(Bài viết được đăng tải lần đầu tại ZzzReview. Toàn bộ ảnh trong bài được lấy từ internet và bản quyền hình ảnh thuộc về người chụp. Xin trân trọng cảm ơn.)
Thi thoảng chơi trò hai sự thật và một lời nói dối với bạn bè, tôi thường đưa ra đề bài: tôi vẽ tranh mỗi khi lâm vào bế tắc, tôi đọc truyện tranh mỗi ngày, và tôi biết nấu ăn. Có người đoán việc tôi đọc truyện tranh là bốc phét, có người cho rằng tôi không biết nấu ăn, tất cả đều tin rằng cái ngữ tôi thì chắc sẽ vẽ tranh để giải phóng nỗi lòng. Thành thực thì, tôi không biết điều ấy là đúng hay sai, nhưng tự tôi cứ tin như thế, rằng, trong suốt nhiều năm, qua nhiều cuộc tình, và qua cả muôn nỗi thăng trầm buồn vui của đời sống, ngày nào tôi cũng đọc truyện tranh. Sau đó, khi đưa ra đáp án, rằng không, tôi có bao giờ vẽ tranh đâu, đó là lời nói dối, còn hai điều kia mới là sự thật. Các bạn tôi sẽ tỏ vẻ ngạc nhiên đôi chút, rồi thuận mồm mà tiếp lời, người thì kể rằng lúc còn nhỏ tuổi thì họ có đọc truyện tranh, bây giờ lớn rồi lâu lắm họ không đọc, với những người này, tôi sẽ nói, à vậy thì mời bạn ôn lại một chút về những năm tháng mà chúng ta đã lớn lên, rồi gửi cho họ link bài Truyện tranh ở Việt Nam, ba mươi năm nhìn lại; người thì bắt đúng nhịp kể ro ro về sở thích truyện tranh của họ, với những người này, tôi sẽ nói, à vậy mời bạn làm chút lần mò về lịch sử cho vui, rồi gửi cho họ link bài Truyện tranh Việt Nam, trời còn để có hôm nay.
Nói chung, lần nào tôi phô diễn bản thân cũng trót lọt, bởi tôi thấy lượt view vẫn tăng tà tà, tức là người ta cũng có lòng mà bỏ thời gian ra đọc. Tôi lấy đó làm trân quý lắm. Nhưng, phàm ở đời, việc gì mà làm đi làm lại nhiều lần quá cũng chán. Thế là tôi phải vượt lười, ngồi xuống mà nghĩ đến bài viết thứ ba về truyện tranh (ở) Việt Nam. Lần này, chúng ta sẽ nói về những biến chuyển trong hình thái nghệ thuật truyện tranh Việt Nam kể từ 30/4/1975, dưới góc độ sáng tác và tiếp nhận. Gần nửa thế kỷ đã trôi qua, rất nhiều điều đã xảy ra và rất nhiều người đã đóng góp một phần công sức để tạo nên cả một lịch sử với những thăng trầm cho bộ môn nghệ thuật mà những tranh cãi, định kiến và tình yêu dành cho nó cuối cùng đã giúp chúng ta gặp được nhau ở đây, trong giây phút này.
(Để tiện cho việc theo dõi, một lần nữa, xin được giải thích và quy ước một số thuật ngữ.
Ngày nay, người ta sử dụng các từ phiên âm Latinh như manga, manhua, và manhwa đôi lúc gây nhầm lẫn cho người đọc. Về mặt chữ viết, đó đều là một từ có phiên âm Hán Việt là mạn hoạ; cách viết giản thể: 漫画; phồn thể: 漫畫. Mạn hoạ dịch ra tiếng Việt chính là truyện tranh, tức là khi nói “truyện tranh manga”, thực chất là nói sai. Trong lịch sử phát triển truyện tranh, có những nền truyện tranh đã đạt được những dấu ấn riêng biệt, vì vậy, người ta sử dụng chính danh từ “truyện tranh” trong ngôn ngữ nước ấy để chỉ các sản phẩm truyện tranh xuất xứ từ các nước này. Sau đây để ngắn gọn, sẽ quy ước như sau:
manga: truyện tranh Nhật Bản – mangaka: mạn hoạ gia, tác giả truyện tranh Nhật Bản
manhua: truyện tranh Hoa ngữ – manhuajia: mạn hoạ gia, tác giả truyện tranh Hoa ngữ
manhwa: truyện tranh Hàn Quốc – manhwaga: mạn hoạ gia, tác giả truyện tranh Hàn Quốc
comic: truyện tranh phương Tây nói chung
truyện tranh Việt Nam: truyện tranh Việt Nam)
*Lưu ý: trong khuôn khổ bài viết này, tôi lựa chọn tính thập niên theo cách quản lý đầu số, ví dụ như 90-91-92…-98-99 coi là một thập niên. Cách tính này không thể hiện quan điểm của tôi về việc một thập niên bắt đầu từ năm số 0 hay năm số 1. Mong bạn đọc thông cảm và không tranh cãi về vấn đề này. Các mốc thời gian đều là năm xuất bản lần đầu trong nước, số liệu theo nguồn lưu trữ của Thư viện quốc gia Việt Nam và các tài liệu mà người viết thu thập được.
I. Nội dung
Giai đoạn 1975-1986
Trở lại với bài viết Truyện tranh Việt Nam, trời còn để có hôm nay, sau những năm đầu chập chững trên cả nước và hai mươi năm phát triển sôi động ở cả hai mảng truyện tranh ngoại nhập và truyện tranh nội địa với những kết quả rõ rệt trên lãnh thổ miền Nam Việt Nam,
“Ngày 30/4/1975, Việt Nam Cộng Hoà (VNCH) sụp đổ, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam với những người cộng sản Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (VNDCCH) miền Bắc sau lưng chính thức lên nắm quyền. Tới ngày 2/7/1976 thì hai chính thể còn tồn tại ở Việt Nam hợp nhất thành nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bộ máy kiểm duyệt theo mô hình Liên Xô Stalinist vậy là đã từng bước từng bước được áp dụng mạnh tay trên toàn lãnh thổ. Phần nhiều các sản phẩm văn hoá trước 1975 của VNCH bị cấm và tiêu huỷ, trong số đó truyện tranh không phải ngoại lệ. Giống như ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa trước đây, nghệ thuật truyện tranh ở miền Nam xã hội chủ nghĩa cũng bị buộc phải nhường bước cho nghệ thuật tranh tuyên truyền cổ động với chủ đề chính là sống, lao động, học tập và chiến đấu nhằm xây dựng thành công mô hình xã hội cộng sản lý tưởng, bài trừ và tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa tư bản cùng lối sống cá nhân đã từng tồn tại ở Bắc Việt trước 1954 và Nam Việt trước 1975.”
Những năm cuối thập kỷ 1970 và đầu thập kỷ 1980, bàn tay sắt của bộ máy tuyên giáo trong việc kiểm soát gắt gao trên cả nước đã tạo ra định hướng trong sáng tác văn hoá nghệ thuật nói chung, và sáng tác truyện tranh nói riêng. Tất cả mọi thứ được đặt trong khuôn khổ. Việc tập trung vào phong cách nghệ thuật xã hội chủ nghĩa nhằm ưu tiên cho mục đích tuyên truyền, giáo dục hòng tạo ra thế hệ những con người mới xã hội chủ nghĩa đã khiến các sáng tác truyện tranh trong thời kỳ này, hướng tới đối tượng độc giả thiếu niên nhi đồng, trở nên đồng chất đồng màu.
Với đề tài trinh thám, ta sẽ có nội dung điều tra đấu tranh chống lại âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch trong và ngoài nước, ca ngợi sự thông minh tài ba của lực lượng vũ trang quân đội nhân dân và công an nhân dân anh hùng. Với đề tài khoa học viễn tưởng, ta sẽ có nội dung điều tra đấu tranh chống lại âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch trong và ngoài nước, ca ngợi sự thông minh tài ba của lực lượng vũ trang quân đội nhân dân và công an nhân dân anh hùng, trên nền các yếu tố khoa học viễn tưởng. Với đề tài đời sống thường nhật, ta sẽ có nội dung về lao động sản xuất, phấn đấu tu dưỡng đạo đức, đấu tranh chống tiêu cực và chủ nghĩa cá nhân, và cái kết viên mãn với nụ cười tươi rói nở trên môi các nhân vật, tất cả cùng hướng cái nhìn lạc quan đầy tin yêu vào hiện thực hạnh phúc và ngày mai tươi sáng. Với đề tài học đường, ta sẽ có nội dung về các em học sinh học tập luyện rèn, phấn đấu tu dưỡng đạo đức, đấu tranh chống tiêu cực và chủ nghĩa cá nhân dưới mái trường xã hội chủ nghĩa thân yêu, và cái kết viên mãn với nụ cười tươi rói nở trên môi các nhân vật, tất cả cùng hướng cái nhìn lạc quan đầy tin yêu vào hiện thực hạnh phúc và ngày mai tươi sáng. Với chủ đề lịch sử, ta sẽ có những câu chuyện về đồng bào chiến sĩ đã mưu trí, dũng cảm, kiên cường chống thực dân đế quốc, chống chủ nghĩa tư bản, đề cao tinh thần dân tộc, nhấn mạnh vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Với đề tài ký sự, ta sẽ có những câu chuyện về các tấm gương trên mọi lĩnh vực của đời sống, điểm chung của các tấm gương này là họ sẽ được mô tả bằng tất cả các tính từ tính cực mà con người có thể nghĩ ra.

(Một số báo Khăn Quàng Đỏ những năm 1982-1983)
Thời kì này, các sáng tác truyện tranh được đăng tải nhiều nhất trên loại hình báo, tạp chí dành cho lứa tuổi học sinh như các báo Nhi Đồng, báo Thiếu Niên Tiền Phong, báo Khăn Quàng Đỏ dưới dạng các truyện ngắn, hoặc truyện dài kỳ (nhưng nội dung tổng thể thì vẫn ngắn). Có thể kể đến như N’Trang Lơng do Phạm Việt viết lời, Trương Phú Hoa vẽ; Chớp Nhoáng do Nguyễn Tùng Chi viết, Đông Hải vẽ; Chiến Công Quân Báo Điện Biên do Giang Hà Vy viết, Đức Lâm vẽ; Gã Chột Mắt – Hắn Là Ai do Duy Quang viết, Đức Lâm vẽ v.v.. Các sản phẩm này luôn luôn phải đảm bảo tính răn đe, tính giáo dục, tính giai cấp và có lập trường rõ ràng. Sự cởi mở và phong phú đề tài đã từng hiện diện trong quá khứ trước đó, nay trở thành một cái gì xa xỉ. Công bằng mà nói, các chủ đề trên có sai không? Không sai. Sáng tác theo các hướng như trên có sai không? Không sai. Chẳng phải đến tận ngày nay người ta vẫn có những sản phẩm như vậy ở khắp nơi trên thế giới chứ chẳng riêng gì nước ta đấy sao? Vấn đề nằm ở chỗ, nghệ thuật, cũng như đời sống, cần có sự đa dạng ở nhiều khía cạnh. Nó như một cơ thể cần được nuôi dưỡng tưới tắm bằng nhiều loại chất dinh dưỡng để có thể lớn lên một cách lành mạnh. Chúng ta đang nhắc tới một môn nghệ thuật mà phần lớn những con người sinh hoạt trong đó đều nói cùng một giọng, sử dụng cùng một thủ pháp, nội dung xào qua xáo lại trong hàng năm trời mà không có gì mới mẻ được tạo ra, hay được chấp nhận tạo ra. Hết lớp tre này già đi lại tới lớp măng khác mọc lên mà phe ta lúc nào cũng cao ráo tuấn tú, ánh mắt sáng quắc, đường nét cơ thể rắn chắc, cơ cổ và cơ tay, cơ ngực lúc nào cũng căng phồng thể hiện nét đẹp cương trực của người lao động; còn kẻ phản diện thì luôn được tạo hình mặt mũi méo mó, cặp mắt lờ đờ uể oải hoặc mỏng dính ma mãnh, cơ thể hoặc béo phì bụng phệ, hoặc ẻo lả oằn tà là vằn, và thường giàu sụ. Nói là phần lớn, bởi bên cạnh xu hướng chủ đạo ấy, vẫn có những sản phẩm theo chủ đề dựa trên nội dung truyện cổ tích, truyện lịch sử, truyền miệng dân gian trong và ngoài nước. Nhánh này không đại điện cho cả giai đoạn bởi nó mang tính minh hoạ nhiều hơn là tính sáng tác. Tựu trung lại, tất cả không thể nằm ngoài “tính đường lối” đã được quán triệt sâu sắc trong mọi mặt của đời sống văn hoá. Chính vì thế, từ góc nhìn cá nhân của người viết, truyện tranh Việt Nam trong giai đoạn này không thực sự là truyện tranh. Ảnh hưởng hàng ngàn năm của Nho giáo với các đặc điểm giáo điều, bảo thủ vốn có truyền thống giáo dục con người về lòng trung thành với quốc gia, triều đại thông qua các câu chuyện về hình mẫu người quân tử nhân-lễ-nghĩa-trí-tín nặng tính anh hùng Á Đông; cộng thêm bối cảnh chính trị khi ấy, Việt Nam chính là mảnh đất màu mỡ để truyện tranh bị biến đổi, dẫn tới mang đầy đủ các yếu tố để được xếp vào một phần của dòng tranh tuyên truyền cổ động vốn đã trở thành một nét đặc trưng cho nghệ thuật xã hội chủ nghĩa nổi lên khắp thế giới theo “làn sóng đỏ” ở nửa sau thế kỷ XX.

(Một số báo Khăn Quàng Đỏ những năm 1982-1983)
Đơn cử như trong hai ảnh minh hoạ ở trên, hai truyện đều có chung chủ đề đấu tranh chống bọn phản cách mạng. Trong truyện Gã Chột Mắt – Hắn Là Ai kẻ phản diện là quân Pôn-Pốt ở Campuchia, còn trong truyện N’Trang Lơng kẻ phản diện là bè lũ thực dân Pháp ở Tây Nguyên. Các nhân vật chính, ở đây là quân đội nhân dân Việt Nam và đồng bào dân tộc M’Nông đều mưu trí, dũng cảm, cảnh giác, quyết liệt trước kẻ thù tham tàn ác độc nhưng ngu dốt. Chính nghĩa nhất định chiến thắng, cách mạng nhất định thắng. Hai câu chuyện, hai bối cảnh, hai thời kỳ khác nhau, nhưng nội dung và kết cấu thì đồng nhất.
Đọc đến đây, cảm thấy thật nặng nề và u ám. Đó là cảm giác ở thời điểm cuối năm 2021, khi chúng ta có một thị trường các văn hoá phẩm ngoại nhập đa dạng về chủng loại và chất lượng, và nhìn lại những gì từng xảy ra khi thế hệ cha mẹ chúng ta còn là những thanh thiếu niên ngây thơ, ngơ ngác và đói sách báo phim ảnh. Tất cả những gì họ có là những thứ cứ na ná như nhau. Cộng với tình hình kinh tế thời bao cấp, thời mà “ai cũng nhớ nhưng không ai muốn quay lại,” đã dẫn tới kết quả là đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam, tháng 12 năm 1986, bắt đầu thời kỳ Đổi Mới và Cởi Mở.
———-
(Bản đầy đủ có chỉnh sửa sẽ được trở lại với bạn đọc trong thời gian sớm nhất. Xin chân thành cảm ơn).
———-
Bài số 1: Truyện tranh ở Việt Nam, ba mươi năm nhìn lại
Bài số 2: Truyện tranh Việt Nam, trời còn để có hôm nay
———-
ChuKim – 2021
ChuKim là bút danh của một người viết tự do, sống và yêu tại một ngôi làng mang tên thành phố. Trong khả năng của mình, mong bạn chia sẻ những bài viết của anh, như một sự khích lệ. Nếu có thể tài trợ/ủng hộ bằng vật chất, vui lòng ấn vào đây. Xin cảm ơn.
– natchukim@cogaihu.com –
Tái bút: Tất cả nội dung trong blog này đều được tuyên bố quyền sở hữu và quyền tác giả về nội dung, ngoại trừ những bài sưu tầm có đề rõ. Mọi trích dẫn, đăng lại, vui lòng ghi rõ nguồn.
