Những cơn mưa trong chiều mùa hạ

Cơn mưa chiều ập đến sau mấy ngày dấm dứ vờn mình như mèo vờn chuột. Yêu. Không yêu. Yêu. Không yêu. Yêu. Ừ thì yêu, yêu nhau trong cơn mưa miết mải như ngày ấy, như những gì đã luôn xảy ra trong suốt những tháng năm qua. Lại thấy thèm cảm giác lột bỏ áo quần, không mảnh vải che thân, đi chân không dạo quanh vườn, dưới cơn mưa, trong màn đêm tĩnh mịch, chỉ có mình, mấy cái cây thân quen ngày ngày gặp gỡ thả bước qua nhau, nghe tiếng mưa rơi trên mái nhà, trên tán lá, trên thịt da trần trụi. Buốt lạnh và ngọt ngào trong từng cái chớp mắt nhoà đi trước từng kỉ niệm về một cơn mưa nào đó đã qua trong đời. Ấy là chuyện của mấy ngày trước, giờ thì nhà bên đã có người về ở, cửa sổ hướng ra vườn, chẳng biết có cô láng giềng nào không, nhưng thốt nhiên, niềm vui của những bước chân một mình lịm dần, lịm dần, chẳng biết đến bao giờ mới bừng cháy trở lại.

Dạo này mình lại thích làm thơ, trước đây có giai đoạn, mỗi năm chỉ viết vài dòng, cũng chẳng biết có thể gọi đó là thơ không nữa, khái niệm về thơ đã thay đổi sau từng ngày lớn khôn, thứ thẩm mỹ đầy tự do mà khó nắm bắt, có lúc, cứ đinh ninh đã mãi mãi tuột khỏi tay mình. Thế rồi lại làm thơ thật, tự đọc thấy cũng được, y như hồi xưa, viết được bài nào đọc lại thấy cũng hào hứng lắm, cho đến khi nó qua đi, thi thoảng được những người mình đánh giá cao tình cờ đọc được và like cho phát, phấn chấn hẳn, mà sự phấn chấn ngày hôm nay khác hẳn với sự hào hứng ngày trước. Thôi, cũng có phải sống vì những ngợi ca nào đâu, dẫu cho hào nhoáng hay thâm trầm sắc sảo.

Xong hôm nay nói chuyện với D., hôm trước D. nói anh làm bài thơ nhõng nhẽo đi, mình cười, bảo D. viết đi, nếu thích, một câu thôi cũng được, rồi mình viết cùng, D. ham chơi, tần ngần mấy hôm, đi qua nắng gắt lẫn mưa rào, kể cho mình nghe đủ chuyện trên trời có con chim bay, dưới nước có con cá lặn, mà vẫn chẳng nặn ra nổi chữ nào. Cười, nói, anh không vào vai em đâu, viết đi, anh có lòng kiên nhẫn. Thơ thẩn, như một cái thú tìm quên hay tìm nhớ, tìm vui hay tìm buồn, ngày xưa, lâu rồi, hơn chục năm trước, cũng có những giây phút viết chung những câu ngắn xuống dòng, ghép lại, hôm nay đọc thấy thế này, một ngày nọ lại thấy thành thế khác. Giờ để mất hết, chẳng giữ được, đâm ra kí ức cứ ở lại trong nỗi day dứt không sao đặt xuống nổi. Trách ai..?

D. lại bảo, mấy hôm nữa em đi mua cho anh dăm cái bờm, mà hồi xưa nụ hôn đầu của em cũng ở khu Khương Thượng ấy đấy. Mình đoán chắc lại kiểu đi học thêm, khác lớp khác trường, nhưng quen nhau, gặp nhau một tuần mấy lần, thành tình yêu mười lăm tuổi, nụ hôn đến sau giờ học. D. cười hi hi, đúng rồi đúng rồi. Thế là lại nghĩ lại chuyện hồi ấy, mười mấy năm trước, sao có những đứa biết hôn sớm thế nhỉ, mình thì mất bao nhiêu thời gian cho chuyện thích để tóc dài, ôm đàn ca hát nghêu ngao, vẽ vời linh tinh đầy sổ, và những bài thơ cho những mối tình câm, có lúc còn viết về mối tình của mình, xong đưa cho thằng bạn đem đi tặng gái, chẳng liên quan mẹ gì, thế mà gái nó đổ nó cái rầm. Đúng là bọn con gái, đọc chẳng hiểu mẹ gì, cũng chẳng cảm nhận được đâu, nhưng có thằng tặng thơ thì vẫn thích, hồi ấy nghĩ thế.

Có mấy lần, tình yêu gắn với những cơn mưa trong chiều mùa hạ, sầm sập sấm chớp, sầm sập phong ba, cuồng nhiệt điên dại như một lần là mãi mãi vậy. Bất chấp đến thế, rồi bây giờ cũng thành chuyện để nhớ rồi lên mạng kể lể vung vít. Thỉnh thoảng có bạn hỏi, sao chuyện yêu đương nào của anh, cũng đều nhuốm màu nhẹ nhàng như hơi thở vậy, cười bảo đâu có, cố tình viết thế cho nó có vẻ lãng đãng sương khói vậy thôi, chứ ngoài đời thì cũng chết đi sống lại, cũng đủ các thứ buồn thương và hạnh phúc, y như mọi người vậy thôi. Kinh nghiệm là đừng tin mấy thằng hay nói chuyện văn hoa, bốc phét cả đấy!!

Hồi ấy, hai mươi tuổi, sao mà thích mưa rào mùa hạ đến thế, tắt đèn, tắt máy tính, tắt nhạc, ngồi mở cửa sổ cho mưa hắt vào ướt đẫm mắt kính như những giọt nước mắt của trời rơi trên gương mặt mình, nghe tiếng mưa ầm ầm như sắp cuốn phăng cả thành phố. Hôm sau lầm bầm chửi thành phố tồi tàn, có cơn mưa con con mà cũng ngập, chẳng ra thể thống gì. Trong cơn mưa, chạm vào nhau, rồi cũng trong một cơn mưa, thấy mình đang nhìn ngắm chính mình, hình dáng một con người không thuộc về bất cứ nơi nào, không muốn thuộc về bất cứ điều gì. Loé lên một khoảnh khắc như vậy, rồi thôi.

Bây giờ, ba mươi mốt tuổi, vẫn thích những cơn mưa trong chiều mùa hạ, thích nhìn qua làn mưa, thấy ráng chiều thẫm đỏ, giờ thì biết tia màu đỏ là tia có khả năng đi được xa nhất qua bầu khí quyển, nên ráng chiều sẽ có màu như vậy, chẳng thơ lắm, nhưng cuộc đời và những câu thơ, có ai bắt phải nhất nhất theo nhau đâu, như thế thì buồn lắm.

Vẫn ba mươi mốt tuổi, trốn tít một hơi về nơi hoang vắng, đầm mình trong cái nắng khi gay gắt khi dịu dàng, gọi đó là sự rèn luyện, rồi cũng quên luôn cả thói quen mặc áo mưa, có ô thì giương lên làm dáng như một kẻ điệu đàng chính hiệu, không thì thôi. Cơn mưa tắm tưới cuộc đời còn không hết, một chút xác thân, có sá gì.

Mấy hôm nay vừa mong mưa, vừa nhớ lại chuyện tình cũ. Thằng bạn biết chuyện, nó bảo, có lẽ đó là chuyện tình buồn nhất của mày. Mình thấy chuyện tình nào của mình cũng buồn, mỗi buồn mỗi vẻ mười phân vẹn buồn, so sánh thì thật khó lắm thay.

Đâm ra lại thấy mưa buồn, lại thấy thơ tha thơ thẩn như thằng nhóc mười mấy tuổi năm nào. Viết những lời tẻ nhạt sầu riêng một mối. Cho ai..?

———-

ChuKim – 2019

ChuKim là bút danh của một người viết tự do, sống và yêu tại một ngôi làng mang tên thành phố. Nếu có thể, hãy ủng hộ và khích lệ bằng cách đọc và chia sẻ những gì anh viết trong khả năng của bạn. Xin cảm ơn.

– natchukim.cogaihu@gmail.com –

PS: Tất cả nội dung trong blog này đều được tuyên bố quyền sở hữu và quyền tác giả về nội dung, ngoại trừ những bài sưu tầm có đề rõ. Mọi trích dẫn, đăng lại, vui lòng ghi rõ nguồn. 

Truyện ngắn: Những đám mây nồng ấm – Chris Adrian

Chris Adrian (1970-) là nhà văn người Mỹ. Ông đã xuất bản ba tiểu thuyết, Gob’s Grief (2000), The Children’s Hospital (2006), The Great Night (2011), và tập truyện ngắn A Better Angel (2008). Hiện ông sống và làm việc tại San Francisco.

Chris Adrian (Grafilu - newyorker.com).jpg

Tranh: Grafilu – newyorker.com

‘Những đám mây nồng ấm’ (The warm fuzzies) là truyện ngắn của Chris Adrian được đăng trong tuyển tập 20 under 40 (2010) của tạp chí The New Yorker. 


Những đám mây nồng ấm

Cha mẹ Molly luôn đưa cho những đứa con mới một cái trống lục lạc và dí chúng với em, vì trống lục lạc dễ chơi, tuy có những tình tiết lắt léo mà chẳng ai hiểu hay trân trọng, và bởi em rất tử tế, dù em chỉ tử tế bằng khoảng một nửa so với những gì mọi người đinh ninh về mình. Thằng nhóc mới đến trông không khác biệt gì mấy so với những đứa trước đó, những anh chị em nuôi da đen cứ đến và đi và đến và đi, từng đứa một dạo qua gia đình của Molly cho tới khi chúng không thể tránh khỏi bị loại. Em gần như không nhớ nổi tên của Jordan trước khi thằng nhóc rời khỏi đó, bắt xe tới buổi giới thiệu Job Corps(1) ở Houston, và giờ thì Paul ở đây, một thằng nhóc mười ba tuổi, nhỏ hơn một chút so với thằng anh nuôi đã bị chuyển đi mà nó chưa từng gặp mặt, và chơi trống lục lạc tệ y chang. Molly bước lại gần thằng nhóc trong gara và cố giữ nhịp theo cách rõ ràng hơn và rất dễ bắt chước, nhưng nó không hoà theo, và mặc dù nó hát đúng nhạc, nhưng lại liên tục sai lời. “Tôi yêu bạn,” Molly hát, cùng với các thành viên khác của gia đình vào đoạn điệp khúc. “Tôi yêu bạn thật nhiều. Tôi yêu bạn nhiều hơn bạn có thể biết, nhưng Chúa Jesus còn yêu bạn hơn thế nhiều nhiều nhiều nhiều!” Đó không phải là đoạn điệp khúc khó nhớ nhất, nhưng thằng nhóc cứ hát thành “Tôi yêu bạn quá đi” thay vì “thật nhiều”, và “nhiều hơn bạn có thể hình dung” thay vì “nhiều hơn bạn có thể biết.” Quả là điềm gở khi mọi người không thể chơi cho đúng phần điệp khúc bài hát này. Tức là sẽ chẳng có gì dễ dàng cho các em cả.

Chris Adrian - The warm fuzzies (minh hoạ - Zohar Lazar - newyorker.com).jpg

Minh hoạ: Zohar Lazar – newyorker.com

Dầu sao, thật vô nghĩa khi lo lắng cho các em, ngay cả ở giai đoạn đầu này, khi bạn nghĩ rằng có thể làm gì đó để giúp chúng, khiến chúng hoà nhịp với nhau tốt hơn, hay để xoa dịu cái xung đột hiển nhiên sẽ dẫn tới việc chúng bị gửi trả lại trại trẻ hoặc đưa qua một gia đình khác nào đó, hoặc một trường dạy nghề, hoặc Hải quân, hoặc tới một cơ số những cơ-hội-giả-tạo là giải khuyến khích cho việc không thể thực sự trở thành thành viên của nhóm nhạc gia đình Carter đến từ Bờ biển Virginia, bang Virginia.

Molly mỉm cười với Paul, và nó gật đầu rất ngầu với em, điều này thực sự khác biệt đây. Thường thì trong ngày đầu tiên, bọn nhóc mới tới thường hồi hộp cười đáp lễ, nhưng thằng nhóc này có vẻ như bằng cách nào đó đang đánh giá em, nhìn em từ trên xuống dưới theo cái gật đầu. Rồi nó xoay người, đánh hông về một phía và đánh vai về phía còn lại, rồi nó trao cái nhìn hệt như thế cho chị gái Mary của em ở chỗ chị ấy đang đứng hất tóc hết về sau rồi ra trước bên cái đàn keyboard, hai tay chơi mổ cò. Thằng nhóc lắc trống lục lạc một cái về phía chị ấy—không đúng lúc chút nào—và rồi về phía anh trai Colin của em ở chỗ anh ấy đang chơi guitar, hướng ra mắt trước của gara, gần chỗ cha mẹ các em. Colin đang quạt đàn và lắc từ eo, trái rồi phải rồi trái, và nhảy tại chỗ trong đoạn điệp khúc. Anh ấy cũng xanh xao như Molly, và bỗng nhiên trông thật ốm yếu so với thằng nhóc mới tới. Molly nín thở và nhắm mắt, và với một nỗ lực—giống như nén cái gì lại trong đầu—em ngừng việc nghĩ ngợi những điều không hay về em trai mình.

Thằng nhóc mới tới cũng làm hệt như vậy với Malinda, đang hát ở giữa cha mẹ các em, với Craig, đang chơi violin, và Clay, chơi guitar bass. Nó quay một vòng để làm điều ấy—một lời chào ư? một cái lắc nắm tay?—với Chris, chơi trống, và với cha mẹ em, và rồi với bé Melissa, một mục tiêu di động kể từ lúc em ấy không chơi nhạc cụ nào và cũng chẳng hát mà lại nhảy nhiệt tình xung quanh, và cuối cùng với bức tranh bằng khổ người thật của Chúa Jesus dán ở mặt sau cánh cửa gara, nơi mà một kiểu gia đình khác, hoặc một kiểu ban nhạc khác, có thể dán lên một bức ảnh đám đông trong sân vận động. Có hai cú lắc cho Chúa Jesus.

Sau đó nó nhắm mắt lại, cứ thế nhảy tại chỗ và lẩm nhẩm hát sai lời. “Chúa Jesus Yêu Bạn Hơn” không phải rock nặng lắm. Chẳng bài nào là rock nặng, mặc dù cha các em, người sáng tác với đóng góp tối thiểu của Mary và Craig, hai đứa lớn nhất, sẽ nói ngược lại. Molly làm những gì em có thể để khuấy động không khí. Em và Chris đang cùng nhau có tiến triển, chỗ nào em nhấn nhá trong bài trống của cậu thật cẩn thận, leng keng những tiết tấu tinh tế tạo thành nhịp làm nền phía dưới giai điệu vanilla của cha các em, lúc nào cũng là một trong bốn giai điệu quen thuộc duy nhất. Mặc dù vậy, bạn chỉ có thể làm nhiều chừng đó. Nếu bạn lắc quá mạnh, bạn đơn thuần là hướng sự tập trung về phía mình theo cách mà rõ ràng là bạn đã bỏ cuộc trong việc triển khai ca khúc hoặc là đang cố đưa nó tới nơi nào đó mà nó không hề thuộc về. Có một truyền thuyết hơi tế nhị một chút về trống lục lạc, nó không phải thứ mà bạn có thể cảm nhận bằng trực giác trong lần đầu tiên bạn chạm vào. Nhưng thằng nhóc đang dậm châm và lắc và quay và vỗ tay theo một bài hát nghẹt thở, cuồng nhiệt có nét giống với bài mà cả đám đang chơi. Chris, Mary và Clay nhíu mày nhìn nó, nhưng những người còn lại, đứng trước nó với trái tim hướng về Chúa Jesus, chẳng hề nhận ra trong suốt một phút. Ca khúc dừng lại, không hoàn toàn vì hiệu lệnh chặt tay karate của cha các em, nhưng thằng nhóc không dừng. Mắt nó nhắm nghiền, tay chân nó bay bổng, và nó vừa mỉm cười vừa hát: “Chúa Jesus, người là bạn tôi! Người là bạn thảng hoặc của tôi. Ôi Chúa Jesus!” Melissa phá ra cười, và nhảy theo cho tới khi Mary nắm lấy vai nó.

“Paul,” mẹ chúng nói. “Paul!” Nó ngừng nhảy và nhìn bà.

“Khi nhạc dừng,” cha các em nói, “thì bài hát kết thúc.”

“Tên con,” thằng nhóc trả lời, “là Peabo.”

 

Đã có thời họ chỉ đơn giản là Carters, không phải Ban nhạc Gia Đình Carter, nhưng Molly chỉ nhớ mơ hồ về chuyện ấy. Có thời khi cha em còn là một nha sĩ toàn thời gian thay vì chỉ làm nửa ngày, và mẹ em phụ trách vệ sinh răng miệng ở phòng khám của ông, khi tất cả các em đều đến trường học bình thường thay vì học ở nhà, khi chiếc xe hơi của gia đình còn là một chiếc Taurus thay vì một chiếc xe bus loại nhỏ, và khi Melissa thậm chí còn chưa ra đời. Rồi một buổi sáng cha mẹ em tỉnh dậy—mà chẳng hề có một viễn kiến nào hay có chút kinh nghiệm gì về đêm tối của tâm hồn—với nhận thức mới mẻ về mục đích của cuộc đời. Cả hai cầm cây đàn guitar lên, chưa bao giờ chơi trước đó, và bắt đầu cất tiếng hát ngợi ca Chúa Jesus.

Cũng có một thời, trước khi họ thu các album hay đi lưu diễn hay xuất hiện trên các video bằng máy quay cầm tay do dì Jean của chúng sản xuất và đạo diễn, được phát sóng (khá khuya) trên kênh truyền hình cáp cộng đồng và rồi, cuối cùng, trên chương trình Samaritan TV, khi Molly thích ở trong ban nhạc, và thích được là thành viên của gia đình. Em từng có làn trải qua vai trò của Melissa, cũng nhảy cuồng nhiệt y như Mellisa bây giờ, và đã trải nghiệm niềm hân hoan phi thường nhất qua mỗi buổi diễn, dù đó là buổi diễn tập trong gara hay một buổi hoà nhạc ở một khán phòng trường học trước mặt ba trăm đứa trẻ. Rồi vào một buổi sáng hai tháng trước, em thức dậy, thấy rằng hào quang của mọi thứ đều đã tắt ngấm. Đó là một cuộc bừng tỉnh cũng đột ngột như lần mà cha mẹ em đã trải qua. Em tới ăn sáng, cảm thấy không khoẻ nhưng cũng chẳng ốm, và băn khoăn rằng cảm giác ấy khác biệt ra sao khi cảm nhận có gì đó không ổn lắm với bản thân mình mà vẫn thấy chắc chắn mình đang có thể trạng hoàn hảo, nhưng em không biết vấn đề mà em gặp phải có thể là gì cho đến khi em nhận ra cha em kém lôi cuốn đến cỡ nào. Không phải vì cái áo choàng cũ của ông hay cái áo phông cáu bẩn hay thậm chí cả cách ông nói chuyện khi miệng đầy trứng ra sao; sáng nào ông cũng mặc những đồ ấy, và ông luôn vừa ăn nhồm nhoàm vừa nói—chỉ đơn giản ông là như vậy. Em cứ nhìn ông suốt bữa sáng, và cuối cùng thì ông cũng hỏi em xem trên mặt ông có gì không. “Không, thưa cha,” em nói, và một giọng nói nhỏ xíu—cái kiểu mà bạn nghe thấy rõ vô cùng ngay cả khi nó chẳng thực sự phát ra—cất lên đâu đó trong em, Ông ấy có sự xấu xí phủ khắp khuôn mặt của mình.

 

Peabo ngồi cạnh Molly trong buổi tối đầu tiên. Molly chỉ mới vừa quen với phần mở rộng của bàn ăn, để có thể ăn tự nhiên bằng tay phải của em thay vì cái tay trái không-đụng-cùi-trỏ-với-Mary. Em đã nói lời giã biệt với cái ghế trống tối hôm trước, khi cha các em thông báo tới toàn thể gia đình rằng các em sẽ có thêm một cậu em trai.

“Luôn ấy ạ?” Chris hỏi, vì Jordan mới chuyển đi được có ba tháng.

“Luôn ấy ạ?” cha các em nói. “Ý con là cuối cùng thì!”

“Con nhớ Jeffrey,” Malinda nói.

“Tên nó là Jordan,” Chris đáp.

“Tên anh ấy là gì cơ?” Melissa hỏi. “Jeffrey à? Elmo à? Sarsaparilla à?”

“Paul,” cha các em trả lời, và mẹ các em nói, “Paul Winner,” và Chris tiếp, “Vâng, con cá rằng nó là một người chiến thắng (ND: winner)  thực thụ.” Colin đập tay với nó, và kết cục là cả hai đứa bị tống cổ không được ăn nữa, ghế của chúng xoay về phía tường, mặt chúng cúi gằm vào lòng, còn đồ tráng miệng của chúng thì được chia cho Mary mũm mĩm và Craig béo ú.

Chris và Colin ngồi ở góc bàn khi các thành viên khác nói lời tạ ơn. Mary bắt đầu trước tiên và lặp lại những điều hiển nhiên: em biết ơn vì có vị khách mới; em biết ơn vì sự toàn vẹn của cuộc đời Peabo và cho cả tâm hồn của em ấy. Mary luôn nói đại loại như thế. Dựa vào việc vai của Colin ngọ nguậy, Molly biết ngay thằng nhóc này đang chọc một ngón tay vào mồm để tự bịt miệng bản thân. Clay biết ơn vì đàn guitar của nó đã được lên dây. Craig thì biết ơn vì màu đỏ thẫm. Malinda biết ơn nốt nhạc của gam Rê giáng, còn Melissa thì biết ơn vì lông thú, nhưng, khi bị cha các em ép phải cụ thể hơn, em nói, “Những sinh vật lông lá.” Lát sau Molly hơi hoảng một chút xíu khi tới lượt mình. Có quá nhiều thứ để cảm thấy biết ơn—toàn bộ mấu chốt của việc ai đó thốt ra lòng biết ơn của mình chỉ có vậy thôi. Chuyện này sinh ra vốn dĩ dễ dàng, một lời nhắc nhở hằng đêm rằng hồng ân cả hữu hình lẫn vô hình ngập tràn khắp quanh cuộc sống của mọi người. Nhưng đôi khi, tại bởi quá hồi hộp, Molly chẳng nghĩ nổi ra bất cứ điều gì, và thi thoảng những thứ bất chợt hiện lên trong đầu em lại không phải những điều em lẽ ra nên biết ơn: cái cách mà hai bên ngực em bằng nhau chằn chặn, trong khi Mary và Malinda trông như thể tụi nó có bốn bầu vú mỗi cái một kiểu để trao đổi cho nhau vậy; cái cách em thả toàn bộ khối lượng cơ thể lên cái mỏm thon thon trên yên xe đạp; cái cách mà mắt phải của Jordan hơi thiếu cân xứng so với mắt trái của nó. Và gần đây thì giọng nói vẫn đang lên tiếng với em, nên khi em nói to, “Lông tơ bồ công anh,” hay “Những đốm đen trên cánh của con cánh cam,” giọng nói sẽ bảo sự nghèo túng, hay bệnh sởi. Em nói, “Cái dĩa (ND: nĩa) này,” và giữ chặt nó, như thể nắm chắc cái dĩa như vậy có thể giúp em khỏi nói “Lỗ đít con.”

Peabo im lặng suốt bữa tối đầu tiên. Colin đã dự đoán rằng nó sẽ đói ngấu và sục sạo để vét sạch đĩa mọi người, nhưng nó gần như không ăn gì, thử tất cả các món và chẳng ăn hết món nào nhưng rất lịch sự khen ngợi cả bữa ăn. Molly quan sát nó, mong đợi nó cầm đĩa lên và lúc lắc nó về phía em, nhưng nó chỉ nghiêng đầu khi bắt gặp ánh mắt em. Cả gia đình thực hiện buổi chuyện trò theo thông lệ cho mỗi bữa-tối-đầu-tiên. Theo hướng dẫn của mẹ các em, các em sẽ dằn lòng không đả động tới những điều kinh dị đã giả thiết sẵn, và không hỏi thằng nhóc bất cứ điều gì về quá khứ của nó, và vì thế nên ý chính của cuộc nói chuyện sẽ đại để như kiểu “Anh thích khoai tây, Peabo. . . . Em có thích khoai tây không?” Thằng nhóc lúc nào cũng trả lời những câu hỏi này theo cùng một cách, với một cái gật đầu nghiêm nghị và “Em có.” Molly vẫn cứ nghĩ tới những giả thiết kinh dị. Thằng nhóc có một vết bỏng ở tay trái mà em nhận ra ngay lập lức, và mặc dù em không nhìn chằm chằm vào thằng nhóc, em tự hỏi làm sao mà nó lại bị như vậy, và có một vết sẹo ở cổ đã lành nhăn nheo và dày cộp.

Tương đương với việc đề nghị rằng các em đẩy Chúa Jesus ra khỏi nhà là việc nói rằng nên có một cái kết cho dòng anh chị em nuôi bất tận cứ đến và đi thường ngồi cạnh em trong khoảng bao lâu mà em có thể nhớ được. Nhưng em tự hỏi nếu việc ấy làm giảm đi tổng khối lượng nỗi đau khổ của bất kì ai để giữ thằng nhóc lại quanh đây trong vài tháng ở một tình trạng mà cuối cùng thì không giúp được ai, thì cũng chẳng thay đổi được cuộc đời ai nốt, và sẽ chỉ thu xếp được đôi ba việc trong chốc lát mà thôi. Nhưng thế thì cũng giống như việc tự hỏi rằng có nên dừng chơi nhạc và ca hát hay chăng, vì những bài hát của họ trong thực tế chẳng hề chạm được vào trái tim mọi người và khiến họ yêu thương chính mình, lẫn nhau và cả Chúa Jesus, người là trung gian của tất cả tình yêu dưới mọi hình thức, tình yêu cơ quan thanh toán bù trừ(2) và tình yêu bo mạch điện tử. Nhìn thằng nhóc mới tới, em nghĩ có thể sẽ dễ hơn cho mọi người nếu nó cứ thế mà bỏ đi ngay bây giờ, và em đợi giọng nói thêm thắt mấy lời hằn học và tàn nhẫn vào suy nghĩ ấy. Em cứ đợi và đợi, nhưng chẳng có gì hiện ra, và khi thằng nhóc liếc nhìn em lần nữa và bắt gặp ánh nhìn chăm chú của em, em bỏ một miếng xúp lơ vào miệng rồi nhìn vào lòng mình.

 

“Tên gì mà lạ thế,” sau đó Mary nói, khi bốn đứa con gái ở trong phòng tắm sửa soạn cho giờ đi ngủ. “Peabo. Pea . . . bo.”

“Đó là tên cho chó,” Malinda nói. “Đây mà, Peabo. Đây mà, cu!”

“Đây mà, mèo con ơi!” Melissa nói, rồi nghĩ một thoáng và thêm, “Có ‘pee’ (ND: tè) ở trong đó. Em cá là tên lót của anh ấy là Doody (ND: tiếng lóng, nghĩa là phân).” Cô bé tạo dáng trước mặt Mary và giơ tay lên. “Xin chào, tên tôi là Pee Doody. Bạn đi-nặng khoẻ chứ? (ND: nguyên tác tiếng Anh ‘How do you doo-doo?’, lời chào xã giao nhưng dùng tiếng lóng với hàm ý trêu chọc, ở đây tôi không tìm được cách diễn đạt tương đương trong tiếng Việt)” Mary vỗ vào tay con bé, còn Melissa thì cười sằng sặc. Đó là điều thường thấy, bình thường và theo mong đợi như với những câu hỏi trong bữa tối, hay cho đứa trẻ mới tới bắt đầu với trống lục lạc—toàn những chuyện đã từng xảy ra trước đây, và tất cả sẽ còn lặp lại, cái đụng chạm của sự cay nghiệt ngay lúc bắt đầu, sự đi-nặng tương đối trong sáng mà lại thiếu đi nọc độc sâu thẳm. Những điều này sẽ từng chút từng chút một biến mất, và những tiếng cười khúc khích nhạo báng sẽ được thay thế bởi vẻ tròn mắt khâm phục, một hình ảnh toả sáng chậm rãi mà rất có thể bị bỏ lỡ nếu nó không phải là một phần của vòng quay anh chị em nuôi bất diệt. Molly dừng lại khi đang đánh răng để thở hắt ra.

“Sao đấy?” Malinda hỏi.

“Không có gì,” Molly nói, bởi vài tháng nay Malinda đã hoàn toàn bị thuyết phục rằng Molly nghĩ rằng em ấy giỏi hơn tất cả mọi người, và Malinda tự nhận lấy trách nhiệm phải dạy cho Molly thấy rằng thật phi-Công-giáo và xấu tính thế nào khi mà đi loanh quanh và thở dài thậm thượt để mọi người biết rằng mày đang thấy nhàm chán bởi chính sự nổi trội của mày. Tất nhiên là hoàn toàn không phải như vậy. Molly thực ra cảm thấy mình khá kém cỏi, so với các anh chị em còn lại—chỉ vì em luôn cảm thấy bất đắc dĩ tham gia thoá mạ bọn họ không có nghĩa là em cho rằng mình giỏi hơn ai cả. Nhưng em chẳng kể cho Malinda nghe.

“Sao đấy?” Malinda hỏi lại lần nữa.

“Tên lót của nó là Bo,” Molly nói. “Em thấy hồ sơ của nó trên bàn Cha. “B-O. Paul Bo. P. Bo.”

“Em thích nó.” Mary nói, mỉm cười.

“Em lẽ ra không được xem những thứ trên cái bàn ấy,” Malinda nói.

“Molly và Doody,” Melissa hát, “ngồi dưới gốc cây gì.”

“Nó sẽ không trụ nổi một tháng đâu.” Molly nói. Em rửa sạch miệng và đặt bàn chải đánh răng vào chỗ đánh-dấu-bằng-màu của em—xanh lam—trong khay đựng, và đi vào phòng ngủ của mình. Nhờ bốc thăm mà năm nay em được ngủ phòng riêng; các chị em còn lại ở chung một phòng. Malinda nói rằng việc có phòng riêng đã làm Molly thấy mình trên cơ hẳn.

Em tắt bỏ ánh đèn, lờ đi cả bài học thường ngày lẫn bài học đặc biệt về Kinh thánh của em, lờ cả việc quỳ bên giường mà cầu nguyện, và chỉ cầu rất quấy quá (dù không hề không chân thành) một lời chúc phúc thầm lặng cho tất cả thành viên trong gia đình, lật giở khuôn mặt họ qua đầu em như một bộ bài, thay vì biến mỗi người họ trong tâm trí em thành một bức tượng con con. Em để tâm tới thằng nhóc mới tới sau cùng, hình dung ra nó trên một lá bài cho riêng lẻ, trong tư thế chơi trống lục lạc, ở giữa nhịp lắc và giữa bài kinh tạ ơn hay hăm doạ, bất kể điều gì đi chăng nữa, và em để tâm trí mình tĩnh lặng trong khoảnh khắc trong khi em giữ lấy hình ảnh về thằng nhóc, như thể mời gọi giọng nói phát biểu điều gì đó tàn nhẫn về nó. Nhưng rồi lại chẳng có gì xuất hiện. Với những thành viên còn lại của gia đình, em cầu cho nọ được hạnh phúc và sống lâu, và họ sẽ cùng được lên Thiên đường nếu họ có cùng chết trong đêm ấy bởi một trận động đất hay một trận hoả hoạn (và em tưởng tượng chóng vánh họ được chôn cất dưới đất, cùng mái tóc cháy khét). Với thằng nhóc, em chỉ cầu cho sau tất cả thì mọi thứ ở đây sẽ xảy ra suôn sẻ cho nó. Rồi em ngủ.

Khi em thấy thằng nhóc đứng ở chân giường em, ý nghĩ đầu tiên của em là thật kì lạ khi mơ thấy nó, nó thú vị chứ đâu có hấp dẫn, và buồn bã chứ không hề gây phiền muộn. Em nhìn nó một lát trước khi nhận ra em đang thức. Em ngồi dậy. “Cậu làm gì ở đây vậy?” em hỏi. Để trả lời, thằng nhóc thực hiện một chuyển động bùng nổ, vung tay hướng lên và ra ngoài ba lần, vỗ vào gót, và xoay tại chỗ. Em rùng mình nhưng không hét lên; nó làm lại thêm lần nữa, và rồi cái gì đó phức tạp hơn và khó theo dõi hơn, rồi em cũng theo dõi được, và ghi nhớ mọi cử động, cú chỉ tay và cú xoay, cái cách thằng nhóc làm súng đôi bằng tay và khai hoả bắn khắp quanh phòng em và rồi thổi làn khói tưởng tượng từ nòng của khẩu súng lục ngón tay của nó, những cú nhảy trong không trung và màn solo guitar không khí ngắn gọn và mỗi chuyển động gãy gọn của điệu nhảy robot. Thằng nhóc mỉm cười với em khi nó hoàn thành. Em nhìn lại nó, không cười, chăn kéo tới tận cằm, và quan sát nó nhảy ra khỏi phòng em, thực hiện những cú moonwalk hoàn hảo ngay phía ngoài cửa, mà nó vẫn để mở. Em nhìn về phía cửa mở một lúc lâu, xem xét bằng chứng chuyện thằng nhóc đã ở đây, vì em luôn đảm bảo mình đóng cửa mỗi đêm trước khi lên giường, và cố nghĩ xem em nên nói gì với chính mình về chuyện em mới vừa chứng kiến. Em không biết phải nói gì, nên thay vào đó, em chờ đợi giọng nói hậm hực, không thoả mãn trong em nói gì đó, hoàn toàn mong ngóng điều đó hiểm ác và đê tiện hơn bất cứ điều gì mà nó chưa từng dám nói ra. Nhưng những lời, khi xuất hiện, lại là Nhảy đẹp lắm.

 

Em ngẫm về các động tác ấy khi hôm sau ngồi cùng mẹ và các chị em gái may trang phục biểu diễn cho video mới. Mọi người làm trong gara, nơi duy nhất trong nhà có chỗ trống đủ rộng để trải vải ra sàn, dù hôm nay công việc là đính vảy trang kim lên mấy bộ jumsuit, tất cả ngồi khoanh chân trên những tấm đệm lấy ra từ ghế sofa rời trong phòng khách. Em đã tự hỏi, cho tới khi em hoàn toàn say ngủ, liệu em có nên tố cáo thằng nhóc. Dường như đó là nghĩa vụ của em, sau tất cả, để trao cho thằng nhóc bất kì sự giúp đỡ nào mà nó cần để giữ nó đừng trở thành vị khách không mời giữa đêm bước vào phòng của những anh chị em xa lạ. Và có thể em phải tố cáo nó vì lợi ích của chính em, bởi biết đâu ẩn trong thằng nhóc là hàng cơ số hành vi xấu, mà vũ khúc ngắn ngủi ấy mới chỉ là khúc dạo đầu duyên dáng và dễ chịu của một quãng đời lệch lạc.

Và quả thật mới chỉ là một vũ khúc ngắn ngủi. Đó là tất cả những gì thằng nhóc đã làm. Có những gia đình Công giáo coi đó là một tội lỗi, nhưng gia đình này không nằm trong số đó. Đại loại có một dạng vi phạm nào đó; em chắc chắn như vậy. Nhưng chính xác là gì thì chẳng rõ ràng chút nào. Mà dù có là gì, bị tống cổ ra khỏi nhà chỉ trong ngày thứ hai của nhiệm kì có vẻ là quá gay gắt cho một hình phạt, và đó là chuyện có khả năng sẽ diễn ra, vì em biết cha em sẽ lưu tâm đến vấn đề với sự tinh tế ít hơn đáng kể so với em. Em phát hiện ra mình quan tâm tới chuyện thằng nhóc có mắc kẹt lại ở đây hay không, bởi thật tốt khi nghe thấy giọng nói nói ra điều mà em có thể đồng tình. Có lẽ, em nghĩ, sự thống trị của những lời chế nhạo cay độc đã qua đi và em đã lại có thể làm người tốt.

“Tập trung vào, con yêu,” mẹ em nói, em sắp khâu miếng trang kim hình cá vào mặt sau của cái jumpsuit khoá kéo sau lưng, một mảnh màu xanh dương. Đám con gái đã thua trong cuộc tranh luận với cha các em về việc mấy con cá nên được sắp đặt thế nào. “Lũ cá luôn bơi cùng hướng,” ông nói. “Lên trên, hướng về phía Chúa Jesus.” Hẳn sẽ thoả mãn lắm, Molly nghĩ, nếu cho bọn nó quay loạn các hướng lên.

“Con xin lỗi,” Molly nói. Mẹ em đưa cho em cây gỡ chỉ, rồi Molly bắt đầu gỡ các mũi khâu, nhưng em đang tưởng tượng ra Peabo nhảy múa trong một bộ đồ cá bơi ngớ ngẩn. Mẹ em vẫn nhìn em khi em đưa trả bà cây gỡ chỉ.

“Chà?” mẹ em nói.

“Sao ạ?”

“Chỉ có con là chưa chịu tâm sự,” bà nói. “Mèo lấy mất lưỡi của con rồi hả?”

“Dạ?”

“Chà, con nghĩ thế nào về sự bổ sung mới nhất cho gia đình mình?”

Molly nhún vai. “Cậu ta có vẻ tốt,” em nói.

“Và?”

Molly lại nhún vai.

“Và con bé này quá kiêu kì nên nó sẽ không chia sẻ quan điểm đâu ạ,” Malinda nói. Mẹ em suỵt Malinda trật tự bằng một cái vẫy tay. “Mary,” bà gọi, “Nói cho em con biết em đang sống trong kiểu gia đình nào?”

“Một Liên Hiệp Người Công Giáo Dân Chủ,” Mary trả lời, chẳng buồn nhìn lên, vẫn chú tâm vào công việc.

“Và một Liên Hiệp Người Công Giáo Dân Chủ thì dựa trên điều gì?” Bây giờ bà quay sang Malinda, nhưng Molly nghe thấy giọng nói trả lời trước tiên: Mỗi công dân đều xấu xí đến hoàn hảo và nhàm chán cũng đến hoàn hảo.

“Sự cởi mở và giao tiếp yêu thương trung thực về thông tin được chia sẻ bình đẳng giữa tất cả các thành viên,” Malinda nói. Molly thở dài, và Malinda lườm em, nhưng em thở dài với giọng nói, không phải với chị gái em.

“Cho nên,” mẹ các em nói với Molly. “Một lần nữa nào, với cảm xúc nhé!”

“Có chuyện gì tồi tệ từng xảy ra với cậu ấy hả mẹ?” Molly hỏi.

“Những điều tồi tệ xảy đến với tất cả chúng ta,” mẹ em trả lời.

“Điều gì cực kì tồi tệ,” Molly tiếp. “Điều gì bi kịch ấy?” Em chưa đọc được gì nhiều hơn ngoài trang đầu tiên của tập hồ sơ trên bàn của cha, và không biết liệu có khi nào họ đưa những chuyện như vậy vào đó không, một bảnh danh sách những vấn đề trong đời thằng nhóc: mẹ chết, cha chết, bị dì đánh đập, phải lao động cực nhọc, bị trừng phạt bằng những vết bỏng.

“Không phải ai cũng có thể gặp may mắn như em đâu,” Malinda nói.

“Hoặc như con,” mẹ các em nói. “Hay con hay con hay con hay con.” Bà chỉ vào từng đứa, rồi lại chỉ vào Malinda thêm lần nữa, và rồi bà gợi ý rằng mọi người lấy chuyện này làm cơ hội để nói ra tình yêu của mình, thế nên Molly quay sang phía Mary và Melissa và nói, cuối cùng chịu đựng cái ôm cứng đờ của Malinda.

“Chị yêu em,” Malinda nói, dựa vào gần để thì thầm, “Mặc dù em đúng là đồ kinh tởm.”

“Em cũng yêu chị,” Molly nói, em cố gắng hết sức thể hiện ý mình đúng như thế.

 

Sau đó, suốt buổi tập chiều, em cứ mong Peado nhảy lại điệu ấy lần nữa. Nhưng hôm nay thằng nhóc bắt chước y hệt theo em, thực hiện những bước một-hai, một-hai hoàn toàn khớp với em, và hát đúng tông trong đoạn sáng tấc riêng của album mới, chính là lý do mà mọi người phải tập luyện hàng ngày, may đồ biểu diễn, và giữ kín cái video. Họ sẽ bắt đầu tour diễn trong hai tuần nữa.

“Khúc Ballad của Đám mây Nồng ấm” là ca khúc phức tạp nhất mà cha em từng viết. Nó không có nhiều hơn bốn hợp âm thường thấy, nhưng nó dài bảy phút, và lời hát kể một câu chuyện hẳn hoi. Chuyện cổ tích về Đám mây Nồng ấm và cuộc chiến với Cầu gai Lạnh lẽo(3) được mở ra trong mười hai đoạn, với một nửa gia đình khiêu khích các thành viên còn lại trong bài hát. Peabo, cùng Molly, thuộc nhóm Cầu gai.

Suốt cả ngày, Molly quan sát thằng nhóc sát sao hết cỡ mà em dám, chấp nhận em bị Malinda giám sát chặt chẽ thế nào để tìm bằng chứng vụng trộm hay sự thiếu thiện chí với thằng nhóc. Mẹ em nói với cả bọn rằng Chúa Jesus sẽ giúp chúng tới một nơi mà chúng không thể thấy thằng nhóc là người da đen, rằng tình yêu hoàn hảo thì đi kèm với bệnh mù màu toàn diện, nhưng mỗi khi Molly thấy nó đứng cạnh một trong số anh chị em của em thì em chỉ nhận ra có mình nó, nó trông mới thật khác biệt làm sao. Da đen thật đẹp, giọng nói cứ tiếp tục nói, khiến em phải lắc lắc cái đầu.

Thằng nhóc nói chuyện với em giống hệt như cách nó nói chuyện với lũ con gái, lịch sự và không bao giờ kéo dài. Nó bỡn cợt và đùa nghịch với đám con trai, và có vẻ như đã thiết lập ngay lập tức tình bằng hữu với chúng đến nỗi đã đính chính lại cái nhìn xa cách mà nó tạo ra cho mọi người trong suốt buổi tập và bữa tối đầu tiên. Em quan sát nó chơi với các anh em trai. Cứ như thể là có hai thằng nhóc mà chúng chẳng bao giờ đồng thời hiện diện. Một thằng nhóc đột nhập vào phòng em để giới thiệu vũ khúc ngắn ngủi của nó cho vai diễn của em, một thằng nhóc vật tay với Craid và giải phương trình đại số cho vui với Colin. Em có thể hiểu được nếu có hai thằng nhóc ở trong nó, bởi em vẫn cảm thấy có hai cô bé ở trong em, một cho giọng nói bình thường nói những điều bình thường về mọi người và một phát biểu thứ ngôn ngữ dành riêng cho những lời sỉ nhục nhẫn tâm. Nếu em nhìn vào tấm gương trong phòng tắm đủ lâu, em nghĩ em có thể nắm bắt được những đặng điểm chồng lẫn của cô bé kia trong ánh đèn nháy chớp tắt trên đầu em: mắt cô bé ấy nhỏ và mũi thì hếch lên như mũi lợn, miệng cô ta là một vết thương không màu trên khuôn mặt. Một lần Malinda bắt gặp em nhìn vào chính mình như vậy và nói, “Em nghĩ mình xinh lắm phải không?”

Molly vấp nhịp, và vào điệp khúc bị chậm.

Bạn có phải một đám mây nồng ấm chăng?

Bạn có phải một đám mây nồng ấm chăng?

Bạn sẽ trở thành một đám mây nồng ấm chăng?

Hay một trái cầu gai lạnh, lạnh, lạnh, lạnh giá?

Ban đầu, có vẻ như không ai nhận ra em lỡ một nhịp—dù sao cũng chỉ có Chris là người duy nhất thường để ý—cho tới khi Peabo cũng mắc lỗi y hệt, chỉ duy chệch một nhịp, nhưng không nhìn em. Thằng nhóc lại mắc lỗi: thêm một nhịp lỡ.

Em lỡ một nhịp trước, rồi cài một nhịp bổ sung vào cuối đoạn tiếp theo, và suốt cả phần còn lại của bài hát cả hai thay phiên nhau lỡ hụt rồi thêm thắt, có một cuộc trao đổi trên và dưới và quanh bài hát mà chẳng một ai, ngay cả giọng nói hằn học trong em, có thể hiểu được, và nó xảy tới với em, chỉ ngay trước khi bài hát kết thúc, rằng hai đứa đang nói chuyện bằng trống lục lạc.

“Vượt ngoài mong đợi!” cha các em nói, bởi lần đầu tiên các em đều đồng loạt dừng chơi đều nhau, tất cả đều theo được bản nhạc và không đứa nào quên lời bất kì đoạn nào; ngay cả điệu nhảy rũ rượi của Melissa cũng duyên dáng hơn hẳn thường khi. “Người đang hiện diện. Người đang hiện diện. Vượt ngoài mong đợi!” ông nói. Peabo khẽ gật đầu khi mọi người bỏ nhạc cụ xuống và bắt đầu trao cho nhau những cái ôm, việc mà họ vẫn thường làm cuối mỗi buổi tập, mặc dù lúc này họ mới chỉ đi được nửa chặng đường. Có một khoảnh khắc trong những lần như vậy mà Molly thực sự trân trọng vài tháng trước. Mọi người đang ôm nhau với sự phó thác nghẹt thở, hoàn toàn đồng điệu với nhau trong tình yêu âm nhạc, thêm lần nữa, ngày hôm nay, và Chúa Jesus, hẳn rồi. Chúa Jesus, Chúa Jesus, Chúa Jesus, Molly nói với chính mình, còn giọng nói lại nói Mariah Carey, Mariah Carey, Mariah Carey, chuyện này đem lại một cảm giác cảnh báo mới mẻ và bức thiết tới nỗ lực chân xác nhận thứ mà họ đang cảm nhận, và với đôi mắt khép hờ, em cố gắng cảm nhận điều đó bằng sức mạnh chân chính của ý chí. Em căng ra, và có một cảm giác hiện lên trong em như bong bóng nở to, rõ ràng như ban ngày khi có một hình ảnh trong đầu mình: một con thằn lằn nằm phơi nắng trên tảng đá, trông thật khoan khoái và trôi dần vào xa xăm.

 

Tối hôm ấy cả nhà đi nhà thờ. Molly ngồi đó, nhìn quanh mà chẳng quay đầu. Ở đây còn tệ hơn, bị vây hãm xung quanh không chỉ bởi gia đình mà còn bởi toàn thể giáo hội, cô Louque tóc tai bờm xờm ở hàng ghế phía trước em và già Landry ở phía sau. Nhà thờ, to như một cái nhà kho công nghiệp, bởi trước đây nó từng được dùng làm nhà kho, chật kín những người tốt, người bình thường khiến em phát xấu hổ vì tính đại diện của họ. Trên sân khấu, Đức cha Duff là điểm sáng bởi chất giọng của mình. Từng có một giáo sĩ mang tên Fudd, nó hát lên, và em cố thực hiện biện pháp tinh thần tương đương là lấy ngón tay bịt tai và hát la la la.

Đó là một kiểu thời khắc của Chúa Jesus khác với khi cả nhà từng đạt tới trong cái hôm ở nhà, nhưng sự thất bại của Molly cũng tồi tệ hệt như vậy. Mẹ em đang run rẩy và rên rỉ, cha em đang lắc lư và ho sằng sặc, các anh em trai em đang ngáp còn các chị em gái của em đang ỉ eo như mèo, và phía ngoài họ, cả giáo hội cũng trở nên phấn khích giống như vậy, và Molly lẽ ra nên lắng nghe, sau đó, khi tất cả mọi người đều nói về bài hát mới tuyệt vời với họ làm sao khi họ cất tiếng nói tâm hồn theo cách ấy. Em nhắm cả hai mắt, rồi he hé một mắt để nhìn Peabo, đang đứng lặng thinh kế bên em. Bài thơ năm câu về Đức cha Duff bỗng ngập ngừng và rơi vào thinh lặngkhi em quan sát thằng nhóc. Trông nó không ngu ngốc như những người khác, giọng nói lên tiếng, cùng lúc khi em nghĩ, Trông nó không ngu ngốc như mình. Molly nhìn lên đầu cô Louque. Cô ấy đang nhảy tại chỗ như một bé gái.

Tập thánh ca của các em chạm vào nhau và khuỷu tay các em chạm vào nhau và đầu gối các em chạm vào nhau. Nhưng Peabo không nhìn em, và thằng nhóc hát thánh ca mà không có bất cứ nốt hay âm tiết thêm thắt nào có thể sắp xếp thành một lời nhắn gửi. Khi đến lúc trao cho nhau tình thương mến, nó quay sang phía mẹ em, và ôm Colin và Chris và Clay và cha em, và nó với qua em để ôm Mary, nhưng nó chẳng buồn liếc mắt tới Molly. Thật rõ rành rành, em tự nhủ, rồi em thử nghĩ xem có cách giao tiếp thông minh nào đó với thằng nhóc. Tất cả những gì em nghĩ ra được là xé một mẩu từ một trang trong một tập thánh ca và gấp thành hình con rắn, biểu thị một điều gì đó, mặc dù em cũng không dám chắc là điều gì. Thất bại của em trong việc tưởng tượng ra điều đó khiến mọi thứ trở nên vô dụng và xuẩn ngốc, và em đoan chắc, bất thần, rằng em đã tưởng tượng ra lợi thế độc đáo của thằng nhóc. Em nhắm mắt lại, lúc lắc đầu, và nhận ra mình muốn hét lên thật to.

Hết lên thì cũng tốt thôi. Bạn hoàn toàn nên biểu đạt tâm hồn mình mỗi khi cảm nhận đc nó. Điều này thường khiến bọn con nuôi ngạc nhiên, mặc dù các em đã được giải thích vắn tắt trước khi các em đến nhà thờ lần đầu tiên. Nhưng thằng nhóc có vẻ như đã mượt mà đón nhận tất cả. Molly làm việc mà em vẫn thường quen, lắc lư qua lại mắt dán lên trần nhà và lẩm bẩm thời gian biểu bằng tiếng pig Latin(4) với chính mình. Em cố gắng tách giọng của các anh chị em mình khỏi những tiếng lao xao. Em nghe thấy Malinda nói gì đó đại loại như “Hoa nhung tuyết!” Em nghe cha nói “Omalaya!” và mẹ em nói “Paw-paw!” và rồi, cuối cùng, em nghe thấy Peabo, ngay kế bên em, nói gì đó nghe như “Tôi yêu bạn tôi yêu bạn tôi yêu bạn tôi yêu bạn.” Có chất điện tử, biến đổi trong giọng nói của thằng nhóc. Em không mở mắt, hay nhìn nó, nhưng em biến những từ ấy thành thời gian biểucủa mình. “Tô-ay oyê-lay obbb-nay.” Em cứ tiếp tục với những âm oooh-yays cho đến tận giây phút cuối cùng, khi đám đông dời ra ngoài, và bản thánh ca cuối cùng khởi đầu chậm rãi, được cất lên khắp nơi quanh đại sảnh bởi những người đã hồi phục đủ để có thể hát. Khi em mở mắt, em thấy Peabo đứng thẳng thắn và cao ráo cạnh bên em, miệng mở to theo bản thánnh ca, vừa hát vừa rống lên.

Đêm đó, em tới phòng thằng nhóc, sau khi chắc chắn mọi người đều đã ngủ. Đó là một căn phòng nhỏ mà đứa con nuôi nào cũng ở qua, không hẳn là một cái phòng ngủ, không có gian thay đồ mà chỉ có một cái tủ quần áo. Có một cái tủ ngăn kéo và một chiếc ghế nhỏ, nhưng chẳng còn chỗ cho đồ gì khác ngoài một chiếc giường đơn. Cái màn đang mở, và nhờ ánh đèn đường mà Molly có thể thấy Peabo nằm dài trên giường, trên tấm chăn, trong bộ đồ ngủ. Em đứng nhìn từ cửa trong khoảng đâu chừng năm phút, nhưng em không rõ mắt thằng nhóc đang nhắm hay mở.

Em chẳng nói gì, vì lúc trước thằng nhóc đã chẳng nói gì, có vẻ như sẽ là chơi ăn gian nếu sử dụng ngôn từ. Dù sao em cũng không biết em sẽ dùng ngôn từ gì, dù em biết rõ điều mình muốn nói. Em gửi lời nhắn: chạm, chạm, thụp xuống, đá, nhảy bật lên, nhảy bật lên, nhảy bật lên, mỗi lần lại cao hơn một chút, mà không quá cao, vì phòng thằng nhóc ở ngay trên phòng cha mẹ em. Nhưng em lên đủ cao để đá chân—một, hai, ba lần—và khi em nhẹ nhàng tiếp đất em thu mình trong tư thế squat và rồi bật tung người lên. Đây là một động tác trong video cho bài “Chúa Jesus Yêu Bạn Hơn.” Hai tay em lẽ ra sẽ vươn ra, và rồi thõng xuống, ngón tay rung rinh, ở bên mình. Nhưng vẫn cái không-phải-một-phần của em lên tiếng bằng chất giọng không phải là giọng nắm quyền kiểm soát mọi thứ khi em đang căng mình, hai tay em mở lên đỉnh đầu, chạm thành hai con chim con hoàn hảo “Địt mẹ”, không nhắm vào Peabo mà là cả thế giới này.

Thằng nhóc không hệ cục cựa trong khi em nhảy, cũng không dài lắm. Điệu vũ của em ngắn hơn của thằng nhóc, và em đi-bình-thường, không đi kiểu moonwalk, ra khỏi phòng. Trở lại giường mình, em tự hỏi liệu thằng nhóc có thức giấc chút nào, không chắc liệu có đáng thất vọng không nếu nói chuyện với nó sau một thời gian dài như vậy, giờ thì cả hai đã giao tiếp với nhau ở một mức độ cao hơn nhiều. Em hình dung mọi chuyện sẽ cứ thế này mãi mãi, xuyên suốt vai trò anh chị em nuôi và cả con nuôi thành công rực rỡ của thằng nhóc, xuyên suốt những đám cưới và những lần gia đình tụ hội và cả những đám tang, vận hành song song vượt qua những cột mốc này sang cột mốc khác của gia đình. Em tưởng tượng cả hai trong đám tang Malinda, khẽ leng keng mấy cái trống lục lạc với nhau, truyền đạt những sắc thái buồn thương và ai oán không tồn tại trong những lời chia buồn trần tục của người đời. Em đã gần chìm vào giấc ngủ, và em chắc mẩm em sắp sửa tiến vào một giấc mơ mà ở đó, biết rằng mình đang mơ, em có thể thưởng thức cái chết của Malinda, và nói những điều đại loại như “Không, tôi chẳng nhớ nhung gì chị ấy sất,” khi em cảm thấy tấm đệm bị lún xuống, và giật mình choàng tỉnh.

Thằng nhóc đang ngồi trên giường em. “Cậu có muốn thấy Chúa Jesus của tớ không?” nó hỏi em.

 

“Bóng tối,” Dì Jean nói. “Và ánh sáng! Ánh sáng . . .  và bóng tối!” Dì ấy đang trang điểm cho Molly quay video, vẽ đen nửa mặt em còn nửa còn lại thì trắng cho phần ý tưởng của buổi quay, mà cả gia đình lần lượt tham gia thể hiện diện mặt đen và diện mặt trắng của họ hướng về phía camera khi hát trong một “mộng giới” chia ô bàn cờ đen-trắng. Đó là một tấm phông mà dì Jean tự mình tô màu bằng một cái bút dạ bốc mùi. Melissa, khăng khăng đòi được hoá trang xong trước tiên, cứ tò mò hít ngửi nó. Dì Jean dừng lại trước mặt Peabo, một tay cầm hũ đồ trang điểm, và nói, “Sao mà, mảng tối đã có sẵn ngay đây rồi, phải không nhỉ?”

“Vầng,” thằng nhóc trả lời, trao cho dì cái nhìn trung dung. Cuối cùng, dì vẽ mặt cho nó y như mọi người, nhưng diện tối thì tối hơn, và mảng trắng thì chói mắt hơn, so với tất cả mọi người.

“Lạnh,” dì Jean nói, ngửa đầu ra sau và đưa tay lên để thực hiện mấy chuyển động mô phỏng cái miệng đang hát lích chích, với bàn tay đó, dì chỉ cho lũ trẻ xem mảng mặt đen của mình. “Ấm!” Dì xoay mạnh trên gót chân để khoe mọi người diện mặt trắng của dì. Molly chắc mẩm rằng toàn bộ hiệu ứng, với phông nền kẻ ô và những khuôn mặt Kabuki(5) quay quay của cả nhóm, sẽ làm cho mọi người chóng mặt, hoặc khả dĩ khiến họ lên cơn co giật, nhưng em chẳng nói ra. Giọng nói cũng chẳng ừ hử gì. Im lặng suốt cả ngày. Dù gì em cũng không thực sự quan tâm nếu có ai đó bị co giật. Em không thực sự quan tâm nếu em chơi tốt, trong suốt những đoạn có ban nhạc mặc đồ trang kim cá trong video, khi dì Jean trượt patanh quanh gara mắt dí sát vào máy quay. Em không quan tâm em có giữ được nhịp không, và em cũng chẳng quan tâm nếu Peabo làm được. Nếu thằng nhóc quăng vào mặt em những nhịp điệu duyên dáng, em sẽ lờ đi.

“Mọi thứ sẽ đổi khác, sau khi cậu thấy Người,” thằng nhóc đã nói, và quả thật như vậy. Molly đã cố ngủ mà bất thành, Chúa Jesus đu đưa ở một cung năm-giây trong tâm trí em đong đếm hàng phút cho tới tận lúc bình minh, em cố nhìn nhận xem làm sao mà em lại có thể không hiểu điều thằng nhóc thực sự muốn nói, và em mường tượng ra mình trong một phiên toà trước gia đình mình, Malinda ngồi ghế thẩm phán và những người còn lại trong bồi thẩm đoàn. “Con nghĩ ý cậu ấy là cậu ấy sẽ chia sẻ Chúa Jesus của cậu ấy với con. Chúa Jesus của riêng cá nhân cậu ấy. Trải nghiệm của cậu ấy về Chúa Jesus.” Và nó đã trở thành sự thật khi một phần trong em nghĩ rằng điều đó chính là trường hợp đã xảy ra,và cũng chính phần ấy tự hỏi sẽ ra sao đây nếu cho thằng nhóc xem Chúa của em. Em chỉ có thể tưởng tượng ra hình ảnh rõ rệt nhất, mở toang lồng ngực mình để cho thằng nhóc thấy hình dáng chân thật của trái tim em.

Mọi thứ trông vẫn thế. Cha em trông vẫn thế, ca hát với đôi mắt nhắm nghiền và quạt vẫn bốn hợp âm ấy trên cây guitar của ông. Mẹ em trông vẫn thế, uyển chuyển nhảy tại chỗ. Chris và Craig và Colin trông vẫn thế, và Clay trông vẫn thế, cằm đẩy ra như một con thằn lằn trong khi chơi guitar bass. Mary đang băm bổ, giống như chị ấy vẫn luôn luôn, trên chiếc đàn keyboard, còn Malinda thì đang loay hoay để mở đc cái miệng tuyệt vọng của chị ấy cho đủ rộng để giọng ca yếu ớt của chị ấy có thể vọng ra. Melissa đang nhảy nhót xung quanh như một đứa ngốc chẳng nắm được manh mối nào về việc có gì dành cho nó, còn Peabo . . . thậm chí chẳng quan trọng Peabo đang làm gì. Tất cả bọn họ đều gớm ghiếc, và em biết, dù không cần soi gương, rằng em xấu xí hơn bất kì ai ở đây. Ngay khi buổi quay video kết thúc, em tìm cha em trong phòng làm việc và kể cho ông.

 

Họ bắt đầu chuyến lưu diễn tại khán phòng Trường New Calvary, họ luôn khởi đầu những chuyến lưu diễn của mình tại đây, bởi nó ở ngay trên phố nhà họ, và bởi nhờ thế mà nó có thể thu hút một đám đông vừa cảm thông lại vừa biết phê bình trên tinh thần xây dựng. Mặc dù về mặt hình thức gia đình đã bỏ qua nhà trường, vị hiệu trưởng vẫn là bạn tốt của cha các em và là một thành viên của nhà thờ, ông ấy cho qua tất cả tờ mẫu đánh giá mà bọn học sinh đã hoàn thành đầy đủ, chấm điểm màn biểu diễn của nhóm nhạc từ một đến mười trong các hạng mục như là âm nhạc, tinh thần hay vẻ đẹp của thông điệp. Hơn một tuần sau sự ra đi của Peabo, vẫn còn đó một khoảng tối trong màn diễn, dù Melissa là đứa duy nhất nói rằng nó nhớ thằng nhóc, rằng các em đã chơi tốt hơn khi có thằng nhóc, và rằng âm nhạc nghe khác hẳn khi thiếu vắng nó. “Đừng có ngu thế,” Malinda nói. “Nó chỉ chơi trống lục lạcthôi mà.”

Cha mẹ các em chỉ nói có điều gì đó do thằng nhóc gây ra đã chứng tỏ kế hoạch mà Chúa sắp đặt để sống cùng các em không dành cho nó, lúc nào cha mẹ cũng nói như vậy mỗi khi có đứa nào bị gửi trả về chỗ cũ hay gửi tới chỗ mới, nhưng đám trẻ ngờ rằng đó hẳn phải là điều gì kinh khủng lắm, vì trước giờ đã làm gì có đứa nào bị gửi đi sau vỏn vẹn có một tuần lễ. “Chị đồ rằng em đã đúng về thằng nhóc ấy,” Malinda nói với Molly. “Nó không trụ nổi một tháng.” Em nhìn Molly chằm chằm.

“Em đoán thế,” Molly trả lời, nhận thấy thật dễ dàng khi nhìn lại chị mình một cách trống rỗng như thể em chẳng có liên quan gì trong việc trục xuất Peabo. Chính xác là dễ dàng hệt như khi em nhìn cha mẹ một cách trống rỗng, cả hai hay từng người, lúc họ hỏi em còn chuyện gì xảy ra nữa không ngoài việc chỉ nhìn. Dì Jean đưa em đi mua sắm, tuy thế dì chẳng mua bất kì thứ gì mà em chọn cho bản thân mình. Sự quan tâm đặc biệt làm lộ ra rằng đã có chuyện gì xảy đến với em, và Molly giấu nhẹm đi cái kẹp tóc an ủi mà dì Jean cho em, sau màn tra hỏi sướt mướt trên xe. “Hẳn là cháu đã phải khiếp hãi lắm!” dì nói, và Molly trả lời, với sự bình thản tuyệt đối, rằng đúng vậy.

Họ bắt đầu với bài “Cây Sung Dâu” rồi sau đó chơi bài “Chúa Jesus Yêu Bạn Hơn” trước khi cha các em chuyện trò một chút với khán giả. Ông không phải là một người giảng đạo, nhưng ông thích truyền đạt những bài thuyết giáo, và ông kể những câu chuyện mang hàm ý biến thông điệp của ca khúc trở thành sự giải thoát trần trụi. Ông đã nói gì đó về các lựa chọn, để dẫn tới bài “Khúc Ballad của Đám mây Nồng ấm,” trong một khoảnh khắc Molly nghĩ mình có thể nghe được sự tĩnh lặng mà giọng nói lẽ ra đang phải sỉ nhục cha em. Nhưng nó đã im lặng kể từ khi Peabo dời đi, cứ như là nó đang hờn dỗi vậy. Em không nhung nhớ gì nó, nhưng em chẳng cảm thấy tốt hơn chút nào khi giờ đây nó đã câm miệng. Em tự hỏi Peabo đang ở đâu. Em đã lảng tránh suy nghĩ về thằng nhóc một cách phi thường, dù vẫn ko thoát khỏi được Chúa Jesus của nó, người luôn bên em ở khắp mọi nơi.  Đó không chính xác là điều mà em không thể nghĩ tới, hay thậm chí em thấy điều đó hiện lên trong những quả dưa chuột hay những củ cà rốt hay những bó hoa hay những quả chuối. Thật khó để miêu tả cách mà nó đeo bám em, một dư ảnh bất tận không thể nhận biết bằng mắt thường.

Nhạc nổi lên mà em không theo; em đã lỡ mất hiệu lệnh của cha. Em vào bài chập, và bình tĩnh lại trong một nhịp điệu vô tư lự. Em nhìn quanh khán giả, thấy mình đang tìm Peabo, nhưng chỉ có ba đứa trẻ gia đen ngồi giữa đám học sinh, chúng đều là con gái. “Chị không nhớ anh ấy à?” Melissa cứ hỏi em mãi. Molly có thể thề là em không nhớ, vậy mà giờ đây em nghĩ em sắp khóc mất rồi. Cũng được thôi. Cha em cho phép rơi nước mắt, đừng nức nở là được, trong khi biểu diễn. Em bị lỡ đoạn điệp khúc trong vòng đầu, chờ đợi nước mắt ứa ra, nhưng chẳng giọt nào xuất hiện, dẫu cho mọi thứ đều nhoà đi và nhấp nhoáng trước mắt em. Gia đình em đang chuyển động quanh em, em chẳng biết tại sao, cho đến khi mọi người chia ra thành hai phe mây và cầu gai. Giọng hát của họ hướng về em, họ nghiêng đầu hỏi em có trở thành một đám mây nồng ấm không, nhưng mặt họ hiện rõ là họ đang hỏi em bị làm sao vậy.

Con không biết, em cố nói, thẳng vào mic của em, nhưng có cái gì đó phát ra, thậm chí không phải một từ bình thường mà là một tiếng ồn được tạo thành từ một giọng nói chẳng phải là giọng của em, dù nó vô cùng quen thuộc. Nó lạc đi trong lời ca. Cả gia đình bước thành thạo trở lại vị trí ban đầu và bắt đầu lời hai. Melissa nhặt lên một cái túi và bắt đầu ném những Đám mây Nồng ấm—thật ra chỉ là những con mèo bông được chải cho lông tơi lên và cắt hết chân, mua số lượng lớn ở cửa hàng giá trẻ—về phía đám đông. Molly lại lên tiếng, lần này to và rõ hơn, để không bị tiếng nhạc trùm lên nếu không bị lấn át bởi tiếng ồn của đám đông. “Chó đẻ!”

Malinda quay lại cau có nhìn em, đưa tay lên môi với một dấu hiệu biểu đạt không phải “Suỵt” mà “Câm mồm và hát đi.” Molly lắc cái giống lục lạc về phía Malinda, hai cái lắc lệch nhịp. Malinda nhíu mày và dậm chân, càng đảm bảo thêm cho một cái lắc trống lục lạc nữa và một tràng phản ứng: “Chó đẻ! Khốn nạn! Chó đẻ!” Rồi mẹ em quay lại. Bà cũng lĩnh một cú lắc trống, và Molly cho mỗi thành viên trong gia đình một phát, một người ở đây và hai người ở kia, rồi lắc loạn xạ về phía khán giả. Em tưởng tượng gia đình em trong số khán giả, và tưởng tượng chính em trong số khán giả, và tưởng tượng Peabo trong số khán giả, và tưởng tượng Chúa Jesus của thằng nhóc trong số khán giả, giờ thì em hát cho tất cả cùng nghe. Đó là toàn thể khán giả của những Chúa Jesus có đường cong diễm lệ, không cắt bao quy đầu, và mỗi người lại hỏi em một câu hỏi. “Địt mẹ!” em trả lời. Một tiếng rên vặn xoắn, nghe không giống từ ấy lắm, nhưng đó là câu trả lời, mà em hét vang, tới tất cả những câu hỏi em có thể hỏi. Thằng nhóc tới từ đâu? Nó đi đâu? Ánh sáng biến đi đâu khi nó rời bỏ vạn vật? Em đang bị làm sao thế này? Âm thanh mà em đang tạo ra—”Đệt! Đờ-ệt!”—là câu trả lời, và rồi đó cũng trở thành câu hỏi. Em đứng dậy, thẳng thắn và cao ráo, lắc cái trống lục lạc và hát một lúc rất lâu sau khi tiếng nhạc đã dừng.


(1) ND: Job Corps là đơn vị của chính quyền, cung cấp dịch vụ giới thiệu việc làm và đào tạo kĩ năng cho các ứng viên, được tổ chức ở nhiều địa điểm ở nước Mỹ.

(2) ND: ClearingHouse – Cơ quan Thanh toán Bù trừ là một tổ chức riêng biệt làm trung gian giữa người mua và người bán trên thị trường tài chính, giúp thị trường tài chính ổn định và hiệu quả.

(3) ND: bắt nguồn từ truyện cổ tích Warm Fuzzies and Cold Pricklies.

(4) ND: pig Latin là một dạng tiếng lóng, cách chơi chữ thường được trẻ con ở Mỹ dùng, hiệu quả của nó là làm cho người nghe tưởng rằng đang nghe một thứ ngoại ngữ nào đó.

(5) ND: Kabuki (ca vũ kỹ) là loại hình sân khấu truyền thống của Nhật Bản, nổi tiếng về sự phức tạp rtong việc trang điểm cho diễn viên.

Copyright © 2010 by Chris Adrian.

ThKh chuyển ngữ không có sự đồng ý của tác giả.

———-

ThKh – 2019

ThKh là một bút danh khác của ChuKim, một người viết tự do, sống và yêu tại một ngôi làng mang tên thành phố. Nếu có thể, hãy ủng hộ và khích lệ bằng cách đọc và chia sẻ những gì anh viết trong khả năng của bạn. Xin cảm ơn.

– natchukim.cogaihu@gmail.com –

PS: Tất cả nội dung trong blog này đều được tuyên bố quyền sở hữu và quyền tác giả về nội dung, ngoại trừ những bài sưu tầm có đề rõ. Mọi trích dẫn, đăng lại, vui lòng ghi rõ nguồn. 

 

Cạch

Hắn nhịp từng ngón tay xuống màn hình điện thoại theo điệu cạch-cạch cạch cạch-cạch cạch-cạch. Móng tay hắn đủ dài để trông vẫn sạch sẽ, đủ ngắn để không khiến hắn khó chịu bởi phản lực dội lại, quan trọng nhất là đủ để tạo ra những âm thanh có độ huyền bí trong dáng vẻ thâm trầm sâu không thấy đáy của hắn. Hắn đưa mắt nhìn cử động của từng ngón tay, cứ như là chúng đang sống bằng sinh mạng tự thân, chứ không phải những tồn tại lệ thuộc vào sự chỉ huy của hắn. Hắn điều khiển ngón tay, hay ngón tay điều khiển hắn nhỉ? Nhịp điệu cạch-cạch cạch cạch-cạch cạch-cạch cứ đều đặn vang lên. Rè-rè rè rè-rè rè-rè, bất ngờ điện thoại đổ một hồi rung. Hắn ngẩn người, re-rè rè rè-rè rè-rè, hắn đã quên mất là mình mong chờ nhịp điệu rung này đến mức cả cơ thể hắn biến thành một phần của chiếc điện thoại lúc nào không biết. Trái tim hắn rung lên trong lồng ngực theo nhịp rè-rè rè rè-rè rè-rè, mạch máu hắn lẩy bẩy khắp người theo nhịp rè-rè rè rè-rè rè-rè, duy chỉ có ngón tay hắn là đờ ra không nhúc nhích. Hắn cầm điện thoại lên, răng hắn đánh cạch-cạch cạch cạch-cạch cạch-cạch, rồi hắn tắt máy, hắn đã chờ đợi có người gọi cho mình suốt một trăm năm qua, lâu đến mức hắn đã trở thành cái điện thoại, còn cái điện thoại thì trở thành hắn, hắn lẫn lộn không còn biết đâu là hắn và đâu là cái điện thoại. Tại sao đã một trăm năm trôi qua rồi mà cái điện thoại không chết đi, vẫn bền bỉ và dai dẳng sống để đến hôm nay hắn chợt nhận ra hắn đang chết, vẫn nhẫn nại và thinh lặng chết. Cạch-cạch cạch cạch-cạch cạch-cạch.

———-

ChuKim – 2019

ChuKim là bút danh của một người viết tự do, sống và yêu tại một ngôi làng mang tên thành phố. Nếu có thể, hãy ủng hộ và khích lệ bằng cách đọc và chia sẻ những gì anh viết trong khả năng của bạn. Xin cảm ơn.

– natchukim.cogaihu@gmail.com –

PS: Tất cả nội dung trong blog này đều được tuyên bố quyền sở hữu và quyền tác giả về nội dung, ngoại trừ những bài sưu tầm có đề rõ. Mọi trích dẫn, đăng lại, vui lòng ghi rõ nguồn. 

Cơn yêu tình mưa

cơn mưa mùa hạ

trở về trong giấc mộng tan

tình xin làm hạt

chưa xong đã mải lụi tàn

 

yêu đương một thưở

trong làn nước quất thời gian

ướt nhau lần chạm

lang bang nghiêng ngả mây ngàn

 

đương yêu mấy kẻ

nhớ xưa kể chuyện điệp lan

tình xin làm bão

đi đi đến đến hoang tàn

IMG_8054

#phuquoc2019

———-

ChuKim – 2019

ChuKim là bút danh của một người viết tự do, sống và yêu tại một ngôi làng mang tên thành phố. Nếu có thể, hãy ủng hộ và khích lệ bằng cách đọc và chia sẻ những gì anh viết trong khả năng của bạn. Xin cảm ơn.

– natchukim.cogaihu@gmail.com –

PS: Tất cả nội dung trong blog này đều được tuyên bố quyền sở hữu và quyền tác giả về nội dung, ngoại trừ những bài sưu tầm có đề rõ. Mọi trích dẫn, đăng lại, vui lòng ghi rõ nguồn. 

Đốm màu trắng lấp lánh

Một ngày mùa hạ, ngồi trong nỗi cô đơn giữa đêm tối không một ai ngoài tôi. Tôi ngước mắt nhìn, một đốm màu trắng lấp lánh trước mắt tôi. Thoạt tiên, tôi tưởng đó là một ngôi sao, nhưng không phải, nó quá gần gũi và ấm áp để có thể là một ngôi sao cách xa tôi nhiều triệu năm ánh sáng. Sau đó, tôi cho rằng đó là ánh đèn từ một ô cửa sổ nào còn thao thức, nhưng không phải, đốm màu trắng lấp lánh ấy thậm chí còn đơn độc hơn cả tôi, nó không thể trở thành hiện thân cho sự hội ngộ. Rồi tôi nghĩ nó có thể là lối thoát cho con đường của tôi, tôi tò mò nhìn nó, tiến tới gần nó, cho đến khi tôi nhận ra đường hầm chỉ đang càng đem lại cảm giác nhỏ bé và áp bức cho tôi, thì tôi dừng lại. Đốm màu trắng vẫn lấp lánh trước mắt tôi, có lúc lảng vảng như con đom đóm, tôi đã suýt đinh ninh rằng biết đâu nó là một con đom đóm thật, có lúc lại sừng sững lớn lao, tôi vẫn chỉ có thể định nghĩa được đó là một đốm màu trắng lấp lánh. Cho đến tận khi tôi nhận ra nó đang soi chiếu tôi, một đốm màu đen thuần khiết, không hình dạng, không tự thân, không phản chiếu, không tồn tại.

———-

ChuKim – 2019

ChuKim là bút danh của một người viết tự do, sống và yêu tại một ngôi làng mang tên thành phố. Nếu có thể, hãy ủng hộ và khích lệ bằng cách đọc và chia sẻ những gì anh viết trong khả năng của bạn. Xin cảm ơn.

– natchukim.cogaihu@gmail.com –

PS: Tất cả nội dung trong blog này đều được tuyên bố quyền sở hữu và quyền tác giả về nội dung, ngoại trừ những bài sưu tầm có đề rõ. Mọi trích dẫn, đăng lại, vui lòng ghi rõ nguồn. 

Phượng hoàng

tôi khởi đầu trong một lỗ chân lông

trên vùng

thăm thẳm tối

đôi mắt bừng bừng hôi hổi

nhìn thấu rọi hư không

đôi mắt đốt cháy sinh mệnh tôi

đốt cháy sự thèm khát được vươn lên sống trên ngọn đồi mơ mộng

đón lửa, nước, bão tố, và cả sự thúc ép nghẹt thở

 

trong tro tàn

tôi tưởng mình là phượng hoàng tái sinh sau cái chết cuối cùng

 

tôi lao lên như một cọng lông

trên vùng

ngai ngái ấm

cục cựa và ngọ nguậy

chẳng ai buồn che đậy những việc họ làm trong hoan ca khờ dại

những sinh sôi làm tôi thấy mình bé lại

chứng kiến nước, máu, bệnh hoạn và khúc trường ca khi mặt trời tắt nắng

 

trong run rẩy

tôi bứt mình khỏi vùng xác thịt

bỏ lại triền ngã sướng sung

bỏ lại sự ung dung thường nhật

tôi lao mình vào một cuộc đời mới

một cuộc đời không phải con phượng hoàng mãi mãi tái sinh

miền tâm linh tan biến

chỉ một lý do

tôi tận hiến

cho mãi niềm khoái lạc khổ đau(*)

(*) chữ của Trà Đoá

———-

ChuKim – 2019

ChuKim là bút danh của một người viết tự do, sống và yêu tại một ngôi làng mang tên thành phố. Nếu có thể, hãy ủng hộ và khích lệ bằng cách đọc và chia sẻ những gì anh viết trong khả năng của bạn. Xin cảm ơn.

– natchukim.cogaihu@gmail.com –

PS: Tất cả nội dung trong blog này đều được tuyên bố quyền sở hữu và quyền tác giả về nội dung, ngoại trừ những bài sưu tầm có đề rõ. Mọi trích dẫn, đăng lại, vui lòng ghi rõ nguồn. 

Con chó đi hoang

Đây là câu chuyện về một con chó.

Một ngày nọ, nó, một con chó lớn khôn, lặng ngắm mọi vật quanh mình. Nó ngước mắt lên hàng cây, lên những căn nhà, qua những góc phố, những con người lại qua, đám thú cưng đủ các loại chó mèo chim chuột thậm chí đã đi cả vào thơ ca nhạc hoạ hay nghệ thuật diễn xuất cho loài người tìm chút hơi ấm niềm vui. Nó quan sát tất cả, và ngẫm nghĩ. Mới chỉ gần đây thôi, nó hình thành thói quen ngẫm nghĩ, sau khi những nhí nhảnh láu lỉnh của một thời trẻ dại đã ở lại phía sau. Nó chờ người chủ của nó trở về sau một ngày làm việc, và nó suy nghĩ.

Nó nghĩ gì nhỉ, một con chó khi suy nghĩ, thì sẽ nghĩ gì?

Con chó nghĩ về chính nó. Nó nghĩ về chính nó. Dòng suy nghĩ miên man cuồn cuộn tuôn trào trong buổi chiều nắng trút như thác đổ. Nó chỉ nghĩ về chính nó, về quá khứ, về hiện tại, về tương lai. Con chó chỉ nghĩ về chính nó. Rồi nó tự hỏi, một câu hỏi phi thường hiện lên trong tâm trí nó, nó tồn tại vì điều gì? Câu trả lời bật ra thật giản đơn và nhanh chóng: người chủ. Người chủ của nó, người vẫn cho nó ăn, vui đùa cùng nó, dắt nó đi dạo, dạy nó những trò vớ vẩn mà nó nhận ra nếu nó làm theo thì người ấy sẽ vui. Người chủ là tất cả cuộc sống của nó.

Con chó trào nước mắt. Có một cái gì vừa sụp đổ trong lòng nó. Chỉ trong một giây phút, bản năng sâu thẳm bất chợt trỗi dậy, giáng thẳng một cú đấm khủng khiếp vào bản năng đương đại của con chó. Nó muốn một cuộc sống hoang dã, nó chưa bao giờ ham muốn điều gì cho bản thân nó nhiều đến thế. Nó chỉ muốn nghĩ về chính nó. Và rồi từ giây phút ấy, nó bắt đầu có lựa chọn.

Khi đứng trước lựa chọn giữa làm chó nhà và chó hoang, một tiếng gọi lạ kì từ trong sâu thẳm nội tâm đã bùng nổ dữ dội, thôi thúc con chó dấn thân vào đời sống của một kẻ lang bạt kì hồ, ồ, cũng đúng lắm, một con chó vùng thoát khỏi sức nặng của hàng ngàn năm thuần hoá để trở lại là một con sói hoang dại đi tới đi lui ngang dọc khắp đất trời. Và con chó đã bắt đầu cuộc hành trình của mình bằng khoảnh khắc tái sinh như vậy.

Nó bỏ đi, vĩnh viễn không bao giờ trở về.

Con chó đã chính thức trở thành một con chó hoang, sống đời phiêu bạt, kiêu hãnh và tự do. Hơi thở của nó là hơi thở của tổ tiên nó vọng về, chuyển động của nó mãnh liệt và tự tin hệt như những con sói nó từng được thấy trên tivi của loài người. Nó rong ruổi khắp thành phố, có lúc nó tụ bầy với những con chó hoang khác, có lúc nó lại đơn độc một mình, có sá chi, mãnh thú là phải đi một mình.

Con chó, bây giờ đã là mãnh thú đi hoang, đối mặt với thực tế khắc nghiệt của đời sống tự do bằng tất cả trí tuệ và bầu nhiệt huyết mà nó có, dù gì thì giống loài của nó đã sát cánh bên cạnh giống loài bá chủ của thế giới này hơn bất kì loài động vật nào khác. Chẳng gì có thể làm khó được nó.

Nó lục tìm thức ăn trong sọt rác, không thơm ngon nóng sốt như trong quá khứ khi nó còn là một con thú cưng vẫn thường được thưởng thức, nhưng nào có hề chi, nó không ở đây để mưu cầu sự sang trọng tiện nghi. Nó xin ăn từ những người trong thành phố, đó chính là thành quả mà hàng ngàn năm thuần dưỡng và tiến hoá mang lại, nó biết cách giao tiếp với loài người, và họ cảm giác được sự đáng tin ở nó. Đôi lần, nó đuổi theo và tiêu diệt lũ chuột cống, rồi ăn thịt chúng, lũ chuột này vốn cũng ăn đủ thứ thực phẩm trong thành phố này, lại sẵn đó, không hiếm hoi như những lần nó có thể nếm trải mùi máu sặc vị nhân tạo của vài con gà lơ ngơ đi lạc. Có những ngày nó bị đói, tất nhiên, không dễ dàng gì thì mới là đời thú hoang. Nó kiên nhẫn, lặng lẽ lê bước trên các nẻo đường, rình rập và chờ đợi một cơ hội được ăn.

Nó ngủ bờ ngủ bụi. Ngủ bên hiên nhà người ta, ngủ bên bờ sông, ngủ cạnh gốc cây, ngủ dưới ghế đá, ngủ trong sân các trụ sở cơ quan vắng vẻ khi đêm về, ngủ dưới gầm xe hơi. Nó ngủ ở bất kì đâu có thể, bất chấp nắng mưa, bất chấp những loài côn trùng cặn bã thối tha. Đương nhiên là phải vậy, nó ở đây đâu phải để mưu cầu chăn ấm nệm êm hay hơi người bên cạnh, chỉ cần đủ an toàn, nó sẽ hạ xuống cho một giấc hoang đàng. Nói về chuyện an toàn là bởi, nó còn phải đối phó với đủ loại kẻ thù. Từ lũ chó nhà khiến nó đôi lúc nhớ lại bản thân mình những ngày xưa cũ, cho tới những con chó hoang như nó, dù đám này còn lâu mới có được khí phách kiêu hùng như nó, chúng đều mang trong mình cái thói hoạt động theo lãnh thổ, mặc dù bản chất của lãnh thổ là gì, còn lâu chúng mới biết. Những trận chiến với bọn động vật hoang khiến nó tôi luyện được bản thân, tìm về với những khao khát cuồng nhiệt thầm kín vốn đã từ lâu chôn sâu trong mọi ngóc ngách cơ thể. Và trên hết, con người, chỉ có cuộc sống tự do điên dại này mới dạy cho nó rằng con người không chỉ là biểu tượng của ấm êm, mà còn có thể là kẻ thù tối thượng của nó. Con chó suýt bị lũ trộm chó tóm được mấy lần, nó đều thoát thân ngoạn mục. Nó cũng bị những người mặc đồng phục đuổi bắt, và vượt qua. Nó trui rèn bản thân để tồn tại. Từng tế bào của nó tận hưởng mỗi thời khắc qua đi bằng tất cả những khoái lạc hay khổ đau tự thân có được.

Con chó, hẳn nhiên, có nhiều bạn tình. Nó là một mãnh thú đơn độc với niềm kiêu hãnh và trí tuệ tuyệt luân, một lẽ hiển nhiên là nó thu hút được bạn tình, những con chó hoang mà nó tin rằng ít nhiều có được những phẩm chất ưu tú của sự thức tỉnh. Dòng máu này, nhịp đập này, hơi thở này, tri giác và bản năng này phải được truyền lại, phải được sinh sôi. Dẫu cho đời sống hoang dại đầy khốc liệt sẽ làm cho những thế hệ sau của chúng gặp phải khó khăn thực sự trong quá trình lớn khôn. Không sao, gian khó sẽ tạo nên những sinh mệnh của kì tích.

Con chó sinh tồn theo đúng nghĩa. Cho đến một ngày, nó dừng lại, bình thản quan sát tất cả, và suy nghĩ về chính nó. Cuộc đời của con chó không có gì phải hối tiếc, nó đã sống qua tất cả những tầng bậc của cuộc sống nhân tạo, một cuộc sống nhân tạo hoang dã, cuồng điên, say mê và lãng mạn, mà loài người đã tạo ra cho giống loài của nó.

Thêm lần nữa, nó rơi nước mắt và nghe tiếng lòng mình nấc lên.

———-

ChuKim – 2019

ChuKim là bút danh của một người viết tự do, sống và yêu tại một ngôi làng mang tên thành phố. Nếu có thể, hãy ủng hộ và khích lệ bằng cách đọc và chia sẻ những gì anh viết trong khả năng của bạn. Xin cảm ơn.

– natchukim.cogaihu@gmail.com –

PS: Tất cả nội dung trong blog này đều được tuyên bố quyền sở hữu và quyền tác giả về nội dung, ngoại trừ những bài sưu tầm có đề rõ. Mọi trích dẫn, đăng lại, vui lòng ghi rõ nguồn.

Truyện ngắn: Chim ca – Chimamanda Ngozi Adichie

Chimamanda Ngozi Adichie (1977-) là nhà văn người Nigieria. Bà nổi tiếng với các tiểu thuyết Cẩm quỳ tím (Purple Hibicus – 2003), Nửa mặt trời vàng (Half of a yellow sun – 2006), Americanah (2013), tập truyện ngắn The thing around your neck (2009) và tập tiểu luận We should all be feminists (2014). Tạp chí phê bình văn học The Times Literara Supplement đánh giá bà là nhà văn nổi bật nhất trong số những tác giả trẻ của văn học Phi châu sáng tác bằng tiếng Anh.

Chimamanda Ngozi Adichie (Grafily - newyorker.com)

Tranh: Grafilu – newyorker.com

‘Chim ca’ (Birdsong) là truyện ngắn của Chimamanda Ngozi Adichie được đăng trong tuyển tập 20 under 40 (2010) của tạp chí The New Yorker. 


Chim ca

 

Người phụ nữ ấy, một người xa lạ, đang nhìn tôi. Trong cái nắng chói chang của buổi chiều oi bức, giữa cuồng quay những xe máy và người bán hàng rong, cô ta nhìn xuống về phía tôi từ trên ghế sau của chiếc xe jeep. Cái nhìn của cô ta quá trực diện, không có đủ độ bâng quơ. Cô ta không chỉ đơn thuần thả lỏng cho mắt mình hướng về chiếc xe kế bên xe của cô ta, giống như mọi người vẫn làm khi tham gia giao thông ở Lagos; cô ta đang nhìntôi. Ban đầu, tôi liếc qua chỗ khác, nhưng rồi tôi nhìn lại, vào vẻ bóng bẩy kiêu kì của những lọn tóc xoăn nhẹ thả trên bờ vai cô ta, kiểu tóc nốigọi là Tóc Brazil phải tốn một mớ tại những tiệm làm tóc ở Victoria Island; vào làn da tuyệt đẹp của cô ta, nó căng bóng như nhựa là thành quả của mấy loại kem bôi đắt tiền; và vào tay cô ta, cô ta đưa ngón trỏ đeo trang sức lên xua một người bán báo rong đi, với vẻ bình thản của một kẻ vẫn thường phẩy tay xua đuổi người khác. Cô ta đẹp, hoặc có thể cô ta chỉ trông lạ mắt, với đôi mắt cách xa nhautrũng sâu trên khuôn mặt, “đẹp” là cách dễ nhất để mô tả về cô ta. Cô ta là tuýp phụ nữ mà tôi hình dung về vợ của người tình của tôi, một người phụ nữ mà mọi thứ thật viên mãn.

Chimamanda Ngozi Adichie - Birdsong (minh hoạ - Jacques De Loustal - newyork.com).jpg

Minh hoạ: Jacques De Loustal – newyorker.com

Người tình của tôi. Nghe có vẻ hơi kệch cỡm, nhưng tôi chẳng hề biết phải nói sao về anh. “Bạn trai” có vẻ không đúng lắm với một người đàn ông lịch lãm bốn mươi lăm tuổi luôn cẩn thận tháo nhẫn cưới trước khi chạm vào tôi. Chikwado gọi anh là “giai của mày”, với một nụ cười nhạt chế giễu, như thể chúng tôi đều đang đùa cợt: anh, tất nhiên, không phải là của tôi. “À, mày lúc nào cũng cuống lên đi về vì gã giai này của mày,” nó sẽ nói, ngả người lên ghế và lấy tay tự vỗ đầu, lặp đi lặp lại. Phía dưới mái tóc xoăn, da đầu nó bị ngứa, và đó là cách duy nhất khiến nó thấy gần như đang gãi. “Vui vẻ nhé, cho tới khi tâm hồn mày vẫn còn chấp nhận điều đó, nhưng với tao thì, tao không thể dạng chân ra cho một gã đã có vợ được.” Nó vẫn thường nói vậy, với mộtưu thế đạo đức xác đáng, khi tôi thu xếp tài liệu và tắt máy tính kết thúc công việc trong ngày.

Mối quan hệ bạn bè của chúng tôi là không thể tránh khỏi, bởi chúng tôi đều tốt nghiệp Đại học Enugu và cuối cùng làm việc cho Celnet Telecom, ở Lagos, và là những nhân viên nữ duy nhất trong bộ phận quan hệ cộng đồng. Nếu không, chúng tôi đã chẳng chơi với nhau. Cái lối đầy ắp những điều xác tín giản đơn hoá của nó làm tôi phát bực, và tôi biết nó nghĩ tôi hành xử như một đứa trẻ vị thành niên lạc loài mông lung, vô trách nhiệm: tóc cắt ngắn tự nhiên, hút thuốc ngay trước cửa toà nhà, chỗ ai cũng thấy, và từ chối tham gia những buổi cầu nguyện mà sếp chủ trì sau cuộc họp thứ Hai hàng tuần. Lẽ ra tôi đã chẳng kể với nó về người tình của mình—tôi không cho nó biết về đời tư của tôi—nhưng nó đã ở đó khi anh lần đầu tiên bước vào văn phòng chúng tôi, một người đàn ông da đen thon gọn đeo cà vạt tím và có phong thái giàu sang. Ở anh tràn trề sự ái kỷ bóng bẩy của những người đàn ông gạt bỏ tầm quan trọng của họ theo cách chỉ có thể càng làm nó nổi bật hơn.Sếp chúng tôi bắt tay anh bằng cả hai tay và nói, “Chào mừng ngài, rất vui được gặp ngài, mọi việc thế nào rồi thưa ngài, mời vào và mời ngồi, thưa ngài.” Chikwado đã ở đó khi anh nhìn tôi và tôi nhìn anh và rồi anh mỉm cười, theo mọi nhẽ, một nụ cười ấm áp, rộng mở. Nó nghe được anh nói với sếp chúng tôi, “Gia đình tôi sống ở Mỹ,” nói hơi to một chút, nhắm đến tôi, với chất giọng nước ngoài chung chung của những người Nigieria sống khắp thế giới, mà, về sau tôi sẽ khám phá, sẽ biến mất khi anh trở nên thực sự phấn khích về điều gì. Nó thấy anh tiến tới và trao cho tôi danh thiếp. Nó ở đó, vài ngày sau, khi tài xế của anh chuyển tới một gói quà. Vì nó đã thấy, và vì tôi chìm đắm trong cảm xúc mà tôi không thể gọi tên dành cho một người đàn ông tôi biết không dành cho tôi, tôi cho nó xem chai nước hoa và tấm thiệp có đề, “Tôi đang nghĩ về em.”

Na wa!(1) Nhìn xem mắt mày đang sáng lấp lánh vì một gã đã có vợ kìa. Mày cần phải cầu nguyện để được giải thoát,” Chikwado nói, nửa đùa nửa thật. Nó thường tới dự dịch vụ đêm vọng, ở những nhà thờ khác nhau, nhưng tất cả đều cùng chủ đề Tìm kiếm Người bạn đời Chúa trao cho Bạn; sáng hôm sau nó sẽ đi làm trong trạng thái lờ đờ, lòng trắng mắt nó vằn đỏ, nhưng đã lên xong kế hoạch cho một buổi khác. Nó ba mươi hai và đang chao đảo trước sức nặng của một khao khát: được ổn định. Đó là tất cả những gì nó nói tới. Đó là tất cả những gì mà hội nữ đồng nghiệp của chúng tôi nói tới khi đi ăn trưa ở quán cafe tự phục vụ.Yewande đang mất thời gian với thằng đónó chưa sẵn sàng để ổn định đâu. Hỏi nó mà xem, nếu nó không hướng tới hôn nhân trong tương lai thì tốt nhất là cô nên kiếm mối khác; làm gì có ai trẻ ra tí nào đâu. Ekaete may mắn đấy, mới có sáu tháng mà đã đính hôn rồi. Khi họ nói chuyện, tôi sẽ nhìn ra ngoài cửa sổ, hướng lên phía trên Lagos, vào hàng mẫu Anh những mái nhà gỉ sét, vào sự thăng trầm của niềm hi vọng trong thành phố đầy rẫy những thiên thần hoen ốnày.

Ngay cả người tình của tôi cũng nói tới khao khát này. “Em sẽ muốn ổn định sớm thôi,” anh nói. “Anh chỉ muốn nói với em rằng anh sẽ không chắn đường em đâu.” Chúng tôi trần truồng trên giường; đó là đêm đầu tiên của chúng tôi. Một sợi lông từ chiếc gối vương trên tóc anh, tôi nhặt nó ra và cho anh xem. Tôi không thể tin nổi, trong dư âm của những gì vừa xảy ra, cả hai chúng tôi vẫn đang chìm đắm trong hơi ấm của nhau, những lời ấy tuôn ra từ miệng anh mới dễ dàng làm sao. “Anh không như những người đàn ông khác, nghĩ họ có thể khống chế cuộc đời em và không để em hướng về phía trước,” anh tiếp tục, dùng khuỷu tay nhổm người dậy để nhìn tôi. Anh đang nói với tôi rằng anh giỏi trong cuộc chơi này hơn những kẻ khác, trong khi tôi còn chưa nhận thức được về cuộc chơi. Từ khoảnh khắc tôi gặp anh, tôi đã có cảm giác khả thi, nhưng với anh thì con đường đã hoàn toàn khép lại, nó chưa bao giờ thực sự mở ra; không có chỗ cho những chuyện bỗng nhiên tràn vào và rồi cản trở con đường ấy tiếp diễn.

“Anh rất chu đáo,” tôi nói, theo kiểu giả đò quá mức để che đậy sự tổn thương. Anh gật đầu, như thể anh đồng ý với tôi. Tôi kéo chăn lên tận cằm. Lẽ ra tôi nên mặc đồ, trở về căn hộ của tôi ở Surulere, và xoá số anh khỏi điện thoại. Nhưng tôi ở lại. Tôi ở lại suốt mười ba tháng tám ngày, phần lớn tại nhà của anh ở Victoria Island—một căn nhà màu trắng nhờ, với không gian tráng lệ và thoáng đãng, được xây từ thời thực dân Anh đô hộ và nằm trong một khu tổ hợp tràn ngập cây ăn quả, hoa giấy leo phủ kín toàn bộ bức tường rào. Anh nói với tôi rằng anh sẽ đưa tôi tới nhà nghỉ của một người bạn Li Băng, nơi anh sẽ ở lại trong khi nhà của anh ở Ikoyi đang được tân trang lại. Khi tôi bước ra khỏi xe, tôi cảm thấy như mình vừa lạc vào một khu vườn bí mật. Một khối lượng dày đặc hoa dừa cạn, màu trắng và hồng, làm thành lối đi dẫn tới ngôi nhà. Không khí ở đây thật trong lành, thậm chí có vị thơm ngọt, và có điều gì đó trong tất cả chuyện này khiến tôi nghĩ về việc kéo dài thời gian. Anh ngắm nhìn tôi; tôi có thể cảm nhận anh muốn tôi thích nơi này đến nhường nào.

“Đây là nhà của anh, phải không?” tôi nói. “Nó không thuộc về người bạn Li Băng nào của anh cả.”

Anh tiến lại gần tôi, ngạc nhiên. “Đừng hiểu nhầm anh. Anh sẽ kể với em thôi. Anh chỉ không muốn em nghĩ rằng nó là kiểu . . .” Anh dừng lại và nằm tay tôi. “Anh biết những người đàn ông khác làm gì, và anh không giống như thế. Anh không đưa phụ nữ về đây. Anh mua chỗ này năm ngoái để phá bỏ và xây một toà chúng cư, nhưng nó đẹp biết bao. Các bạn anh cho rằng anh có điên mới giữ nó lại. Em biết đấy, chẳng ai ở đất nước này trân trọng những thứ xưa cũ. Bây giờ phần lớn thời gian anh làm việc ở đây, thay vì tới văn phòng.”

Chúng tôi đang đứng cạnh cửa kính trượt dẫn tới hàng hiên, phía trên là một cây phượng xoè rộng tán lá. Những cánh hoa đỏ héo úa rụng xuống trên mấy chiếc ghế mây. “Anh thích ngồi đây và ngắm lũ chim,” anh nói, chỉ tay.

Anh thích chim chóc. Đối với tôi, chim chóc vẫn luôn chỉ là chim chóc, nhưng khi ở cạnh anh, tôi trở thành một con người khác: tôi trở thành một người mê chim chóc. Buổi sáng Chủ Nhật sau đó, kì cuối tuần đầu tiên của chúng tôi bên nhau, chúng tôi chuyền tay nhau các tập mục tạp chí Next trong sự tĩnh lặng của hàng hiên, anh nhìn lên bầu trời và nói, “Có một con chim ác là. Giống nàythích những thứ bóng bẩy lắm.” Tôi tưởng tượng cảnh đặt nhẫn cưới của anh trên chiếc bàn mây để con chim sà xuống rồi mang nó đi mãi mãi.

“Anh đã biết em rất khác biệt!” anh nói, bồi hồi, khi anh phát hiện ra tôi đọc mục kinh doanh và thể thao, như thể sự khác biệt của tôi phản chiếu gu tinh tế của anh. Và thế là chúng tôi phấn khích chuyện trò về báo chí, và về bản tin thời sự của đài AIT và CNN, hào hứng bởi mới tương đồng trong quan điểm với nhau biết bao. Chúng tôi chẳng bao giờ trao đổi về việc tôi ở lại. Không an toàn cho lắm khi lái xe về Surulere khi đã muộn, còn anh thì cứ nói, “Sao ngày mai em không mang đồ tới nhỉ, như thế em có thể đi làm từ đây luôn?” cho tới khi gần như toàn bộ áo quần của tôi yên vị trong tủ và đồ dưỡng ẩm của tôi nằm trên khay để đồ trong phòng tắm. Anh để tiền cho tôi trên bàn, trong một cái phong bì màu nâu mà anh đề “Để em đổ xăng,” cứ như là tôi có thể chi đến năm mươi ngàn naira(2) cho xăng dầu. Thi thoảng, anh hỏi liệu tôi có cần được riêng tư để thay đồ hay chăng, như thể anh chưa thấy tôi khoả thân chừng ấy lần không bằng.

Chúng tôi không nói về vợ con anh hay đời tư của tôi hay khi nào thì tôi sẽ muốn ổn định để anh có thể tránh đường cho tôi đi. Có lẽ đó là những chuyện mà chúng tôi không đả động tới khiến tôi không rời mắt nổikhỏi anh. Da anh sậm tới mức tôi trêu anh hình như đến từ Gambia; nếu anh là một người phụ nữ, tôi sẽ bảo anh, anh chẳng bao giờ tìm được loại phấn phủ nào khớp với tông da của anh. Tôi ngắm anh từ tốn mở bọc giấy ướt thơm để lau kính mắt, hay cắt thịt gà trên đĩa, hay buộc khăn tắm quanh hông bằng một nút thắt có vẻ như quá phức tạp cho một chiếc khăn tắm thông thường, ngay phía dưới cái sẹo lồi ở rốn của anh. Tôi ghi nhớ kí ức về anh, bởi tôi không biết anh. Anh lịch thiệp, cuộc sống của anh là một chuỗi vận hành trơn tru, khuy măng-sét của anh luôn thật trang nhã.

Ba chiếc điện thoại di động của anh vẫn thường đổ chuông; tôi biết khi nào thì đó là cuộc gọi của vợ anh, vì anh sẽ vào toilet hoặc ra ngoài hiên, và tôi biết khi nào thì đó là cuộc gọi từ cơ quan nhà nước, vì sau đó anh sẽ luôn nói, “Tại sao mấy tay công chức này không để cho ai yên nhỉ?” Nhưng rõ ràng là anh thích những cuộc gọi của đám viên chức, và người quản lý nhà hàng tiến tới bàn chúng tôi và chào, “Chúng tôi rất vui được gặp ngài, thưa ngài.” Anh tìm trên tạp chí Chủ Nhật những bức ảnh gập khổ to hình anh, và khi tìm thấy bức nào anh đều nói bằng giọng phàn nàn âm vực trung tính, “Xem này, sao họ lại biến doanh nhân thành ngôi sao giải trí nhỉ?” Vậy mà anh chưa bao giờ mặc cùng một bộ vét tới hai sự kiện vì đám phóng viên ảnh. Anh có niềm kiêu hãnh rực cháy, như một tinh cầu, tròn trịa và rộng lớn trong nhu cầu khẩn thiết được đánh bóng. Anh làm nhiều việc cho mọi người. Anh cho họ tiền, giới thiệu họ tới những mối quan hệ, giúp họ hàng của họ kiếm việc, rồi khi lòng biết ơn và lời ngợi khen tới—anh cho tôi xem những tin nhắn cảm ơn anh; tôi nhớ có một cái nói rằng “Lịch sử sẽ khiến ông trở nên bất tử dưới tư cách một con người vĩ đại”—mắt anh sẽ ngời sáng, và tôi gần như có thể nghe thấy anh rên lên.

Một ngày anh bảo tôi, khi chúng tôi nhìn hai con chim bói cá nhảy điệu vũ bạn tình trên một cây ổi, rằng phần lớn các loài chim không có dương vật. Tôi chưa bao giờ nghĩ tới dương vật của lũ chim.

“Mẹ em nuôi gà trong sân khi em lớn lên, và em thường nhìn gà trống đạp mái,” tôi nói.

“Tất nhiên là bọn nó đạp mái, nhưng không bằng dương vật,” anh nói. “Em đã bao giờ thấy một con gà trống có cu chưa?” (ND: nguyên văn ‘a cock with a dick’, cock có nghĩa là con gà trống, cũng có nghĩa là dương vật, giống như dick)

Tôi bật cười, và anh, chỉ mới chợt nhận ra sự hài hước, cũng cười. Chuyện này trở thành mật ngữ tình yêu của chúng tôi. “Cock with a dick,” (ND: ở đây tôi không tìm được cách diễn đạt tương đương trong tiếng Việt nên tôi giữ tiếng Anh theo nguyên tác), tôi sẽ thầm thì, ôm anh khi chào anh, và chúng tôi sẽ phá ra cười. Anh gửi tin nhắn cho tôi, kí tên “CwithaD.” Và mỗi khi tôi băng qua con đường đầy ổ gàở Victoria Island và tiến vào vùng vang vọng tiếng chim ca, tôi có cảm giác như mình đã về đến nhà.

 

Người phụ nữ vẫn nhìn tôi. Đường đang tắc, vẫn thường như vậy mỗi đầu giờ chiều. Một chiếc xe chở dầu bị đổ chắn ngang đường—mấy chiếc xe chở dầu lúc nào cũng đổ chắn ngang đường—hoặc một chiếc xe buýt chết máy, hoặc một hàng xe xếp dài phía ngoài cây xăng, chặn luôn đường đi lại. Đồng hồ xăng của tôi báo đã gần cạn. Tôi tắt máy và hạ cửa kính, tự hỏi liệu người phụ nữ có hạ cửa kính xe cô ta và nói vài lời với tôi không. Tôi nhìn lại cô ta, cô ta chẳng hề xi nhê, đôi mắt cô ta vẫn kiên định, cho đến khi tôi nhìn qua hướng khác. Giờ thì có thêm nhiều người bán hàng rong xuất hiện, chưng ra tạp chí, thẻ điện thoại, khoai tây chiên, báo, Coke lon và bia Amstel Malta nhúng nước để trông có vẻ lạnh. Tay tài xế trước mặt tôi đang mua thẻ điện thoại. Người bán hàng, một cậu bé mặc áo Arsenal màu đỏ, lấy móng tay cào thẻ, rồi đợi tay tài xế nhập số vào điện thoại để đảm bảo cái thẻ không phải hàng giả.

Tôi quay lại nhìn người phụ nữ. Tôi bất giác nhớ tới lời của Chikwado về người tình của tôi trong ngày đầu tiên anh tới văn phòng chúng tôi: “Mặt anh ta hoàn toàn hải ngoại.” Người phụ nữ cũng có một khuôn mặt hoàn toàn hải ngoại, khuôn mặt của một người mà cuộc sống là một màn sương mờ dễ chịu. Có điều gì đó ở phiến môi của cô ta, được hoạ bằng chì kẻ môi làm từ bột ca cao, gợi lên một cảm giác vinh quang không trọn vẹn, như thể cô ta đã chiến thắng trong một trận đánh nhưng ngay từ đầu lại căm ghét việc phải chiến đấu. Có khi cô ta chính là vợ của người tình của tôi và cô ta vừa trở lại Lagos và mới phát hiện ra về tôi, và rồi, hệt như trong một trò hề tệ hại, kết cục lại ở ngay cạnh tôi trong cơn tắc đường. Nhưng vợ anh không thể nào biết được; anh đã vô cùng cẩn thận.

“Giá mà anh có thể,” anh luôn nói vậy, khi tôi muốn anh dành một buổi chiều thứ Bảy cùng tôi ở cửa hiệu Jazz Hole, hay khi tôi gợi ý chúng tôi đi chơi ở trung tâm Terra Kulture vào ngày Chủ Nhật, hay khi tôi hỏi xem chúng tôi có thể đi ăn tối ở một nhà hàng nào khác không. Chúng tôi chỉ luôn tới một nhà hàng trên con phố tối tăm Awolowo, một chỗ có những loại rượu đắt đỏ và chẳng có biển hiệu ở cổng ra vào. Anh nói “Giá mà anh có thể” cứ như là có hiện tượng kì vĩ và không thể cưỡng lại nổi của tự nhiên đã cản không cho anh xuất hiện công khai cùng tôi. Và bất khả cho anh giữ lại tin nhắn điện thoại của tôi. Tôi muốn hỏi làm sao mà anh có thể xoá ngay tin nhắn của tôi sau khi vừa đọc xong một cách hiệu quả đến vậy, tại sao anh không cảm thấy chút ham muốn giữ lại chúng trong điện thoại của mình, dủ chỉ vài giờ, dù chỉ một ngày. Viết ra những câu hỏi chẳng bao giờ được hỏi thì có mà tốn hàng gam giấy, chúng mắc lại như một mớ đá cuội thô ráp ở cổ họng tôi. Thật là một điều kì lạ khi cảm thấy quá gần gũi với một người đàn ông—để có thể kể với anh về nỗi oán giận của tôi dành cho cha mẹ, để dối trá một cách trắng trợn vì anh bằng một sự bất cần chẳng hề quen thuộc với tôi chút nào—mà vẫn chẳng thể hỏi anh những câu hỏi ấy, tôi như bị vây hãm bởi sự bất an và niềm khao khát không tên.

 

Lần đầu tiên chúng tôi cãi nhau, anh nói với tôi đầy buộc tội, “Em không khóc ư.” Tôi nhận ra rằng vợ anh thường khóc, rằng anh có thể chịu được nước mắt nhưng sự thách thức lạnh lùng của tôi thì không.

Chúng tôi cãi nhau vì tài xế của anh, Emmanuel, một người lớn tuổi có lẽ trông đã rất thông tuệ nếu vẻ mặt của ông ta không bị ngăn trở bởi sự bất mãn. Đó là một buổi chiều thứ Bảy. Hôm ấy tôi đi làm buổi sáng. Sếp tôi triệu tập một cuộc họp khẩn mà tôi cho là không cần thiết: tất cả chúng ta đều biết rằng Hoàng Tử, Oba(3) của thị trấn gần khu đầm phá, đang gây ra rắc rối, nói rằng Celnet Telecom đã khiến ông ta mất mặt trước thần dân của ông ta. Ông ta đã gửi rất nhiều thư hỏi về việc làm sao chúng ta dám xây một trạm phát sóng lớn trên phần đất của tổ tiên ông ta và chưa hết, lại chỉ đóng góp một cái giếng khoanbé tẹo cho thần dân của ông ta. Sáng hôm ấy, lính của ông ta đã chặn lối vào khu đất xây dựng của chúng ta, xô đẩy vài kĩ sư của chúng ta quanh đó, và chọc thủng lốp xe tải của họ. Sếp tôi rất tức giận, ông ấy đập bàn khi phát biểu trong cuộc họp. Tôi, sau đó, cũng đập lên cái bàn mây khi tôi bắt chước ông ấy, trong lúc người tình của tôi cười. “Đó là vấn đề với mấy kẻ cai trị vô thần, có truyền thống tôn thờ quỷ dữ,” sếp tôi nói. “Thằng đó là đồ tráo trở. Một thằng tráo trở bẩn thỉu! Một triệu naira chúng ta cho hắn thì sao chứ? Chúng ta nên mang hàng bịch gạo và đậu cho dân của hắn trước khi chúng ta khởi công trạm phát sóng à? Hắn muốn nguồn cung cấp bánh nhân thịt mỗi ngày à? Vô lý!”

“Bánh nhân thịt” làm Chikwado và tôi bật cười, mặc dù sếp chúng tôi không hề tỏ ra hài hước. “Tại sao không phải thứ gì phổ thông hơn, bánh mỳ chẳng hạn?” Chikwado thì thầm với tôi, và nhanh nhẹn giơ tay khi sếp chúng tôi hỏi có ai tình nguyện đến gặp Oba ngay không. Tôi không bao giờ tình nguyện. Tôi không thích những chuyến thăm viếng ấy—dân làng nhìn chúng tôi bằng ánh mắt kinh ngạc, thanh niên hỏi xin thẻ điện thoại miễn phí, thậm chí cả điện thoại miễn phí—bởi nó hoàn toàn làm tôi không khỏi cảm thấy mình quyền lực.

“Tại sao lại là bánh nhân thịt?” người tình của tôi hỏi, vẫn cười.

“Em làm sao mà biết được.”

“Thật ra thì, ngay bây giờ anh đang thèm ăn bánh nhân thịt.”

“Em cũng vậy.”

Chúng tôi cười, và cùng với vầng dương đang toả nắng, tiếng lũ chim trên đầu, sự phe phẩy của mấy tấm rèm va vào cánh cửa trượt, tôi đã nghĩ về những ngày thứ Bảy tương lai mà chúng tôi sẽ trải qua cùng nhau, cười đùa những chuyện hài hước về sếp của tôi. Người tình của tôi gọi Emmanuel và nói ông ta chở tôi tới siêu thị để mua bánh nhân thịt. Khi tôi lên xe, Emmanuel chẳng hề chào hỏi gì tôi. Ông ta đơn giản là vào việc luôn. Đây là lần đầu tiên ông ta chở tôi mà không có người tình của tôi đi cùng. Sự im lặng hơi ngột ngạt. Có lẽ ông ta nghĩ rằng tôi còn ít tuổi hơn con cái ông ta.

“Tốt rồi, chú Emmanuel!” cuối cùng tôi nói, mở lời với ông ta bằng vẻ tươi sáng giả tạo. “Chú có biết cái siêu thị trên đường Kofo Abayomi không ạ?”

Ông ta chẳng nói chẳng rằng và khởi hành. Khi chúng tôi tới nơi, ông ta dừng ở cồng. “Xuống đây đi, để tôi đi đỗ xe,” ông ta nói.

“Chú thả cháu ở sảnh được không,” tôi nói. Tài xế nào cũng làm vậy, trước khi tìm chỗ đỗ xe.

“Xuống đây đi.” Ông ta vẫn chẳng buồn nhìn tôi. Cơn giận bùng lên trong tôi, khiến tôi cảm thấy bị xua đuổi và khô kiệt máu trong người, bị hút sạch không khí; tôi không thể cảm nhận mặt đất dưới chân mình khi bước ra khỏi xe. Sau khi chọn được vài cái bánh nhân thịt trong tủ kính, tôi gọi người tình của mình và kể cho anh rằng Emmanuel đã rất thô lỗ và tôi sẽ đi taxi về.

“Emmanuel nói đường rất xấu,” người tình của tôi nói khi tôi quay lại, bằng giọng hoà giải.

“Lão ta sỉ nhục em,” tôi nói.

“Không, ông ấy không có ý đó. Có thể là ông ấy không hiểu em.”

Emmanuel đã cho tôi thấy sức mạnh của vợ của người tình của tôi; ông ta sẽ không thô lỗ như vậy nếu ông ta biết sợ việc ông ta có thể bị trách phạt. Tôi chỉ muốn ném luôn túi bánh nhân thịt qua cửa sổ cho rồi.

“Đó là việc anh vẫn làm đấy à, để cho tài xế của anh nhắc nhở các bạn gái của anh về vị trí của họ?” Tôi tru tréo và tôi không thích bản thân mình như vậy chút nào. Tệ hơn nữa, tôi phát hoảng khi nhận ra nước mắt đang tuôn rơi. Người tình của tôi nhẹ nhàng ôm trọn lấy tôi, như thể tôi là một đứa trẻ ngỗ nghịch, và hỏi liệu tôi có cho anh một cái bánh nhân thịt hay chăng.

“Anh đã đưa cả những cô gái khác về đây, phải không?” tôi hỏi, không hoàn toàn rõ làm sao mà chuyện này lại quay ra thành nói về những cô gái khác.

Anh lắc đầu. “Không, anh chưa từng làm thế. Không nói chuyện này nữa. Ăn bánh nhân thịt và xem một bộ phim thôi nào.”

Tôi thả mình được vỗ về, được ôm ấp, được mơn trớn. Sau đó, anh nói, “Em biết đấy, anh mới chỉ có hai lần ngoại tình kể từ khi anh kết hôn thôi. Anh không như những thằng khác.”

“Anh nói nghe như là anh thấy anh xứng đáng được trao thưởng vậy,” tôi trả lời.

Anh cười. “Cả hai người họ đều giống em.” Anh dừng lại để tìm từ, và khi nghĩ ra, anh nói đầy vui thích. “Bốc đồng. Họ đều bốc đồng giống như em.”

Tôi nhìn anh. Làm sao mà anh lại không thấy rằng có những điều anh không nên nói với tôi, và rằng có những điều tôi mong mỏi được có với anh? Đó là sự mù quáng có chủ đích; chắc chắn là như vậy. Anh lựa chọn không thấy. “Anh đúng là đồ khốn,” tôi nói.

“Hả?”

Tôi nhắc lại.

Trông anh như vừa bị côn trùng cắn. “Cút đi. Biến khỏi căn nhà này ngay lập tức,” anh nói, và rồi lẩm bẩm, “Thật không thể chấp nhận được.”

Tôi chưa từng bị đá đít khỏi ngôi nhà nào bao giờ. Emmanuel ngồi trên một chiếc ghế trong bóng mát của gara và giương khuôn mặt trơ như tượng đá ra nhìn tôikhi tôi hối hả tiến về chỗ xe của mình. Người tình của tôi không gọi cho tôi trong năm ngày, và tôi cũng chẳng gọi cho anh. Khi mà cuối cùng thì anh cũng chịu gọi, câu đầu tiên của anh là “Có hai con bồ câu trên cây phượng. Anh muốn em thấy chúng.”

“Anh đang làm ra vẻ chẳng có chuyện gì xảy ra cả.”

“Anh đã gọi em,” anh nói, cứ như bản thân cuộc gọi đã là một lời xin lỗi. Sau đó, anh nói với tôi rằng nếu lúc ấy tôi khóc thay vì gọi anh là thằng khốn thì anh đã hành xử tử tế hơn. Tôi không nên quay lại—tôi hiểu ra ngay sau đó.

 

Người phụ nữ, vẫn nhìn tôi chằm chằm, đang nói chuyện điện thoại. Chiếc xe jeep của cô ta màu đen pha với bạc và màu nhiệm thay không có vết xước nào. Làm sao mà điều đó lại thành hiện thực được ở thành phố này cơ chứ, nơi mà chiếc okada(4) này nối đuôi chiếc okada kia phóng qua những khe hẹp ở giữa các xe hơi khi tham gia giao thông như thể xe máy có thể thu bé lại vừa với bất kì khe hở nào? Có thể mỗi lần xe cô ta bị va quệt thì lại có một thợ máy hạ phàm từ trên trời cao và làm vết móp biến mất. Chiếc xe trước mặt tôi có một vết cắt ở chỗ đèn hậu; trông giống như một trong rất nhiều xe bị rò dầu, biến đường phố trở thành một tấm giấy trơn trượt mỗi khi trời mưa. Xe của tôi bị thương khắp mình mẩy. Vết to nhất, cái thanh cản bị vỡ tung, do một chiếc taxi đâm vào tôi ở chỗ đèn đỏ trên phố Kingsway một tháng trước. Gã tài xế nhảy khỏi xe, áo sơ mi phanh ra, ra vẻ hùng hổ mướt mải, và gào lên với tôi.

“Con ngu này! Mày đúng là cái loại phiền phức đầy ngoài đường. Sao mày lại dừng như thế hả? Quá vô lý!”

Tôi nhìn gã, kinh ngạc, cho đến khi gã lái xe bỏ đi, và rồi tôi mới bắt đầu nghĩ về việc lẽ ra mình có thể nói gì, lẽ ra mình có thể mắng lại thế nào.

“Nếu mày đeo nhẫn cưới, hắn còn lâu mới dám quát vào mặt mày như thế,” Chikwado nói khi tôi kể cho nó, khi nó ấn nút gọi lại trên chiếc điện thoại bàn. Ở quán cafe tự phục vụ, nó kể chuyện ấy cho các đồng nghiệp của chúng tôi. À, à, thằng ngu! Tất nhiên là hắn gào lên vì hắn biết hắn sai lè rađấy là kiểu Lagos. Hắn nghĩ là hắn có thể nói tiếng Anh đao to búa lớn. Thậm chí hắn học ở đâu ra cái từ “phiền phức” vậy? Họ chép miệng, kể những câu chuyện của riêng họ về cánh tài xế taxi, rồi trạng thái kích động của họ xìu dần và họ bắt đầu nói, thấp giọng và hứng thú, về một loại bánh quy cầu tự mà vị mục sư mới ở Nhà thờ Redemption trao cho phụ nữ.

“Hiệu nghiệm với chị gái tôi đấy. Đầu tiên chị ấy thực hiện chế độ kiêng nước trong hai ngày, rồi vị mục sư thực hiện một nghi lễ cầu nguyện giải thoát đặc biệt cho chị ấy trước khi chị ấy ăn cái bánh quy. Chị ấy phải ăn vào đúng nửa đêm. Tháng sau, ngay tháng sau, chị ấy không có kinh, tôi đã nói rồi mà,” một trong số họ, một nhân viên hợp đồng đang học cao học bán thời gian ở Ibadan, nói.

“Đó có đúng là một cái bánh quy không vậy?” một người hỏi.

“Bây giờ thì đúng. Nhưng họ ban phước cho các nguyên liệu trước khi họ làm bánh. Chúa có thể làm được mọi điều, sha(5). Tôi nghe nói một mục sư còn dùng cả khăn tay.”

Tôi nhìn đi chỗ khác và tự hỏi người tình của tôi sẽ pha trò gì khi nghe được chuyện này. Anh đang về thăm gia đình ở Mỹ trong hai tuần. Tối hôm đó, anh nhắn tin cho tôi. “Đang ở buổi hoà nhạc cùng vợ anh. Âm nhạc tuyệt mỹ. Mười phút nữa sẽ gọi em và để điện thoại bật để em có thể nghe được. CwithaD.” Tôi đọc hai lần và rồi, mặc dù tôi lưu lại tất cả các tin nhắn khác của anh, tôi xoá nó đi, như thể tôi làm thế để vờ như tin nhắn ấy chưa từng được gửi đi. Khi anh gọi, tôi để mặc điện thoại đổ chuông và đổ chuông. Tôi hình dung họ ở buổi hoà nhạc, vợ anh vươn ra để nắm tay anh, bởi tôi không thể chịu nổi ý nghĩ rằng có thể chính anh mới là người vươn ra. Rồi tôi biết anh không tài nào có thể thấy tôi, con người thực tế khắc nghiệt của tôi; thay vào đó, tất cả những gì anh thấy là chính bản thân anh trong một cuộc chơi kỳ thú.

Anh trở lại sau chuyến đi, mang đôi giày tôi không nhận ra, làm bằng da nâu cao cấp và mũi thuôn hơn nhiều so với những đôi khác của anh, gần như là nhọn một cách nhố nhăng. Anh đang trong tâm trạng bay bổng, xoay tôi vòng vòng khi chúng tôi ôm nhau, mơn trớn những lọn tóc cuộn chặt ở gáy tôi và nói, “Mềm quá.” Anh muốn ra ngoài ăn tối, anh nói, vì anh có một điều ngạc nhiên dành cho tôi, và khi anh đi vào phòng tắm, một trong mấy cái điện thoại của anh reo vang. Tôi cầm nó lên và nhìn tin nhắn của anh. Đó là điều mà trước đây tôi chưa bao giờ nghĩ mình sẽ làm, vậy mà bỗng nhiên tôi cảm thấy không thể cưỡng lại được. Những tin nhắn nối tiếp nhau trong hộp thư “đã gửi” gửi tới Baby. Tin nhắn gần nhất nói anh đã đến nơi an toàn. Điều giáng thẳng vào tôi không phải là anh thường xuyên nhắn tin cho vợ thế nào, hay những tin nhắn ngắn gọn ra sao—”kẹt xe,” “nhớ em,” “gần tới rồi”—mà là tất cả đều kí tên “CwithaD”. Trong tôi, điều gì đó chùng xuống. Phải chăng anh đã biên đạo một cuộc chuyện trò với cô ta, lanh trí pha trò về một “con gà trống có cu (ND:cock with a dick)” và rồi tìm ra cách để đưa nó trở thành một mật ngữ tình yêu của hai người bọn họ? Tôi nghĩ về nỗ lực cần có để thực hiện việc đó. Tôi đặt chiếc điện thoại xuống và liếc về phía gương, nửa mong đợi nhìn thấy chính mình hiện hình thành một con rối sóng soài, không dây.

Trên xe, anh hỏi, “Có gì không ổn à? Em có khoẻ không vậy?”

“Em không thể tin nổi là anh gọi em để em có thể nghe được bản nhạc mà anh và vợ anh đang nghe.”

“Anh làm thế vì anh rất nhớ em,” anh nói. “Anh thực sự muốn ở đó cùng em.”

“Nhưng anh không ở đó cùng em.”

“Em đang không có tâm trạng tốt.”

“Anh không hiểu à? Anh không ở đó cùng em.”

Anh nhoài người và cầm tay tôi, cọ ngón cái của anh vào lòng bàn tay tôi. Tôi nhìn ra con phố mờ ánh đèn. Chúng tôi đang trên đường tới nhà hàng ẩn mình quen thuộc, nơi tôi đã ăn tất cả các món trong menu đến cả trăm lần. Một con muỗi, giờ thì lờ vờ với đẫy máu của tôi, kẹt ở trong xe. Tôi vỗ vào người mình để cố đập nó.

“Chào buổi tối, thưa ngài,” người bồi bàn nói khi chúng tôi yên vị. “Rất hân hạnh được đón tiếp ngài, thưa ngài.”

“Anh có nhận ra là họ chẳng bao giờ chào em không?” tôi hỏi người tình.

“Chà . . .” anh nói, và chỉnh lại mắt kính.

Người bồi bàn quay lại, một anh chàng có gương mặt tỉnh táo với phong thái lịch thiệp, và tôi đợi cho đến khi anh ta mở chai rượu vang trước khi tôi hỏi, “Tại sao anh không chào tôi?”

Người bồi bàn liếc người tình của tôi, như thể tìm kiếm lời cứu cánh, điều này càng khiến tôi bực thêm. “Tôi vô hình à? Tôi là người đặt câu hỏi cho anh. Tại sao tất cả bồi bàn các người và người mở cổng và cả tài xế ở cái Lagos này đều từ chối chào hỏi tôi? Anh không nhìn thấy tôi à?”

“Mười phút nữa quay lại nhé,” người tình của tôi nói với người bồi bàn bằng giọng lịch sự, thâm trầm. “Em cần bình tĩnh lại,” anh bảo tôi. “Em có muốn chúng ta đi không?”

“Tại sao họ không chào em?” tôi hỏi, và hớp luôn nửa ly rượu.

“Anh có một điều ngạc nhiên cho em. Anh đã mua cho em một chiếc xe mới.”

Tôi nhìn anh trống rỗng.

“Em có nghe thấy không?” anh hỏi.

“Em nghe thấy rồi.” tôi lẽ ra phải đứng dậy và ôm lấy anh và nói với anh rằng lịch sử sẽ nhớ về anh dưới tư cách một con người vĩ đại. Một chiếc xe mới. Tôi uống thêm rượu.

“Em đã kể với anh về chuyến đi buýt đầu tiên của em khi em mới tới Lagos, sáu năm trước chưa nhỉ?” tôi hỏi. “Khi em lên xe buýt, một cậu trai đang hét lên choáng váng vì một người lạ tìm thấy cái ví bị mất của cậu ta và trả lại cho cậu ta. Cậu trai trông giống như em, một người tươi trẻ, háo hức tìm việc, và cậu ta, hẳn cũng ở quê lên với hành trang đầy những lời nhắc cảnh giác. Anh biết tất cả những gì mọi người dặn anh: không cho tiền những kẻ ăn xin ngoài phố vì chúng chỉ giả vờ bị què thôi; xem cho kĩ những tháp cà chua vì lũ bán hàng rong thường giấu những quả thối ở phía dưới; đừng giúp những người bị hỏng xe, vì chúng thật ra là bọn cướp có vũ trang. Và rồi ai đó tìm thấy ví của cậu ta và trả lại cho cậu ta.”

Người tình của tôi trông rất hoang mang.

“Nghi thức bất tín,” tôi nói. “Đó là cách chúng ta liên kết với người khác ở đây, thông qua nghi thức bất tín. Anh có biết em đã cẩn thận theo dõi đồng hồ xăng thế nào khi em đi đổ xăng để đảm bảo người nhân viên không gian lận? Chúng ta biết luật lệ và chúng ta tuân thủ luật lệ, và chúng ta chẳng bao giờ chừa chỗ cho những điều chúng ta không hình dung ra. Chúng ta đóng cửa quá sớm.” Tôi cảm thấy hơi ngu si một chút, nói những điều tôi biết anh không hiểu và không muốn hiểu, và cũng một chút hèn kém, nói những điều đó theo cách của tôi. Anh thả lỏng khuỷu tay trên bàn, quan sát tôi, và tôi biết tất cả những gì anh muốn là sự phấn khích của tôi, lòng biết ơn của tôi, những câu hỏi của tôi xem bao giờ tôi có thể được nhìn chiếc xe mới. Tôi bắt đầu khóc, và anh âu yếm ôm tôi tựa vào hông anh. Mũi tôi đang nhảy và mắt tôi ngứa khi tôi chùi bằng khăn ăn. Tôi chẳng bao giờ rơi những giọt lệ đài trang, và tôi tưởng tượng rằng vợ anh thì có; cô ta có lẽ là một trong những người phụ nữ có thể để nước mắt trượt xuống cằm, giữ cho lớp trang điểm nguyên vẹn, mũi thì khô nguyên.

 

Dòng xe đã bắt đầu di chuyển được một chút. Tôi thấy một chiếc okada trong gương chiếu hậu, đang lao đến rất nhanh, lạng lách và còi inh ỏi, và tôi chờ nghe tiếng động khi nó va vào xe tôi. Nhưng không. Người cầm lái đội mũ bảo hiểm, trong khi người ngồi sau chỉ đơn thuần là giữ hờ mũ của cô ta trên đầu—lớp xốp hôi rình bên trong sẽ làm hỏng tóc cô ta—đủ gần để cô ta có thể sụp nó xuống khi thấy một sĩ quan LASTMA(6) trên đường. Người tình của tôi có lần gọi nó là thuyết tiền định (fatalism). Anh phát mũ bảo hiểm miễn phí cho tất cả nhân viên của mình, nhưng phần lớn bọn họ vẫn trèo lên okada mà chẳng thèm đội. Ngày trước, một chiếc okada, tay lái xe để đầu trần và phóng điên dại, đã va vào tôi khi tôi khi tôi rẽ lên đường Ogunlanal; tay lái xe mút chặt ngón tay trong miệng và miết lên vết xước trên xe của tôi. “Dì Hai, rất xin lỗi ạ! Xe không sao đâu dì,” anh ta nói, và tiếp tục chuyến đi của mình.

Tôi cười. Tôi đã không cười trong ba tuần kể từ khi tôi rời chỗ làm vào giờ nghỉ trưa và lái xe tới nhà người tình của mình. Tôi đã đóng gói tất cả quần áo, sách, đồ dùng vệ sinh cá nhân và trở về căn hộ của mình, khi đi trên đường tôi nhận thức được Lagos trở nên xấu xí không có hồi kết đến thế nào, với những căn nhà mọc lên như cỏ dại chẳng theo quy hoạch gì cả.

Suốt ba tuần ấy, tôi rất kiệm lời ở chỗ làm. Văn phòng của chúng tôi bỗng dưng trở nên rất kém thoải mái, điều hoà luôn quá lạnh. Hoàng Tử, Oba của thị trấn gần khu đầm phá, đang đòi thêm tiền; hội đồng thị trấn của ông ta đã thảo một lá thư nói rằng cái giếng khoanđang phụt lên dòng nước nhuốm đen. Sếp tôi triệu tập cực nhiều cuộc họp.

“Cùng nhau tạ ơn nào,” ông ấy nói sau một cuộc họp.

“Tại sao chúng ta lại nên cầu nguyện ở nơi làm việc vậy?” tôi hỏi. “Tại sao ông lại khăng khăng cho rằng tất cả chúng ta đều là tín đồ Công giáo?”

Trông ông ấy thảng thốt. Ông ấy biết tôi chẳng bao giờ tham gia, chẳng bao giờ nói “Amen,” nhưng tôi chưa bao giờ lên tiếng về chuyện này.

“Không phải vì bị thúc ép mà người ta mới tham gia tạ ơn Thiên Chúa,” ông ấy nói, và rồi nói tiếp một hơi, “Nhân danh Chúa Jesus!”

“Amen!” những người khác đồng thanh.

Tôi quay lưng rời khỏi phòng họp.

“Đừng đi,” anh đồng nghiệp Gerald thì thầm với tôi. “Akin mang bánh sinh nhật của cậu ấy tới.”

Tôi bước ra khỏi phòng họp cho đến khi cuộc cầu nguyện kết thúc, sau đó chúng tôi hát “Chúng mừng Sinh nhật” Akin. Chiếc bánh của cậu ta trông đúng là loại không phô trương mà tôi thích, chắc là mua ở Sweet Sensation, loại mà thi thoảng có vương một chút vỏ trứng bị bỏ quên trong bánh. Sếp chúng tôi bảo cậu ta để cho tôi hay Chikwado cắt bánh.

“Tại sao chúng tôi lúc nào cũng phải cắt bánh?” tôi hỏi. “Lần nào có ai mang bánh đến, cũng đều là Chikwado cắt hoặc tôi cắt. Anh, Gerald, cắt bánh đi. Hoặc em, Emeka, em là người ít tuổi nhất.”

Họ nhìn tôi. Chikwado vội đứng dậy và bắt đầu cắt bánh. “Xin đừng bận tâm đến lời cô ấy nói,” nó nói với mọi người, nhưng mắt nó thì hướng về ông sếp. “Cô ấy sử xự như vậy vì hôm nay chưa uống thuốc thần kinh.”

Về sau, nó bảo tôi, “Tại sao mày lại hành xử kì cục vậy? Có vấn đề gì? Chuyện gì xảy ra với giai của mày phải không?”

Trong một tích tắc, tôi muốn kể cho nó cảm giác của tôi: như thể từng mảng da của tôi trở nên nhăn nheo và nứt nẻ và bong tróc, để lộ những mảng thịt sống quá mức đớn đau mà tôi không biết phải làm gì. Tôi muốn kể cho nó tôi thường nhìn chằm chằm vào điện thoại ra sao, mặc dù anh đã gửi hai tin nhắn uỷ mị nói rằng anh không hiểu tại sao tôi lại bỏ đi và rồi chẳng có thêm gì nữa; và tôi nhớ tường tận, quá mức tường tận, hương thơm của loại giấy ướt anh vẫn thường dùng để lau mắt kính thế nào. Tôi không kể cho nó, vì tôi biết chắc nó sẽ trao ngay cho tôi một phần cái trí tuệ bé mọn của nó, như kiểu “Nếu mày trông thấy lửa và mày cho tay vào, thì ngọn lửa sẽ thiêu đốt mày.” Vẫn có sự mềm mại trong cách diễn đạt của nó, điều gì đó giống như lòng cảm thông, khi tôi ngước lên từ màn hình máy tính và thấy nó đang quan sát tôi trong khi tay nó tự vỗ, vỗ, vỗ vào đầu. Tóc nó tết kiểu mới, quá dài và quá giả, với những lọn màu đỏ đem tới liên tưởng về mấy con búp bê nhựa rẻ tiền. Nhưng vẫn có một điều thành thực về nó; Chikwado làm chủ mái tóc của mình theo cách mà người phụ nữ trên chiếc xe jeep không thể với mái tóc Brazil của cô ta.

Một thằng nhóc tiến lại gần xe của tôi, mang theo một chai xịt nước xà phòng và một cái khăn. Tôi bật cần gạt nước để làm nản lòng nó, nhưng nó vẫn phun nước lên kính chắn gió của tôi. Tôi tăng tốc độ cần gạt nước. Thằng nhóc lườm tôi rồi di chuyển qua chiếc xe phía sau. Tôi bị một thôi thúc bất thần xâm chiếm muốn bước ra khỏi xe và tát nó. Trong một khoảnh khắc, mắt tôi nhoà đi. Kẻ tôi thực sự muốn cho ăn tát là người phụ nữ. Tôi quay về phía chiếc xe jeep của cô ta, vì cô ta đang nhìn đi nơi khác, tôi bấm còi. Tôi nhoài người ra khỏi cửa sổ xe.

“Có vấn đề gì với cô vậy? Sao cô cứ nhìn tôi mãi vậy? Tôi nợ gì cô à?” Tôi hét lên.

Dòng xe bắt đầu di chuyển. Tôi nghĩ cô ta sẽ hạ kính cửa sổ xe xuống. Cô ta hành động như thể nghiêng mình về phía ấy, rồi quay đi, nụ cười mỏng manh nhất trên khuôn mặt cô ta, đầu cô ta ngẩng cao, và tôi chứng kiến chiếc xe jeep tăng tốc hướng về phía chiếc cầu.


(1) ND: nguyên văn tiếng Nigieria, nghĩa là: Trời ơi!

(2) ND: đơn vị tiền tệ Nigieria.

(3) ND: nguyên văn tiếng Nigieria, nghĩa là: Đức Ông.

(4) ND: nguyên văn tiếng Nigieria, nghĩa là: xe máy.

(5) ND: nguyên văn tiếng Nigieria, nghĩa là: bạn thân mến.

(6): ND: LASTMA – Lagos State Traffice Management, Sở cảnh sát giao thông Lagos.

Copyright © 2010 by Chimamanda Ngozi Adichie.

ThKh chuyển ngữ không có sự đồng ý của tác giả.

———-

ThKh – 2019

ThKh là một bút danh khác của ChuKim, một người viết tự do, sống và yêu tại một ngôi làng mang tên thành phố. Nếu có thể, hãy ủng hộ và khích lệ bằng cách đọc và chia sẻ những gì anh viết trong khả năng của bạn. Xin cảm ơn.

– natchukim.cogaihu@gmail.com –

PS: Tất cả nội dung trong blog này đều được tuyên bố quyền sở hữu và quyền tác giả về nội dung, ngoại trừ những bài sưu tầm có đề rõ. Mọi trích dẫn, đăng lại, vui lòng ghi rõ nguồn. 

 

Một người bạn thưở nhỏ

Lúc nhỏ, tôi có mấy đứa bạn là con của bạn bố mẹ tôi, giống như ai ai cũng đều có những đứa bạn như vậy. Chúng tôi không gặp nhau hàng ngày như bạn hàng xóm hay bạn học trên trường, chúng tôi chỉ gặp nhau mỗi khi người lớn cho gặp nhau, có thể là họ ghé qua nhà thăm hỏi nói dăm ba câu chuyện, cho bọn trẻ con chơi với nhau, có thể là một dịp cơ quan đi nghỉ mát hay phát phần thưởng cho mấy đứa học hành tử tế lúc cuối năm học, cũng có thể là một cuộc họp lớp, giống như đám bạn tôi bây giờ vác theo một lũ lít nhít mỗi lần có dịp tụ bạ.

Tôi nhớ mãi lần cuối cùng tôi gặp thằng Vũ.

Thật tình, tôi không nhớ chính xác tên nó, vắt óc nghĩ không ra, tôi thả lỏng tinh thần, cố chuồi trong cơn say chuếnh choáng, chập chờn của dòng thác hồi ức miền thơ ấu xa xăm vừa chợt hiện về trong cái nắng chiều oi ả, cuối cùng thì tôi mang máng rằng mẹ tôi hay kể chuyện cho tôi về nó, mẹ tôi gọi nó là thằng Vũ. Có lẽ vậy. Thôi, cứ tạm gọi nó là thằng Vũ, đặt cho bạn một cái tên viết tắt đại khái, tôi không đành lòng.

Bố mẹ tôi có mấy người bạn mà tôi quen mặt. Tôi thường nhớ về họ theo kiểu chú Thắng là bố thằng Thái, thằng Long; cô Linh là mẹ chị Lan, cái Lan Anh; đại loại như vậy. Thằng Vũ là con chú Huy. Lục lại kí ức, tôi nhớ mình chỉ gặp cha con chú Huy thằng Vũ dăm ba lần. Tôi nhớ, hai cha con họ rất đẹp. Chú Huy tóc xoăn bồng bềnh, dáng xương xương dong dỏng, mắt sâu, mũi cao, gương mặt cũng góc cạnh như thân hình, cười cười nhìn chúng tôi. Thằng Vũ giống bố, nhưng nó trắng trẻo, rất trắng trẻo, tới mức nom nó hơi giống một đứa con gái ăn vận gọn gàng theo kiểu con trai. Có lần chú Huy dẫn nó tới nhà tôi chơi. Tôi mặc đồ ở nhà, tóc tai loà xoà, người ngợm đen nhẻm vì hay dang nắng chạy chơi. Đứng cạnh nhau, trông cứ như cậu ấm và thằng bé người ở. Thằng Vũ cũng gầy gầy như tôi, nó rất hiền, ngồi chơi với anh em tôi, nó nói năng nhỏ nhẹ, đến cười cũng không lấy làm ồn ã, không như mấy thằng bạn khác của tôi, dù mới gặp nhau nhưng có thể sà vào chơi chung rất náo nhiệt.

IMG_4226

Nhà tôi ngày ấy.

Tôi nhớ mãi thằng Vũ, vì lúc ấy chúng tôi học mẫu giáo hay lớp một gì đó, là mấy thằng trẻ con lít nhít, vậy mà ánh mắt thằng Vũ đã phảng phất nét buồn bã tới mức khiến tôi khựng lại, trong lòng dâng lên mỗi nỗi niềm không thể gọi tên. Trong đời, đi qua những năm tháng thơ bé cho tới khi đã gần nửa đời người, tôi bắt gặp không ít cặp mắt u buồn, có thể là những cặp mắt buồn gợi lên thứ tình cảm trai gái đầy day dứt, có thể là những cặp mắt buồn mang nỗi lòng trăn trở cho thời cuộc, cặp mắt buồn của đứa con thiếu vắng mẹ cha, nỗi buồn nào của người khác cũng đầy ám ảnh và đọng lại rất lâu ở một góc sâu kín nào đó trong lòng. Nhưng chẳng có cái nhìn buồn bã nào khiến tôi nhớ nhiều như ánh mắt thằng Vũ. Đôi mắt của nó thật đẹp, cái liếc mắt, cái nhướn mày, cái híp híp toét miệng cười, đó là đôi mắt mà bây giờ tôi gọi tên là đôi mắt mơ màng, lãng đãng như gió như mây. Lúc ấy năm, sáu tuổi, tôi không cắt nghĩa nổi, tôi chỉ nhớ, khi ấy tôi nghĩ, thằng bạn này chắc nó lớn hơn mình nhiều lắm.

Khi cha con chú Huy thằng Vũ đã về, mẹ tôi mới kể, bạn Vũ đấy bạn ấy bị ốm đấy, khổ thân thằng bé, ngoan ngoãn đẹp trai như thế. Tôi hỏi ốm nặng hả mẹ, mẹ tôi bảo ừ, bạn bị ốm nặng lắm, nên bạn không khoẻ như các con đâu. Một vài lần gặp sau đó, thằng Vũ vẫn vậy, vẫn trong dáng vẻ nhỏ nhẹ u sầu, vẫn đẹp đẽ như một thiên thần tóc xoăn với gương mặt thanh tú. Tôi nhớ lời mẹ dặn, chẳng bao giờ rủ nó tham gia chạy nhảy hò hét những trò chơi trẻ con thời ấy.

Một buổi tối mùa đông, bố mẹ đưa tôi ra đường, khăn áo kín mít, trời rét căm căm như những mùa đông thường lệ trên đất Bắc. Tôi không biết đi đâu, cho tới khi đến bệnh viện. Tôi hỏi mẹ, không đi chơi hả mẹ? Mẹ tôi trả lời, vào đây thăm bạn Vũ một tí đã, bạn Vũ con chú Huy, con nhớ không? Tôi gật đầu, tôi nhớ chứ, đã có lúc nào tôi quên thằng Vũ đâu.

Thằng Vũ nằm đó, trong bộ đồ màu trắng, dây nhợ chằng chịt nối lên giường bệnh của nó, găm thẳng vào người thằng bạn buồn bã của tôi. Lúc cả nhà tôi đến, chú Huy đang nắm tay thằng Vũ, trông nó vẫn trắng, nhưng xanh xao, yếu ớt. Tôi chào bố mẹ thằng Vũ, rồi im lặng, từ đầu đến cuối tôi chỉ im lặng. Mẹ tôi bảo con hỏi thăm bạn đi. Tôi đứng ngây ra đó, nhìn nó, chẳng nói lời nào. Tôi còn chẳng dám tiến lại sát bên giường thằng Vũ. Rồi tôi theo bố mẹ tôi và chú Huy ra hành lang nói chuyện. Tôi nhìn vào cửa sổ phòng bệnh trổ ra hành lang, thấy thằng Vũ đang thiếp đi, đôi mắt buồn đặc trưng của nó khép lại, chìm dần vào giấc ngủ. Đó là lần đầu tiên tôi chứng kiến đôi mắt ấy trong lúc ngủ, tôi chẳng biết có phải vì ấn tượng về nỗi buồn mà nó đem lại hay không, mà tôi vẫn thấy sao đến cả lúc này, trông nó vẫn bi ai đến thế..

Đó là lần cuối cùng tôi gặp thằng Vũ. Một thời gian sau, tôi không nhớ cụ thể là bao lâu, mẹ tôi bảo, bạn Vũ, bạn ấy chết rồi đấy. Tôi quay ra nhìn mẹ tôi, sao mà chết hả mẹ? Bạn bị ung thư máu. Tôi không biết ung thư là gì, ung thư máu nghe lại càng xa lạ. Chắc hẳn đó phải là một căn bệnh khủng khiếp lắm. Mẹ tôi kể, thằng bé ấy nó biết nó bệnh nặng đấy, trẻ con nó cảm nhận, nó biết hết, nên nó ngoan lắm, nó thương bố mẹ nó lắm. Trước lúc chết, nó còn nói với mẹ nó..

Thằng Vũ nói gì với mẹ nó, tôi không còn nhớ nữa. Tai tôi ù đi khi cố tìm lại câu nói của bạn tôi với mẹ nó, ở độ tuổi lên sáu, lên bảy.

Một đứa bé với hình dáng của một con người tài hoa, với một tâm hồn có lẽ là rất đẹp, với ánh mắt khiến một đứa bé khác là tôi ghi khắc trong lòng đến tận giờ, khi đã ngoài ba mươi tuổi. Đứa bé ấy đã vĩnh viễn không có cơ hội trong cuộc sống này.

Đến khi ấy, tôi mới hiểu tại sao hôm đó bố tôi lấy máy ảnh ra chụp mấy đứa chúng tôi ngồi chơi trong phòng khách. Hiểu ra rồi thì ân hận vì không chịu nghe lời người lớn ngồi cạnh nhau ngay ngắn chụp lấy kiểu ảnh làm kỉ niệm. Tôi còn nghe bố mẹ tôi kể lại chuyện về thằng Vũ một đôi lần. Thế rồi bẵng đi, chẳng còn ai nhắc tới nó nữa. Sau này, tôi gặp thêm vài đứa bé có cặp mắt mơ màng, tôi nói đùa, kiểu này lớn lên thì đa tình phải biết, cha mẹ nó cười, nhiều bạn gái lắm chú ạ.

Tôi đã từng nghĩ, tôi sẽ nhớ về thằng Vũ rất lâu, rất lâu. Thế mà hôm nay, tôi nghĩ hoài không ra tên bạn. Tôi hỏi bố tôi, ông cũng không nhớ. Vũ ơi, vậy là cuối cùng, kí ức về cậu sẽ mãi mãi chỉ còn là ánh mắt ấu thơ năm nào, cùng nỗi buồn chẳng thể gọi tên.

———-

ChuKim – 2019

ChuKim là bút danh của một người viết tự do, sống và yêu tại một ngôi làng mang tên thành phố. Nếu có thể, hãy ủng hộ và khích lệ bằng cách đọc và chia sẻ những gì anh viết trong khả năng của bạn. Xin cảm ơn.

– natchukim.cogaihu@gmail.com –

PS: Tất cả nội dung trong blog này đều được tuyên bố quyền sở hữu và quyền tác giả về nội dung, ngoại trừ những bài sưu tầm có đề rõ. Mọi trích dẫn, đăng lại, vui lòng ghi rõ nguồn.

Tán gái (1)

Hôm qua ra ngõ

Gặp một cô gái xinh xinh

Thoáng qua tôi đã

Kịp đưa ánh mắt cười tình

 

Cô ta dại lắm

Đỏ bừng đôi má yêu tinh

Làm tôi chợt thấy

Thế gian thêm một chính mình

 

Tôi không buồn ngại

Này cô làm rớt chữ trinh

Cô ta cau mặt

Sao anh ăn nói bực mình

 

Cười buồn tôi bảo

Là tôi lấy cớ tàng tinh

Chứ còn chữ ấy

Lòng tôi chẳng muốn thập thình

Thôi đừng tức nữa

Chuyện đời ai nỡ lặng thinh

Chỉ trong khoảnh khắc

Thiên thu vén tóc là tình

IMG_7792

#phuquoc2019

———-

ChuKim – 2019

 

ChuKim là bút danh của một người viết tự do, sống và yêu tại một ngôi làng mang tên thành phố. Nếu có thể, hãy ủng hộ và khích lệ bằng cách đọc và chia sẻ những gì anh viết trong khả năng của bạn. Xin cảm ơn.

 

– natchukim.cogaihu@gmail.com –

 

PS: Tất cả nội dung trong blog này đều được tuyên bố quyền sở hữu và quyền tác giả về nội dung, ngoại trừ những bài sưu tầm có đề rõ. Mọi trích dẫn, đăng lại, vui lòng ghi rõ nguồn.