng ý của em trở nên quan trọng với anh hơn. Người ta cứ tiếp tục làm ra những thứ mới mẻ mà thậm chí chúng ta còn chẳng thực sự cần khi chúng ta thấy cần. Anh đã cần sự đồng ý của em hơn mọi thứ trên đời. Em gái anh đã chết tại một nhà hàng. Mẹ anh thuyết phục bất cứ ai chịu lắng nghe rằng con bé vốn rất ổn. Người ta đã thay đổi bộ lọc của chúng ta. Em đã muốn được thấy ánh sáng cực bắc. Anh muốn học một tử ngữ. Em ở trong vườn, không trồng cây, nhưng cứ đứng đó. Em thả xuống hai nắm đất.

 

Và giờ đây chúng mình không như thế, thật nhanh: anh không phải hai mươi sáu tuổi còn em không phải sáu mươi tuổi. Anh không phải bốn mươi lăm hay tám mươi ba tuổi, không bị những người đi về phía biển xốc bổng lên vai họ. Anh sẽ không học đánh cờ, và em sẽ không mất trinh. Em sẽ không xếp đá cuội trên bia mộ; anh sẽ yên ổn trong vòng tay người mẹ đang an nghỉ của mình. Hà cớ gì em đã không trao trinh tiết của em cho anh nhỉ? Tại sao chúng mình không đi qua ngã tư đường sớm hơn chỉ một phần ngàn giây, và bỏ mạng thay vì cười sằng sặc? Mọi chuyện khác đã xảy ra–tại sao lại không phải là những điều có thể?

Anh đã thôi mơ mộng. Em không còn vô cảm. Anh không thích bản tin thời sự nữa, nhưng vốn dĩ anh có bao giờ thích bản tin thời sự đâu. Thêm nữa, dường như anh có thể dùng thuận cả hai tay. Lẽ ra anh đã chẳng cần cố gắng đến thế. Em bây giờ trông mới là chính em. Anh đã quá chậm chạp để thay đổi, nhưng anh vẫn thay đổi. Anh có thể đã là một tay vợt tennis bẩm sinh, như những gì mà cha anh vẫn thường nhắc đi nhắc lại.

Anh đã thay đổi và đã thay đổi, rồi ngày qua ngày anh sẽ vẫn cứ thay đổi. Anh không thất vọng, chỉ im lặng thôi. Không phải là không chịu suy nghĩ, là bất cẩn đấy thôi. Không phải là cố tình mơ hồ, mà là đang cố gắng nói theo một cách khác đi. Anh càng nhớ được nhiều, anh càng cảm thấy xa xôi. Chúng mình đi được nửa đời thật là nhanh. Sau tất cả mà như thể không có gì. Anh chưa bao giờ thực sự ở đây. Thật xấu hổ vì đã chẳng dễ dàng gì. Lãng phí gì cơ? Đúng là một trò đùa. Nhưng thôi nào. Không giải thích hay hàn gắn gì cả. Hãy bên anh ở một nơi nào đó: trên ghế quán bar này, ở rìa vách đá, trên ghế của chiếc xe đi mượn, ở mũi thuyền này, trên những chiếc gối sao-cũng-được của cái trường kỉ sờn rách trong căn nhà một tầng cũ nát cần được sửa chữa nơi mà chúng ta đã nheo mắt nhìn hàng giờ qua cửa sổ trước khi cảm xúc ập đến: “Chúng mình sẽ làm gì với căn nhà thế này đây?”

 


(1) ND: vở kịch “The Cherry Orchard” của kịch tác gia người Nga, Anton Chekhov.

(2) ND: tác giả chơi chữ, nguyên văn “You were always copying keys and looking up words.”

Copyright © 2010 by Jonathan Safran Foer.

ThKh chuyển ngữ không có sự đồng ý của tác giả.

———-

ThKh – 2019

ThKh là một bút danh khác của ChuKim, một người viết tự do, sống và yêu tại một ngôi làng mang tên thành phố. Nếu có thể, hãy ủng hộ và khích lệ bằng cách đọc và chia sẻ những gì anh viết trong khả năng của bạn. Xin cảm ơn.

– natchukim.cogaihu@gmail.com –

PS: Tất cả nội dung trong blog này đều được tuyên bố quyền sở hữu và quyền tác giả về nội dung, ngoại trừ những bài sưu tầm có đề rõ. Mọi trích dẫn, đăng lại, vui lòng ghi rõ nguồn. 

 

 

 

 

Truyện ngắn: Quả trứng – Andy Weir

Andy Weir (1972-) là một kĩ sư phần mềm người Mỹ trước khi thành công của tiểu thuyết đầu tay, Người về từ sao Hoả (The Martian – 2011), giúp ông thực hiện được mơ ước viết lách toàn thời gian.

1*fglvjrnp5xutohhtbxz28q

‘Quả trứng’ (The Egg – 2009) là truyện ngắn nổi tiếng nhất của Andy Weir. Được đăng lần đầu tiên trên website của ông Galactanet. 


Quả trứng

 

Anh chết khi đang trên đường về nhà.

Đó là một tai nạn giao thông. Chẳng có gì đặc biệt, nhưng gây chết người. Anh bỏ lại vợ và hai con. Đó là cái chết không đau đớn. Đơn vị cấp cứu đã cố gắng hết sức để cứu anh, nhưng vô vọng. Cơ thể anh nát bấy, bỏ qua nó luôn thì hơn, tin ta đi.

Và đó là khi anh gặp ta.

“Điều gì… Điều gì đã xảy ra?” anh hỏi. “Tôi đang ở đâu?”

“Anh đã chết,” ta nói, ngắn gọn. Chẳng nghĩa lý gì khi trình bày dài dòng.

“Có một… một cái xe tải, nó bị trượt bánh…”

“Đúng,” Ta nói.

“Tôi… Tôi chết rồi ư?”

“Đúng. Nhưng đừng buồn. Ai mà chẳng chết,” ta nói.

Anh nhìn quanh. Chỉ có hư vô. Chỉ có anh và ta. “Nơi này là gì?” anh hỏi. “Đây là kiếp sau ư?”

“Ít nhiều,” ta nói.

“Người là thượng đế?” Anh hỏi.

“Đúng,” ta trả lời. “Ta là Thượng Đế.”

“Các con tôi… vợ tôi,” anh nói.

“Họ sao cơ?”

“Liệu họ sẽ ổn chứ?”

“Đó là điều mà ta muốn được thấy,” ta nói. “Anh mới vừa chết và mối bận tâm của anh là về gia đình anh. Thật là tốt đấy.”

Anh nhìn ta chăm chú. Đối với anh, ta trông chẳng giống Chúa chút nào. Trông ta chỉ như một người đàn ông nào đó. Hoặc có thể là một người đàn bà. Một kẻ có thẩm quyền mơ hồ nào đó, dám lắm. Có vẻ giống một thầy giáo ngữ pháp hơn là đấng toàn năng.

“Đừng lo,” ta nói. “Họ sẽ ổn thôi. Các con anh sẽ nhớ về anh như một người cha hoàn hảo. Chúng đã làm gì có lúc nào mà cảm thấy coi thường anh. Vợ anh bề ngoài sẽ khóc, nhưng trong thâm tâm thì được giải thoát. Công bằng mà nói, cuộc hôn nhân của anh đang đổ vỡ. Nếu như có bất kì sự an ủi nào, thì đó là về việc cô ta sẽ cảm thấy day dứt vì đã cảm thấy như vậy.

“Ồ,” anh nói. “Vậy tiếp theo là gì? Tôi sẽ lên thiên đàng hay xuống địa ngục hay sao?”

“Đều sai,” ta nói. “Anh sẽ được tái sinh.”

“À,” anh nói. “Vậy là những người Ấn Độ giáo đã đúng.”

“Mọi tôn giáo đều đúng theo cách riêng,” ta nói. “Đi với ta nào.”

Anh theo ta và chúng ta băng qua khoảng không. “Chúng ta đang đi đâu đây?”

“Không đâu cụ thể cả,” ta nói. “Chỉ đơn giản là vừa đi bộ vừa chuyện trò cho vui.”

“Vậy điều mấu chốt là gì?” anh hỏi. “Khi tôi được sinh ra lần nữa, tôi sẽ như một tờ giấy trắng, phải không? Một đứa bé. Như thế tất cả kinh nghiệm và mọi điều tôi đã làm ở kiếp này sẽ không còn quan trọng nữa.”

“Không hẳn!” ta nói. “Trong sâu thẳm anh vẫn có tất cả kiến thức và kinh nghiệm của tất cả các tiền kiếp. Anh chỉ chưa nhớ ra ngay đó thôi.”

Ta dừng bước và đặt tay lên vai anh. “Tâm hồn anh tráng lệ, đẹp đẽ và lớn lao hơn anh có thể hình dung. Tâm trí con người chỉ có thể chứa đựng một phần nhỏ vô cùng của chính anh. Giống như thể thò ngón tay vào trong cốc nước để xem nước nóng hay lạnh. Anh chỉ đưa một phần nhỏ bé của cơ thể anh vào cốc nước, và khi anh rút tay ra, anh thấu hết những gì mà chiếc cốc đã trải nghiệm.”

“Anh đã làm người trong 48 năm vừa rồi, thế nên anh chưa đi đủ xa để cảm nhận được ý thức bao la của mình. Nếu chúng ta ở đây cùng nhau đủ lâu, anh có thể bắt đầu nhớ lại mọi chuyện. Nhưng chẳng có nghĩa lý gì khi làm vậy giữa những kiếp sống.”

“Vậy tôi đã được tái sinh bao nhiêu lần rồi?”

“Ồ rất nhiều. Không sao xể xiết. Qua rất nhiều kiếp sống.” ta nói. “Lần này, anh sẽ là một thôn nữ Tàu vào năm 540 trong Công Nguyên.”

“Đợi đã, gì cơ?” anh lắp bắp. “Người sẽ gửi tôi về quá khứ?”

“Chà, về mặt kĩ thuật thì đúng vậy. Thời gian, với những gì anh biết về nó, chỉ tồn tại trong thế giới của anh thôi. Ở quê hương của ta, mọi thứ không giống như thế.”

“Người đến từ đâu?” anh nói.

“Phải rồi,” ta giải thích “Ta đến từ một nơi. Một nơi nào đó khác cơ. Và có những kẻ khác giống như ta. Ta biết anh sẽ muốn biết nơi đó như thế nào, nhưng thành thực mà nói anh sẽ không hiểu đâu.”

“Ồ,” anh nói, hơi thất vọng. “Nhưng gượm đã. Nếu như tôi được tái sinh vào những thời điểm khác trong dòng thời gian, một lúc nào đó tôi có thể tương tác với chính mình.”

“Hẳn rồi. Vẫn xảy ra suốt ấy mà. Và cả hai sinh mạng chỉ nhận thức được cuộc sống của chính nó mà thôi, anh còn chẳng biết điều đó đang xảy ra.”

“Vậy tất cả có nghĩa lý gì?”

“Thật sao?” ta hỏi. “Thật vậy sao? Anh đang hỏi ta về ý nghĩa của cuộc sống sao? Chẳng phải câu hỏi ấy hơi rập khuôn ư?”

“Câu hỏi hợp lý thôi mà,” anh khăng khăng.

Ta nhìn vào mắt anh. “Ý nghĩa của cuộc sống, mục đích mà ta tạo nên cả thế giới này, là để cho anh trưởng thành.”

“Ý người nói nhân loại? Người muốn chúng tôi trưởng thành?”

“Không, chỉ anh thôi. Ta tạo nên cả thế giới này cho anh. Với mỗi kiếp sống, anh lớn lên và trưởng thành và trở thành một trí tuệ lớn hơn, vĩ đại hơn.

“Chỉ mình tôi? Những người khác thì sao?”

“Không có ai khác cả,” ta nói. “Trong thế giới này, chỉ có anh và ta.”

Anh ngây người ra nhìn ta. “Nhưng biết bao người trên trái đất…”

“Đều là anh. Những hiện thân khác nhau của anh.”

“Gì cơ. Tôi là mỗi người!?”

“Bây giờ thì anh đang giác ngộ rồi đấy,” ta nói, vỗ vào lưng anh chúc mừng.

“Tôi là tất cả những ai từng tồn tại?”

“Hoặc là những ai sẽ tồn tại, đúng thế.”

“Tôi là Abraham Lincoln?”

“Và anh cũng là John Wilkes Booth nữa,” ta thêm vào.

“Tôi là Hitler?” Anh nói, bàng hoàng.

“Và cũng là hàng triệu người hắn ta tàn sát.”

“Tôi là Jesus?”

“Và cũng là mỗi môn đồ của ông ta.”

Anh im lặng.

“Mỗi khi anh làm hại ai đó,” ta nói, “anh đang làm hại chính anh. Mỗi việc tốt anh làm, anh làm cho chính anh. Mọi khoảnh khắc hạnh phúc hay buồn bã từng được trải nghiệm bởi bất cứ ai trong quá khứ, hay tương lai, đều được cảm nhận bởi chính anh.”

Anh suy nghĩ hồi lâu.

“Tại sao?” anh hỏi ta. “Tại sao lại thực hiện tất cả những điều này?”

“Vì một ngày nào đó, anh sẽ trở nên giống như ta. Bởi đó chính là anh. Anh thuộc về giống loài của ta. Anh là con của ta.”

“Chà,” anh nói, hồ nghi. “Người nói tôi là một thượng đế?”

“Không. Chưa đâu. Anh là một bào thai. Anh vẫn đang lớn lên. Một khi anh trải qua hết mọi kiếp người trong suốt lịch sử, anh sẽ đủ lớn để được sinh ra.”

“Vậy là cả thế giới này,” anh nói, “chỉ là…”

“Một quả trứng.” ta trả lời. “Giờ là lúc để anh tiến tới kiếp sau của mình.”

Và ta đưa anh vào hành trình của anh.

 


Copyright © 2009 by Andy Weir.

ThKh chuyển ngữ không có sự đồng ý của tác giả.

———-

ThKh – 2019

ThKh là một bút danh khác của ChuKim, một người viết tự do, sống và yêu tại một ngôi làng mang tên thành phố. Nếu có thể, hãy ủng hộ và khích lệ bằng cách đọc và chia sẻ những gì anh viết trong khả năng của bạn. Xin cảm ơn.

– natchukim.cogaihu@gmail.com –

PS: Tất cả nội dung trong blog này đều được tuyên bố quyền sở hữu và quyền tác giả về nội dung, ngoại trừ những bài sưu tầm có đề rõ. Mọi trích dẫn, đăng lại, vui lòng ghi rõ nguồn. 

 

 

 

Tôi chỉ đang cố bớt ngu đi một chút.

Tiêu đề là câu nói của Jeffrey Eugenides, tác giả cuốn tiểu thuyết Middlesex đoạt giải Pulitzer năm 2002, trong bài phỏng vấn Nghệ thuật tiểu thuyết (The Art of Fiction) do James Gibbons thực hiện. Nguyên văn bản Việt ngữ như sau:

‘Tuy nhiên, tôi lên đại học mà chẳng biết gì nhiều. Cho đến những năm tuổi 20 tôi mới trở thành một người đọc nghiêm túc. Những năm giữa tuổi 20 và 30, tôi đọc ngấu đọc nghiến, đọc nhiều hơn bất cứ khoảng thời gian nào trong đời. Tôi chỉ đang cố bớt ngu đi một chút.‘ (Chiêu Dương dịch).

Khi đọc đến đây, mình đang trải qua năm thứ 31 sống trên đời, tức là mình đã 30 tuổi rồi. Cuốn Middlesex lừng danh ấy mình chưa đọc. Mình sẽ đọc. Mình chỉ đang nghĩ về việc đọc nghiêm túc, và về việc trở thành một người đọc nghiêm túc.

Bây giờ tầng lớp thanh niên khởi nghiệp hay có cái thú kể lể về khối lượng sách họ tiêu thụ trong một khoảng thời gian. Ví dụ như có cái anh gì cũng nổi tiếng, được xã hội coi là ưu tú tài năng, lên mạng kể một tháng tôi đọc hai cuốn sách, muốn vượt qua tôi, bạn phải đọc một tháng bốn cuốn sách. Mặc dù anh không nói anh đọc sách gì và đọc như thế nào, nhưng như thế cũng tốt, ít nhất là tốt cho các nhà xuất bản.

Ở phía đối lập là trường phái khinh bỉ phong cách thống kê, họ thường bĩu môi nhếch mắt nói về chuyện đọc ít mà chất, nôm na là nhấn mạnh vào phương pháp đọc, đại để có thể kể tới những kĩ năng thưởng thức, tinh thần phê phán, khả năng phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá, vân vân và vân vân.

Mình đứng giữa, thấy bên nào cũng có cái hay, quả nhiên đọc không nhất thiết phải nhiều, mà cần trọng về giá trị và sự suy tưởng, tuy vậy nếu vừa đọc chất lượng mà vừa đọc được nhiều thì chẳng phải nhất cử lưỡng tiện hay sao, chẳng cớ gì mà phải nhăm nhăm yêu con gái nhà người ta, chén thôi cũng được mà. Đùa đấy, vừa yêu vừa chén, đỉnh cao mỹ vị ái tình nhân gian, lại được tiếng là có đạo đức.

Nhìn lại, mình thấy mình sở học làng nhàng, việc đọc cái gì cho ra hồn, phần lớn thời gian là dựa vào bản năng và sự cóp nhặt qua ngày rộng tháng dài, thỉnh thoảng vẫn hay ra vẻ cao đạo mà mở mồm ra khuyên nhủ người này người kia đọc đi, bằng cách ném ra vài danh mục sách, nói chung là tào lao và không có mấy tác dụng. Thân mình lo còn chưa xong, bày đặt khai dân trí (!!).

Năm vừa rồi mình đọc cũng được vài cuốn tự thấy khá thú vị, hôm nay, một buổi tối cuối năm dương lịch lạnh tái tê, mình không có người con gái tri kỉ nhèo nhẽo làm phiền, không có người anh em xương máu hàn huyên dè bỉu cuộc đời, không có gia đình ồn ào giục mình việc này việc nọ, mình ngồi một mình trong phòng làm việc, theo kiểu một chàng trai – hai tay tái lạnh – chỉ có gió với hơi mưa vừa tạnh ra cái chiều lãng mạn bí ẩn lắm, quyết định kể cho các bạn nghe một chút về miền chữ nghĩa mình đã đi qua trong 365 ngày vừa rồi.

  1. Tiểu thuyết

Mình đọc được một cuốn phải nói là hay, đó là cuốn Thời nắng lịm (In times of fading light – 2011) của tiểu thuyết gia người Đức Eugen Ruge. Cuốn này nói về sự thay đổi của xã hội nước Đức từ giai đoạn chia cắt Đông-Tây cho đến khi bức tường Bá Linh sụp đổ và trở thành nước Đức thống nhất thông qua những diễn biến nội tâm của các thành viên một gia đình Đông Đức điển hình. Ông Eugen Ruge viết cuốn này là cuốn đầu tay, xuất bản năm ông ấy 57 tuổi, chi tiết này làm mình cảm thấy được khích lệ vô cùng, đấy, ở cái tuổi ấy người ta vẫn có thể xuất đầu lộ diện và thành công ngay lập tức. Mình rất hài lòng với chi tiết này và lừa bịp bản thân suốt mấy tuần bằng cách lờ đi bảng thành tích dày cộp với những năm tích luỹ trước đó của ông Ruge.

Cuốn này được dịch giả Hoàng Đăng Lãnh dịch rất đỉnh, ngôn ngữ mượt mà uyển chuyển, vừa hiện đại lại vừa ra được mùi xã hội chủ nghĩa. Nói chung mình không định viết review sách, bạn nào thích thì có thể tự tìm trên mạng hoặc mua luôn mà đọc, trên mạng có bức ảnh nhà văn Eugen Ruge và dịch giả Hoàng Đăng Lãnh chụp chung nom rất nghệ khi ông tác giả tới Việt Nam tham gia giới thiệu sách, chỉ bật mí là mình đã bật cười khi đọc đoạn tranh cãi giữa hai nhân vật cha con, ông bố là người của xã hội Đông Đức còn sót lại, ông con thanh niên đang khi tận hưởng sự cởi mở của xã hội tự do mà phương Tây mang lại. Đọc mà thấy bồi hồi nhớ tới những trận cãi vã không bao giờ có điểm kết giữa mình và bố mình. Quả nhiên là ở đâu thì những cặp cha con cũng sẽ đều cãi nhau về đề tài này mà thôi. Trừ những cặp cha con sợ hãi chính trị và đéo dám ấn like trên mạng, hehe.

IMG_6654

Ngoài ra còn có cuốn Chiếc cầu trên sông Drina (The bridge on the Drina – 1945) của nhà văn Nam Tư cũ, Ivo Andritch, ông này ăn Nobel văn học 1961. Cuốn này nói về giai đoạn lịch sử kéo dài 300 năm của xứ Bosnie-Herzégovine, kéo dài từ khi cây cầu bắc qua sông Drina được xây dựng cho tới khi chịu đựng phá huỷ trong chiến tranh, những sự kiện và những kiếp người gắn liền với cây cầu này, không có nhân vật chính, không có nhân vật phản diện, tất cả là một dòng chảy cuồn cuộn của nhân sinh ái ố hỉ nộ. Bản Việt ngữ do cụ Nguyễn Hiến Lê dịch. Mới chỉ biết đến đây thôi là mình đã ưng lắm rồi, huống hồ cuốn này còn được Phạm Công Thiện phân tích rất hay trong chương IV cuốn Ý thức mới trong văn nghệ và triết học (mình đọc bản in lại và chỉnh sửa năm 1970).

Phải làm sập đổ tất cả nhịp cầu trong đời mình. Đừng mong muốn bắc cầu lại, hãy để sự ngăn cách được là ngăn cách. Chịu đựng sự phân ly, yêu thương sự phân ly. Muốn bắc lại một nhịp cầu là muốn tìm lại khói nhà xưa, tìm lại cái gì đã bay lên và bay mất. (Phạm Công Thiện)

Khi đọc những dòng này, mình đâu biết rằng một mối tình sẽ đến và đi theo cách day dứt nhưng chẳng hề đem lại niềm ngạc nhiên le lói nào.

20727

  1. Truyện ngắn

Cuốn Dạ khúc: Năm câu chuyện về âm nhạc và đêm buông (Nocturnes: Five stories of music and nightfall – 2009) củng cố vững chắc niềm tin của mình về việc muốn viết văn hay và vẽ được đẹp thì người ta không thể nào sở hữu thẩm mỹ âm nhạc tồi tàn cho được. Về sau đọc thêm tiểu luận, mình biết ông Kazuo Ishiguro (Thạch Hắc Nhất Hùng), kẻ mà đã ăn giải Nobel văn chương 2017 nghe nhạc rất có gu, thậm chí còn có lúc tham gia làm nhạc, lại cũng thích Tom Waits lè nhè như mình, mình lấy đó làm hỉ hả lắm. Điều làm mình thán phục là bản dịch các tác phẩm của ông Thạch Hắc này đã xuất hiện rất lâu trên sạp trước khi anh ta ăn giải Nobel, điều đó chứng tỏ công tác làm bìa sách thực sự có vấn đề mà những dịch giả, biên tập, nói chung là những người làm công tác xuất bản ở xứ này cần trau dồi lại về thẩm mỹ đồ hoạ một cách nghiêm túc. Lắm khi chỉ vì cái bìa xấu mà người ta sẽ hờ hững lướt qua tác phẩm không một chút đắn đo, nhất là giữa một thị trường vàng thau lẫn lộn như hiện tại.

dakhuc1-1378713674.jpg

Nhắc đến đây, mình không thể bỏ qua cuốn Zoo – 2003 của Otsuichi. Một cuốn sách với cái bìa rẻ tiền vô cùng, và cho đến khi bạn nhìn thấy cuốn Calling you của anh ta thì bạn sẽ như mình, không tiếc lời mạt sát sự vớ vẩn của thằng nào duyệt cho in cái bìa như vậy. Tuy nhiên, Zoo là một tập truyện ngắn thực sự khiến mình bất ngờ về sự thú vị, Otsuichi quả nhiên là dạng tài năng đặc biệt, người đã miệt mài ngẫm nghĩ và viết lách ngay từ độ tuổi phổ thông, khi mà bạn bè anh ta đang mải mê với video game và những trò thể thao hấp dẫn khác.

IMG_6655

Cũng may, Ishiguro đã đoạt giải Nobel văn học trong khi mình vẫn mải mê lôi Haruki Murakami ra làm trò đùa với bọn bạn, và một bạn đã tặng mình cuốn Zoo, nên mình mới biết tới hai thanh niên một già một trẻ, một gốc Nhật nhưng đậm chất Anh hơn cả những nhà văn Anh, và một thì thuần Nhật với dáng vẻ của một otaku chính hiệu.

  1. Lịch sử

Ấn tượng nhất là hai cuốn Sapiens: Lược sử loài người (Sapiens: A brief history of humand kind -2011)Homo Deus: Lược sử tương lai (Homo Deus: A brief history of tomorrow – 2015) của thiên tài Do Thái Yuval Noha Harari.

Hai cuốn này là dạng sách nghiên cứu với lối viết phảng phất nét văn chương nên mình đọc say sưa, bỏ qua luôn thói quen cứ đọc một cuốn nghiên cứu lại đọc một cuốn văn học cho đỡ chán. Thanh niên thiên tài Harari này đem đến cái nhìn rất sống động về thế giới như nó đã là, thế giới như nó đang là và thế giới như nó có thể sẽ là. Hai cuốn gây xôn xao trong giới thích đọc sách, tất nhiên người khen không ít và kẻ chê cũng cực nhiều, mình trong giới hạn vài chữ ngắn gọn không thể đưa ra hết lời đánh giá, mà thật ra chủ yếu do kiến thức hạn hẹp không đủ trình độ để phê bình một cách sắc sảo như nó nên là. Được cái mình cảm thấy cái nhìn về tổng thể thế giới loài người đã có bước chuyển khoáng đãng hơn nhiều sau khi đọc hai cuốn sách này, tất nhiên khi đọc mình luôn cố gắng giữ thái độ nghi ngờ tác giả và thậm chí coi thường dịch giả để có thể đảm bảo sự tỉnh táo khi đón nhận thông tin. Harari sau khi đi một vòng từ quá khứ tới tương lai, nói đại ý nếu bạn cảm thấy tương lai thật tăm tối thì hãy cứ lạc quan lên, mọi lời dự đoán về những gì chưa xảy ra, mục đích chính là để chúng ta làm cho nó không trở thành hiện thực, chứ nếu để nó thành hiện thực thì việc dự đoán thật vô nghĩa biết bao. Mình liên tưởng ngay tới việc người ta hay nói ra rả trên tivi về chuyện nước ta chắc chắn sẽ tiến lên chủ nghĩa xã hội. Hay ghê!!

IMG_6656

Bên cạnh đó, mình còn thích cuốn Xứ Đông Dương (L’ Indo-Chine Français – 1904), tự truyện của ông Paul Doumer, toàn quyền Đông Dương giai đoạn 1897-1902. Đây cũng là cuốn sách với lối viết đậm chất văn, mình khuân về đọc, nặng quá phải nhờ bạn mình sắm cho cái giá đỡ để chuyên tâm theo dõi câu chuyện của một đại nhân vật đã có những hoạt động để lại dấu ấn cực kì quan trọng trên xứ sở này. Nhiều chuyện ông Paul Doumer kể rất hóm hỉnh, như chuyện người dân An Nam ở một vùng quê và con hổ, hay chuyện ông bị ám ảnh với loài muỗi như thế nào. Đọc đến đâu thán phục đến đấy, quả nhiên là một trí tuệ lớn, nếu dựa trên những gì ông Doumer viết thì cung cách của ông trong cuộc sống và công việc đã vượt xa các lãnh đạo đảng và nhà nước ta bây giờ, những người đã đánh đuổi thực dân Pháp làm cho giấc mộng biến nước Nam trở thành một bang dùng hộ chiếu Pháp của những người da trắng tan tành.

Cuốn sách này gặp phải nhiều lỗi về dịch thuật, sau này mình tìm hiểu và tra soát lại mới phát hiện ra, sai cả về câu chữ lẫn thông tin, tuy không lớn nhưng rất đáng trách. Dù sao thì khi tái bản, đơn vị làm sách đã có động tác sửa sai, cái này đáng ghi nhận.

IMG_6657

  1. Chính trị

Năm vừa rồi điểm sáng trong mảng này là cuốn Chính trị bình dân – 2018, tác giả là nhà báo Phạm Đoan Trang mà mình rất kính trọng. Nói chung, đọc đến đây (nếu còn đọc đến đây), nhiều bạn chắc hẳn sẽ không mấy bận tâm, vì chính trị, suy cho cùng, nó là một cái gì đó xa xôi và khó thay đổi vô cùng trong quan niệm của chúng ta. Nếu đúng là bạn nghĩ vậy thì chúc mừng, đây là cuốn sách dành cho bạn, nó cung cấp những khái niệm cơ bản theo cách gần gũi nhất, với những ví dụ về ngay những gì đang diễn ra ở đất nước Việt Nam.

Đây là một đề tài khó viết, khách quan mà nói thì mình không cho rằng nó là cuốn sách dễ đọc, nhưng nó khó đọc vì sự khô khan của hàng loạt chương mục, hàng loạt khái niệm đòi hỏi đầu óc phải hoạt động, suy tư để phát triển cái nhìn tổng quát nhằm nâng cao kiến thức cho bản thân, chứ không phải vì sự khó hiểu. Nếu bạn đọc cuốn này mà còn cảm thấy khó hiểu thì có lẽ thứ duy nhất còn phù hợp với bạn là cái blog này của mình mà thôi (haha).

1412f711-6a7d-44dc-843e-61639d03ce1f.jpeg

  1. Tạp chí

Từ trước đến giờ, mình ít khi coi tạp chí. Phần vì không có thời gian và cơ hội tiếp cận với những tạp chí chất lượng cao, phần vì đọc sách còn chưa hết, tạp chí là một cái gì đó rất phù du mơ hồ mà thôi. Tuy vậy, suy nghĩ của mình đã thay đổi, ấy là khi mình biết tới tạp chí Zzz Review do Bên phía nhà Z, tức madame Z chủ biên.

Sức đọc của một người nếu đo đếm thì ngoài kia đầy rẫy những kẻ thiên kinh vạn quyển, mà đọc là đọc thực sự, đọc hiểu chứ không phải kiểu đọc lấy đó làm vui, ừ thì cũng có vui, nhưng bên cạnh vui còn có cả suy ngẫm. Đó là mình ba hoa vậy, vì mình thấy mình là thành phần đọc kém và chậm, thế nên việc ở Việt Nam xuất hiện một tạp chí review văn học khiến mình rất thích thú, nhất là khi chất lượng của nó không tồi chút nào, nếu không muốn nói là quá ổn (ở thời điểm hiện tại). Nhờ có Zzz Review mà mình biết thêm khá nhiều cuốn hay và biết lặng lẽ bỏ tiền ra mua về để thành chồng cao nghệu trên bàn cho đẹp mắt chứ đọc chưa hết nổi. Cũng nhờ tạp chí này mà mình nhận ra thị trường sách Việt Nam bị thống trị bởi văn học dịch, văn học Việt Nam vẫn sống, nhưng thiếu những tác phẩm lớn và thiếu cả những tính cách như đã từng có trong quá khứ, cái này là hậu quả của việc kiểm duyệt xuất bản mình rất ghét, tự hứa với lòng sẽ coi biên tập viên như kẻ thù, nếu sau này có cơ hội làm việc cùng, hihi. Nói năng linh tinh vui vẻ thế, chứ đó thực sự là vấn đề nhức nhối, không chỉ ở Việt Nam mà còn ở bên Tàu, nơi đã sản sinh ra dòng ngôn tình, trước đây văn học Tàu đã không có gì thu hút mình, bây giờ thêm ba cái thể loại ấy, mình càng chẳng để trong mắt, biết là sẽ bỏ lọt viên ngọc nhưng thôi cũng kệ, thế gian thiếu gì ngọc.

Tạp chí ZZZ Review khá đa dạng về thể loại bài viết, có phê bình, phỏng vấn, điểm sách, vân vân. Và tất nhiên, gạn đục khơi trong ta sẽ có thượng vàng hạ cám. Có những bài viết hay giúp mình biết thêm các tác giả tác phẩm mà trước đó mình chưa nghe tới bao giờ (Eugen Ruge ở trên là một ví dụ) thì cũng có những bài khiến mình chỉ muốn đập mẹ cái kindle của mình đi cho rồi. (Lại) tất nhiên, mình không đập kindle nên mình đã chọn cách chịu đựng cảm giác buồn nôn cho đến hết bài viết. ‘Một sự thật cá nhan bị dồn nén tận đáy của ý thức’: Lối viết và tiếng nói nữ trong ‘Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ’ của tác giả Võ Bảo Trâm là một ví dụ. Mình bực đến nỗi lên mạng viết vài dòng xả nỗi cay cú vì kí ức về lối viết văn mẫu dưới mái trường xã hội chủ nghĩa thân yêu bị khơi dậy. Nay kể ra đây, hi vọng không làm ai mích lòng.

Screen Shot 2018-12-31 at 10.23.24 PM

 

Tổng kết:

Năm vừa rồi mình cũng gọi là chịu khó đọc sách, đã biết bỏ tiền ra mua kindle để thay đổi thói quen sử dụng sách giấy, sau đó mê tít phát minh vĩ đại này của bọn tư bản giãy chết, tức đất nước không có vua nhưng hay bị gọi là đế quốc trong sách giáo khoa. Mình đã cố gắng không biến những thời khắc lười biếng trở thành vô nghĩa với những màn chơi bời vớ vẩn, mặc dù mình vẫn rất hay chơi bời vớ vẩn. Mình cũng nhận ra là đã hoàn toàn không đọc cuốn sách ngoại ngữ nào (cụ thể chính là tiếng Anh, ngoại ngữ duy nhất mà mình biết, một cách sơ sài), mình hoàn toàn đọc sách dịch và sách viết bằng tiếng Việt, năm tới mình sẽ cố gắng khắc phục điểm này. Ngoài ra, việc đọc các truyện ngắn, tiểu luận, bút kí, diễn từ, tóm lại là đọc trên mạng cũng là một trải nghiệm kì diệu đem lại cho mình những xúc cảm mãnh liệt hơn mình có thể hình dung trước đây. Xin cảm ơn tất cả những người đã chia sẻ miễn phí thành quả lao động của họ để những người như mình có được cơ hội được đắm mình trong chữ nghĩa tuyệt đẹp như vậy trong đời. Trong khuôn khổ những lời tâm tình này, mình không thể liệt kê hết những đường link cần thiết, trong tương lai nếu có đủ điều kiện mình sẽ tìm cách thực hiện và ủng hộ, mong mọi người thứ lỗi cho mình của ngày hôm nay.

Những giờ phút cuối cùng của năm 2018, nghĩ lại, thấy mình đã may mắn bớt ngu đi một chút.

———-

ChuKim – 2018

ChuKim là bút danh của một người viết tự do, sống và yêu tại một ngôi làng mang tên thành phố. Nếu có thể, hãy ủng hộ và khích lệ bằng cách đọc và chia sẻ những gì anh viết trong khả năng của bạn. Xin cảm ơn.

– natchukim.cogaihu@gmail.com –

PS: Tất cả nội dung trong blog này đều được tuyên bố quyền sở hữu và quyền tác giả về nội dung, ngoại trừ những bài sưu tầm có đề rõ. Mọi trích dẫn, đăng lại, vui lòng ghi rõ nguồn. 

 

 

 

 

 

 

Con chuột sắp sửa lao ra từ miệng cống

Con chuột sắp sửa lao ra từ miệng cống. Nó tập trung quan sát hai dòng xe đang vun vút ngược xuôi. Ánh sáng, bóng đổ, hàng cây, gió, tiếng xe, tiếng người, sự rung động của từng sợi lông trên người con chuột. Lao ra từ miệng cống bên này, hướng về phía miệng cống bên kia, ở giữa hai điểm đầu cuối ấy là con đường ầm ầm xe cộ, đó là hoạt động mạo hiểm đỉnh cao mà một con chuột thành phố có được.

Nó không làm thế để sinh tồn. Không gian sống của nó trong thành phố này không thiếu chỗ để nó kiếm thức ăn. Mấy căn nhà quen mà nó vẫn thường đột nhập, thùng rác có nắp đậy lỏng lẻo, phòng ngủ bừa bộn của đám trẻ con thành phố đầy vụn thức ăn vặt vương vãi trong xó nhà. Điểm vứt rác của loài người trong khi chờ xe rác tới thu gom, có thể là cột điện ở một khu dân cư, có thể là cửa sau một quán ăn, hay có thể chỉ là một mảng tường chung không cha không mẹ, không xuất xứ, không danh tính. Hôi thối, rỉ nước, đầy hấp dẫn.

Nó càng không làm thế để thể hiện bản thân nhằm tranh giành bạn tình. Để có thể có thể làm tình với tần suất thần thánh mỗi tuần lễ và xét về mức độ thành công trong cuộc cạnh tranh để truyền lại mã gien của mỗi cá thể sang thế hệ tiếp theo với tỉ lệ khiến loài người phải ghen tị, loài chuột hẳn phải rất mãnh liệt trong việc lang chạ và bắt cặp trong mỗi chuyến truy hoan. Một bờ tường, một nóc nhà, một bờ bụi tĩnh mịch, một bóng đêm vang vọng âm thanh của cả chuột và người. Chẳng phải điều chúng bận tâm.

Con chuột cũng không làm vậy để cuộc sống của nó thêm phần mạo hiểm. Bản thân sự tồn tại của nó ở thành phố này đã là một sự mạo hiểm với trập trùng cạm bẫy phải đối mặt qua từng khoảnh khắc. Đánh bằng gậy, hay bằng chổi, hình thức này cũng tàn nhẫn không khác gì việc bị tấn công bởi mèo, hay chó, hay một loài săn mồi bí ẩn nào đó vẫn luôn tồn tại nơi góc khuất tầm mắt con người, con chuột sẽ bị hất văng đi, có khi là hất tung lên, rồi rơi bịch xuống, có thể chết ngay, nếu may mắn, hoặc sẽ thoi thóp và cảm nhận từ từ cái chết đang đến với mình. Bẫy dính, nơi nó sẽ nằm im, thở nhẹ, giẫy giụa, rít lên, rồi lại nằm im, thở nhẹ, vẫn hướng về miếng thịt hay viên kẹo, mùi của sự sống cuộn lên từ mẩu thức ăn chỉ cách nó một chút. Đánh bả, loài người có thứ bẫy này thật nham hiểm, con chuột sẽ được ăn, rồi sau đó, thay vì tiếp tục tìm thức ăn để truy cầu một ngày mới, nó sẽ cảm thấy đau, cảm giác khô nóng dồn lên trong người, nó quằn quại lao đi tìm nguồn nước để làm dịu đi sự khó chịu đang dâng trào, và khốn nạn nhất là nó sẽ chết ở một địa điểm khác, nơi mà con người sẽ nguyền rủa hàng xóm của hắn ta, và tất nhiên, chửi cả cái xác đang bốc mùi của con chuột.

Con chuột hít một hơi quyết liệt, mắt nó trợn lên, nó đã nắm bắt được sát na mà mọi vật đều dừng lại, cây cối ngừng xào xạc, những làn xe ngừng điên cuồng, tia nắng ngừng chuyển động, và một con đường sáng đã mở ra phía trước. Toàn thân con chuột co rúm lại rồi bắn vọt về phía trước. Nó lao ra khỏi miệng cống, nó băng qua đường với tất cả lòng dũng cảm mà một con chuột có thể có được. Chỉ cần qua được bờ bên kia, nó sẽ có thêm cơ hội để đầu thai sang một kiếp sống khác, trở thành một sinh mệnh khác. Một con bướm dập dìu rong chơi; một con ong với nọc độc có tính sát thương; một cánh chim báo bão kiêu hãnh sải cánh lướt đi trong gió; một con mèo quý tộc không ăn gì ngoài thức ăn nhân tạo; một con cá cả đời không cần biết tới cái nóng hầm hập ngày hè; một con người, biết đâu đấy, với thọ mệnh dài gấp bảy mươi lần một con chuột; hay chí ít, nó có thể trở thành một con chuột chúa tể của thế giới loài chuột.

Đó là những gì mà giống loài của nó truyền cho nhau. Nó không biết liệu đó phải chăng chỉ là một câu chuyện thần thoại của những con chuột hay chăng, nhưng hàng bao nhiêu thế hệ chuột đã sinh ra, lớn lên và chết đi, ở khắp mọi nơi, khắp mọi thành phố trên cõi đời này, chúng vẫn băng qua đường với tất cả khát vọng sống. Con chuột dồn tất cả sự dũng cảm mà nó có được vào chuyến đi này, đó là chuyến đi của cuộc đời, đó là chuyến đi không biết tới ngày mai, đó là chuyến đi của ngay giây phút này, của tất cả những gì mà nó đã được sinh ra để trở thành.

Một âm thanh vừa nhão nhoét, vừa khô khốc vang lên. Con chuột vẫn mở mắt trừng trừng, nó vừa chứng kiến cái chết của chính mình. Nó mới chỉ đi được một phần quãng đường, con đường này sao rộng quá, bánh xe nào sao nhanh quá. Nó sắp đi tới những hình ảnh cuối cùng, rồi sẽ lại có một bánh xe khác vụt qua, nghiền nát đôi mắt đã ghi dấu, đã mong mỏi, đã ngập tràn hi vọng. Con chuột bắt đầu thay đổi, cái xác của nó nằm đó, bất động, trở thành một đống bầy nhầy, rồi bay hơi dần đến khô kiệt đi, rồi phát tán thành bụi. Cho đến một lúc, nó tiêu biến hoàn toàn khỏi mặt đất.

Trở thành một dạng sống nào đó mà nó không bao giờ có cơ hội được ước ao.

———-

ChuKim – 2018

ChuKim là bút danh của một người viết tự do, sống và yêu tại một ngôi làng mang tên thành phố. Nếu có thể, hãy ủng hộ và khích lệ bằng cách đọc và chia sẻ những gì anh viết trong khả năng của bạn. Xin cảm ơn.

– natchukim.cogaihu@gmail.com –

PS: Tất cả nội dung trong blog này đều được tuyên bố quyền sở hữu và quyền tác giả về nội dung, ngoại trừ những bài sưu tầm có đề rõ. Mọi trích dẫn, đăng lại, vui lòng ghi rõ nguồn.